ĐẶT VẤN ĐỀ
Cùng với sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, trong đó có các dịch vụ y
tế, mô hình sức khỏe, bệnh tật của nhân dân cũng đã có những thay đổi theo
thời gian. Sự tiến bộ không ngừng của khoa học, kỹ thuật đã tạo cơ hội cho y
học ngày càng phát triển. Trên thực tế các tiến bộ khoa học kỹ thuật đã được
ứng dụng vào nhiều lĩnh vực của y học và y tế. Nhờ những đổi mới của nền
kinh tế, xã hội, chính sách của Đảng, Nhà nước và sự quan tâm của toàn xã
hội, trong những năm gần đây việc chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân Lào đã
có những cải thiện rõ rệt trên phạm vi toàn quốc [1], [2], [3].
Qua hơn 10 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Lào đã và đang đạt được
nhiều thành tựu to lớn trên mọi mặt kinh tế, văn hóa, xã hội trong đó có y tế.
Đời sống của người dân đang dần được cải thiện và mức sống từng bước nâng
cao. Trong thời kỳ này, ngành y tế Lào đã có những bước chuyển biến quan
trọng. Mặc dù phải đứng trước những thử thách to lớn, nhất là khi chuyển
sang nền kinh tế thị trường, nhưng ngành y tế đã từng bước phát triển với cơ
chế mới, nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân.
Tuy nhiên, so với nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng cao, các cơ sở y tế
của Lào hiện nay vẫn đứng trước các thử thách cần được cải tiến, nâng cấp
nhiều mặt, đặc biệt là chất lượng khám chữa bệnh rất cần được nâng cao.
Chăm Pa sắc là một tỉnh ở Nam Lào, tỉnh có đường biên giới với Căm
Pu chia và Thái Lan. Kinh tế xã hội của Chăm Pa sắc có tốc độ phát triển
nhanh trong những năm gần đây. Tình hình sức khỏe, bệnh tật của nhân dân
tỉnh Chăm Pa Sắc cũng có những thay đổi đáng kể. Nhu cầu của người dân về
chăm sóc sức khoẻ tăng lên, đòi hỏi hoạt động chăm sóc sức khỏe nói chung
và khám chữa bệnh của các bệnh viện nói riêng tại tỉnh Chăm Pa Sắc cần
được quan tâm, đổi mới để đáp ứng nhu cầu thực tế.
1
Đến nay cũng đã có một số báo cáo và nghiên cứu về hoạt động khám
chữa bệnh tại một số khu vực của Lào, tuy nhiên vẫn chưa có một nghiên cứu
nào phân tích một cách chi tiết về thực trạng hoạt động khám chữa bệnh ở
bệnh viện tỉnh Chăm Pa Sắc và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng
được săn sóc toàn diện về y tế cả chữa bệnh và phòng bệnh. Công tác ngoại
trú của bệnh viện toả tới tận gia đình đặt trong môi trường của nó. Bệnh viện
còn là trung tâm giảng dạy y học và nghiên cứu sinh học xã hội [4].
Bệnh viện đóng một vai trò quan trọng trong công tác khám, chữa bệnh
cho nhân dân vì bệnh viện có thày thuốc giỏi lâm sàng, có trang thiết bị, máy
móc hiện đại nên có thể thực hiện được công tác khám bệnh, chẩn đoán và
điều trị tốt nhất. Bệnh viện không chỉ đơn thuần làm công tác khám chữa
bệnh mà còn thực hiện các chức năng khác trong chăm sóc và bảo vệ sức
khoẻ nhân dân như giáo dục sức khoẻ, phòng chống dịch bệnh, chăm sóc sức
khoẻ tại nhà, đồng thời còn là trung tâm đào tạo cán bộ y tế và tiến hành các
nghiên cứu y học, y tế, về các hoạt động khám chữa bệnh và phòng bệnh.
1.1.2. Những bộ phận tổ chức chính của bệnh viện đa khoa
- Bộ phận hành chính lãnh đạo gồm: Ban giám đốc và các phòng quản
lý chức năng như phòng Tổ chức cán bộ, phòng Kế hoạch tổng hợp, phòng
Hành chính quản trị, phòng Tài chính kế toán, Y tá trưởng bệnh viện.
- Bộ phận chuyên môn gồm có các khoa lâm sàng và cận lâm sàng. Tùy
theo quy mô của mỗi bệnh viện mà các khoa lâm sàng và cận lâm sàng được
tổ chức để đáp ứng yêu cầu khám, chữa bệnh.
3
- Bộ phận phục vụ gồm: các kho, bộ phận sửa chữa, bảo vệ, nhà giặt…
Các bộ phận này có thể nằm trong phòng vật tư trang thiết bị y tế.
- Biên chế cán bộ và số giường bệnh của bệnh viện do Bộ y tế, Uỷ ban
kế hoạch Nhà nước, Uỷ ban nhân dân các cấp, các bộ, các ngành liên quan ấn
định và căn cứ vào:
+ Nhiệm vụ của bệnh viện.
+ Dân số trong khu vực phụ trách của bệnh viện.
+ Tình hình bệnh tật ở địa phương.
+ Khả năng điều trị ở các cơ sở tuyến trước.
- Các khoa của bệnh viện được tổ chức căn cứ vào:
+ Nhiệm vụ và số giường của bệnh viện.
- Quản lý kế hoạch: thu thập thông tin bệnh viện phục vụ lập kế hoạch
chung của bệnh viện, lập kế hoạch khám, chữa bệnh và các hoạt động bệnh
viện khả thi, thực hiện kế hoạch, đánh giá việc thực hiện kế hoạch.
- Quản lý nhân lực và chuyên môn: xây dựng và thực hiện quy hoạch
tuyển cán bộ, phân công nhiệm vụ, đề bạt, đào tạo và thực hiện chính sách
cán bộ. Quản lý thực hiện tốt các chế độ và nguyên tắc, quy định chuyên môn
trong công tác bệnh viện.
- Quản lý tài chính: Đảm bảo hệ thống quản lý, theo dõi các nguồn thu,
chi rõ ràng, sử dụng hợp lý và hiệu quả tất cả các nguồn tài chính của bệnh
viện để thực hiện các nhiệm vụ của bệnh viện.
- Quản lý hệ thống thông tin báo cáo: Đảm bảo cung cấp đầy đủ, kịp
thời, chính xác các thông tin theo yêu cầu chung và các yêu cầu thông tin cho
quản lý bệnh viện. Cần ứng dụng công nghệ thông tin trong trong công tác
quản lý, thống kê, báo cáo của bệnh viện.
5
- Quản lý cơ sở vật chất - trang thiết bị - thuốc: lập kế hoạch, dự trù,
mua sắm trang thiết bị thuốc men theo quy định. Thường xuyên theo dõi, bảo
dưỡng, thay thế các loại máy máy móc, trang thiết bị để đáp ứng nhu cầu
khám, chữa bệnh và đảm bảo thực hiện mọi nhiệm vụ bệnh viện.
1.2. Tổng quan về công tác lập kế hoạch khám chữa bệnh
1.2.1. Khái niệm về lập kế hoạch
Lập kế hoạch là một trong các chức năng cơ bản của quản lý và thường
luôn được thực hiện trước các chức năng quản lý khác. Trình độ quản lý được
thể hiện trong lập và thực hiện kế hoạch. Trong một bệnh viện, lập kế hoạch
là lựa chọn một trong những phương án hành động trong một giai đoạn thời
gian nhất định của bệnh viện. Lập kế hoạch khám chữa bệnh là lựa chọn một
trong những phương án thực hiện các hoạt động khám, chữa bệnh cho bệnh
nhân đến bệnh viện trong một giai đoạn thời gian cụ thể [5].
Lập kế hoạch là dựa trên các cơ sở thông tin, thực tế, nguồn lực để các
nhà quản lý xác định được những việc cần làm và làm việc đó bằng cách nào,
tu bảo dưỡng máy móc…
* Phân loại kế hoạch theo cách lập kế hoạch:
- Lập kế hoạch theo chỉ tiêu: đó là cách lập kế hoạch từ trên đưa xuống,
nghĩa là cấp trên đưa chỉ tiêu thực hiện kế hoạch cho cho cấp dưới và cấp
dưới lấy đó là mục tiêu xây dựng kế hoạch của mình. Cách làm kế hoạch này,
cấp dưới thường bị động thực hiện và có mổ số trường hợp chỉ tiêu cấp trên
đưa xuống có thể không phù hợp với thực tế của tuyến dưới.
- Lập kế hoạch từ dưới lên: còn được gọi là lập kế hoạch theo định
hướng vấn đề hay lập kế hoạch theo nhu cầu. Lập kế hoạch từ dưới lên ngược
7
với kiểu lập kế hoạch theo chỉ tiêu trên giao. Cấp dưới (hay tuyến dưới) lập kế
hoạch trước, cấp trên (hay tuyến trên) lập kế hoạch tổng hợp sau và căn cứ
vào các kế hoạch của cấp dưới (tuyến dưới) để xây dựng kế hoạch của mình
và phê chuẩn kế hoạch của tuyến dưới [5], [7].
Phương pháp lập kế hoạch từ dưới lên có rất nhiều ưu điểm. Trước hết
nó gắn chặt với trách nhiệm của cấp dưới (tuyến dưới) vào việc lập kế hoạch
và thực hiện kế hoạch. Cấp dưới luôn chủ động trong soạn thảo và thực hiện
kế hoạch và đặc biệt là kế hoạch rất sát thực với điều kiện thực tế của cấp
dưới, tuyến dưới. Với phương pháp này bản kế hoạch của các cấp từ dưới cơ
sở tới trung ương luôn đảm bảo tốt về nhiều phương diện, đặc biệt là đáp ứng
được nhu cầu giải quyết các vấn đề ưu tiên phù hợp với địa phương.
1.2.3. Nội dung chính của bản kế hoạch
* Phân tích đánh giá tình hình y tế đại phương:
Để biết được tình hình y tế và các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động y tế
cần phân tích, đánh giá:
- Các chỉ số kinh tế xã hội: đặc biệt các chỉ số về mật độ dân số, đặc
điểm kinh tế, xã hội, môi trường, nghề nghiệp. Các chỉ số này liên quan mật
thiết tới sức khoẻ, tới nhu cầu chăm sóc sức khoẻ của người dân. Đồng thời
nó cũng liên quan đến nguyên nhân, yếu tố thuận lợi của các bệnh tật.
Điều kiện kinh tế, xã hội kém sẽ là nguyên nhân, yếu tố thuận lợi cho các
YLD (Years of Life with Disability): Số năm sống chung với bệnh tật.
YLL (Years of Life Lost): Số năm sống tiềm tàng bị mất đi.
9
DALY biểu thị số năm của cuộc sống bị mất đi do người bệnh bị tö
vong (TV) và cả số năm sống trong tàn tật. Nếu không tính khấu hao tuổi và
hệ số tỷ trọng tuổi, DALY có thể tính theo công thức:
DALY= YLD + YLL
+ Phân loại bệnh tật: Các số liệu về mô hình bệnh tật, phân loại bệnh
tật là các loại thông tin rất cần thiết cho xây dựng kế hoạch cho các hoạt động
y tế nói chung và các hoạt động của bệnh viện nói riêng.
Phân loại bệnh tật theo xu hướng bệnh tật: Theo xu hướng bệnh tật
mô hình bệnh tật được chia thành 3 nhóm chính [8], [9]:
- Bệnh lây nhiễm.
- Bệnh không lây.
- Tai nạn, ngộ độc, chấn thương.
Cách phân loại này khá đơn giản, nó cho chúng ta có cái nhìn bao quát
tổng thể về bệnh tật của từng vùng, miền hoặc của cả nước. Cách phân loại
này giúp chúng ta có thể dự báo xu hướng bệnh tật trong tương lai, từ đó
hoạch định chính sách ở tầm vĩ mô và từ đó có các kế hoạch tổng thể để
phòng chống các nhóm bệnh tật chủ yếu phù hợp với những xu hướng của các
nhóm bệnh này.
Ở Lào, trong tiến trình phát triển kinh tế, xã hội và hội nhập quốc tế,
mô hình bệnh tật đang từng bước có các thay đổi, khuynh hướng tiến tới gần
giống với mô hình bệnh tật của các nước phát triển. Bệnh lây năm 1976 chiếm
50,2% số mắc và 40,4 % số chết thì đến năm 2003 chỉ chiếm 20,6% số mắc
và 13,2% số chết. Ngược lại bệnh không lây tăng lên từ 31,53% số mắc và
34,17% số chết năm 1976 lên đến 53,46% số mắc và 53,23% số chết năm
2003. Nhóm bệnh tai nạn, ngộ độc, chấn thương tăng lên từ 3,52% tỷ lệ mắc
và 4,15% số chết năm 1976 lên đến 13,49% số mắc và 27,82% số chết năm
2003 [1], [10], [11].
của nó.
Đặc điểm nổi bật của phân loại theo ICD là phân loại theo từng
chương bệnh, trong mỗi chương lại chia ra từng nhóm bệnh. Từ mỗi nhóm
bệnh chia nhỏ thành bệnh và cuối cùng là các bệnh chi tiết theo nguyên nhân
hay tính chất đặc thù của bệnh. Như vậy một bệnh theo ICD được mã hoá bởi
3 ký tự chính và ký tự thứ 4 mã hoá bệnh chi tiết (không bắt buộc nếu không
đủ điều kiện).
Với Lào và một số nước đang phát triển, WHO chỉ yêu cầu mã hoá đến
tên bệnh (3 ký tự), các chuyên khoa sâu có thể vận dụng hệ thống mã hoá 4
ký tự để phân loại chi tiết hơn, phù hợp với từng chuyên khoa.
Phân loại theo ICD giúp người quản lý dễ dàng có thể so sánh, đánh giá
mô hình bệnh tật giữa các quốc gia, các vùng miền, các BV, từ đó đưa ra các
hoạch định chính sách, kế hoạch cũng như có sự đầu tư sát hợp hơn, đồng thời
quyết định các chương trình hành động thiết thực nhằm cải thiện tình trạng
của từng bệnh lý cụ thể, nhất là khi kinh phí chi cho ngành y tế còn eo hẹp,
chưa đáp ứng được nhu cầu thực tiễn.
Đây là cách phân loại khá chi tiết, đòi hỏi người làm công tác thống kê
phải có trình độ nhất định để tránh nhầm lẫn cũng như đòi hỏi các bác sĩ làm
công tác tổng hợp phải đào tạo, tập huấn cho những người trực tiếp mã hoá
bệnh và cũng cần nâng cao trình độ cho bác sĩ lâm sàng.
12
+ Tình hình nghiên cứu mô hình bệnh tật
Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Ở Brunei, một trong những nước có thu nhập bình quân đầu người cao
nhất thế giới và đầu tư cho y tế lớn nhất thế giới, trong mười bệnh hàng đầu
hay gặp, chỉ có một bệnh nhiễm khuẩn là nhiễm khuẩn đường hô hấp, còn lại
chủ yếu là bệnh tim mạch, đái đường, hen (những bệnh không lây) [16].
Ngược lại ở Cam Pu Chia, một đất nước còn nghèo, các bệnh thường
gặp lại là sốt rét, lao, tiêu chảy cấp, sốt xuất huyết, nhiễm khuẩn hô hấp cấp
là các bệnh lây truyền phổ biến ở các nước đang phát triển. Rõ ràng là các
bệnh tật. Đi đầu trong nghiên cứu này là nước Hoa Kỳ, Australia, Canada [16].
Tình hình nghiên cứu mô hình bệnh tật tại Lào.
Các nghiên cứu có tính hệ thống về mô hình bệnh tật của Lào hiện nay
chưa có. Tuy nhiên, hệ thống báo cáo, thống kê về tình hình bệnh tật đã được
thiết lập từ lâu, công tác báo cáo, thống kê về tình hình bệnh tật được chấn
chỉnh cũng ngày một tốt hơn.
Dựa vào các báo cáo thống kê tình hình bệnh tật ở các bệnh viện và số
liệu thống kê của ngành Y tế, cho thấy, trong 15 năm qua cơ cấu bệnh tật của
nước Lào đã thay đổi, các bệnh truyền nhiễm đã giảm, tỷ lệ mắc các bệnh cao
huyết áp nói riêng, tim mạch nói chung và các bệnh ung thư tăng, tỷ lệ TV
của các bệnh này cũng tăng lên đáng kể.
Ở Lào, trước năm 1976 các bệnh truyền nhiễm chiếm 50 - 56% các
trường hợp mắc bệnh và tử vong. Tới năm 1997 tỷ lệ mắc bệnh truyền nhiễm
đã hạ thấp xuống 27%. Tuy nhiên nhiều bệnh tật mới như tai nạn, chấn
14
thương, ngộ độc, bệnh ung thư, bệnh tim mạch lại gia tăng. Tỷ lệ tử vong do
những nguyên nhân trên từ 2% năm 1976 lên 22% trong năm 1997 [10].
Tỷ lệ chấn thương đặc biệt cao ở bệnh viện tỉnh Chăm Pa Sắc. Năm 2010
số bệnh nhân chấn thương chiếm đến 42,90%, năm 2012 tỷ lệ chấn thương cũng
chiếm 31,10%. Mặc dù các bệnh lây truyền vẫn còn chiếm tỷ lệ cao nhưng tỷ lệ
bệnh lây cũng đã dần giảm xuống và các bệnh không lây dần tăng lên, năm 2009
tỷ lệ bệnh không lây là 26,63%, năm 2012 tỷ lệ này là 27,14%.
Theo sở y tế tỉnh Chăm Pa sắc, gánh nặng bệnh tật hàng đầu ở tỉnh
Chăm Pa sắc là tai nạn, bệnh nhiễm trùng, bệnh chu sinh. Trong các loại
hình tai nạn, đuối nước (ngã sông) là gặp nhiều nhất, các khu vực khác tai
nạn giao thông đứng hàng đầu [23].
Thực tế trên đã chỉ ra rằng về cơ bản mô hình bệnh tật của nước Lào
vẫn là mô hình bệnh tật của một nước đang phát triển.
- Tình hình nguồn lực y tế: con người, tài chính, trang thiết bị.
+ Nguồn nhân lực
được các kỹ thuật cao.
Tại BV tỉnh Chăm Pa Sắc Lào, từ những năm 1990 trở lại đây, TTBYT
được mua sắm mới chiếm khoảng 18% yêu cầu. Đặc biệt năm 1994, kinh phí
được cấp gần 5 tỷ kip để năng cấp TTBYT.
Những năm gần đây, sau Hội nghị Trung ương Đảng Nhân dân cách
mạng Lào (2001), Đại hội lần thứ VII tại thủ đô Viêng Chăn, kinh phí về
TTBYT trong chương trình chống xuống cấp bệnh viện được quan tâm hơn.
Cùng với các nguồn viện trợ, BHYT, thu viện phí, kinh phí địa phương đóng
góp cho mua sắm mới nên các TTBYT tại các BV tỉnh đã được cải thiện từng
bước. Hiện nay, các BV tỉnh đều có máy chụp X-quang, điện tim, các máy xét
16
nghiệm thông thường và tới 90% BV có máy siêu âm. Những năm gần đây
máy chạy thận nhân tạo, máy nội soi và nhiều máy móc hiện đại dần được
trang bị cho bệnh viện, đã góp phần nâng cao chất lượng khám chữa bệnh.
Với sự đầu tư này của Nhà nước, chất lượng các hoạt động khám chữa
bệnh đã được cải tiến. Tuy nhiên, so với nhu cầu, TTBYT còn cần được đầu
tư hơn nữa. Đồng thời việc đào tạo cho các cán bộ sử dụng các TTBYT này
cũng cần được chú ý, có như vậy mới góp phần nâng cao chất lượng hoạt
động bệnh viện.
+ Số liệu về nguồn lực tài chính
Các số liệu về nguồn lực tài chính cho biết kinh phí cho hoạt động y tế
từ nhiều nguồn khác nhau, trong đó ngân sách nhà nước cấp vẫn đóng vai trò
quan trọng nhất.
Trên thế giới có 3 hình thức phân bổ ngân sách:
- Theo định mức: dựa theo định mức/người, giường bệnh
- Theo dự toán được duyệt: dựa trên kinh phí quyết toán năm trước
cộng với chi phí hoạt động mới, song song với việc phân bổ ngân sách theo
dự án, chương trình mục tiêu.
- Theo chương trình thỏa thuận.
Tại Lào hình thức thứ nhất được áp dụng chủ yếu hiện nay.
BHYT, nhiều cơ sở KCB tuyến tỉnh đã có điều kiện được củng cố và phát
triển sau một thời gian dài thiếu kinh phí hoạt động [25], [26], [27].
Quan trọng nhất là với nguồn tài chính có hạn, làm thế nào để đảm bảo
mọi hoạt động y tế được tiến hành tốt, đặc biệt là những hoạt động cấp bách
và quan trọng, đảm bảo sức khỏe của nhân dân trong tỉnh không ngừng được
cải thiện. Cân đối giữa giải quyết các hoạt động trước mắt và những đầu tư
mang tính phát triển bền vững, lâu dài.
18
Năm 1986, sau khi có chính sách đổi mới của Đảng Nhân Dân Cách
Mạng Lào, chuyển từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường có
sự quản lý của Nhà nước, mạng lưới dịch vụ y tế (DVYT) ngày càng phát
triển, đội ngũ cán bộ y tế Nhà nước tăng dần, phần ngân sách Nhà nước chi
cho ngành y tế chỉ đủ để chi cho lương cán bộ, phụ cấp cho hành chính, phần
chi cho nghiệp vụ và bệnh nhân ngày càng thấp [26], [28].
Trước tình hình trên, các bệnh viện bắt đầu cho bệnh nhân tự lo phần lớn
thuốc trong điều trị, hoặc có thu một phần nhỏ viện phí để góp phần duy trì
hoạt động của bệnh viện, hoặc có sự đóng góp vốn của cán bộ trong bệnh viện
để tổ chức kinh doanh thuốc trong bệnh viện, hoặc dùng ngân sách Nhà nước
góp phần mua thuốc làm vốn quay vòng thuốc trong bệnh viện.
Để đáp ứng được nhu cầu thực tế, Đảng và Nhà nước Lào phải tăng
cường xã hội hoá trong công tác khám chữa bệnh. Hàng loạt các văn bản liên
quan đến vấn đề này đã ra đời.
Quyết định số 1036/BYT của Bộ Y tế về việc cho phép tư nhân hoạt
động bán thuốc chữa bệnh được ban hành ngày 28/8/1988.
Năm 1995, chính sách khám chữa bệnh có thu một phần viện phí ở các
bệnh viện công với từng đối tượng đã được thông qua Quốc hội và giao cho
các bộ, các cấp có liên quan nhanh chóng triển khai.
Quyết định số 52/CP ngày 26/6/1995 của Thủ tướng Chính phủ về việc
thu một phần viện phí và miễn phí là chính sách viện phí đầu tiên của
CHDCND Lào.
bệnh viện Tỉnh Chăm Pa Sắc từ năm 1995 đến năm 2009 được thể hiện ở
bảng sau:
20
Bảng 1.2. Tiền viện phí 4 năm bệnh viện tỉnh Chăm Pa Sắc [11], [29], [91]*.
Số
Nội dung
Nguồn thu theo năm của BV Chăm Pa Sắc (Tiền Lào: kip)
1995 2000 2005 2009
1 Chụp X- quang 8.543.500 81.263.000 116.180.000 279.136.000
2 Xét nghiệm 10.094.000 135.225.000 573.471.500 1.109.195.000
3 Mua oxygene 5.868.000 24.619.500 77.187.000 196.972.000
4 Máy siêu âm 0 51.248.000 156.334.000 213.947.000
5 CT scanner 0 0 202.650.000 346.723.000
6 Điện tim 1.403.500 19.821.000 30.930.000 50.810.000
7
Thuốc và
TTBYT
103.819.500 683.527.000 3.527.711.500 6.016.964.500
8 Giấy tờ tài liệu 5.303.000 97.818.500 139.447.000 165.575.000
9 Phòng nằm BV 1.228.500 73.904.000 390.865.000 486.750.000
10 Đỡ đẻ 1.984.500 7.048.000 9.146.000 8.510.000
11 Chuyên môn 615.500 14.018.500 23.632.500 79.450.000
12 Châm cứu 165.000 759.000 1.150.000 894.000
13 Nhãn khoa 935.000 8.359.000 13.804.000 16.569.000
14
Chấn thương
chỉnh hình
615.000 3.693.500 5.355.000 7.460.000
15 Lọc thận 22.550.000
16 Kính thuốc 221.500 687.500 1.460.000 1.482.000
phụ thuộc nhiều vào hoạt động bệnh viện và các cơ sở khám chữa bệnh, tình
hình bệnh tật, sự phân bố tuổi và giới, cũng như gánh nặng bệnh tật nói
chung. Số lần tới cơ sở y tế là từ 3 - 4 lần/năm/1 người dân được coi là đảm
bảo đủ cho công tác CSSK cơ bản [30]. Các chỉ số về số lần khám, chữa bệnh
trung bình trên đầu người dân phần nào cũng phản ảnh được các hoạt động
khám chữa bệnh của các bệnh viện trong khu vực bệnh viện phụ trách.
1.3.3. Tiêu chuẩn đánh giá công tác chuyên môn tại bệnh viện tỉnh
Theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế Lào [31], đánh giá chất lượng quản lý
chuyên môn phải dựa vào các tiêu chuẩn sau:
- Tỷ lệ sử dụng giường bệnh: Theo quy định của Bộ Y tế thì tỷ lệ này ở
BV tỉnh phải đạt là trên 80%.
22
- Ngày điều trị trung bình: Theo quy định của Bộ Y tế Lào: số ngày
điều trị trung bình ở BV tỉnh cho mỗi bệnh nhân là 10 ngày.
- Tỷ lệ CBYT/giường bệnh của các bệnh viện tuyến tỉnh là: 1 cán
bộ/giường bệnh.
- Đủ trang thiết bị y tế theo tiêu chuẩn. Tiêu chuẩn này, bộ Y tế Lào có
danh mục quy định trang thiết bị y tế cho các BV tuyến tỉnh.
- Đội ngũ chuyên môn kỹ thuật có học hàm học vị, tay nghề giỏi theo
quy định của Bộ Y tế Lào. Về đội ngũ cán bộ, bộ Y tế Lào có quy định cụ thể,
số lượng và trình độ chuyên môn cho từng loại cán bộ y tế và cán bộ khác ở
bệnh viện tuyến tỉnh.
1.4. Thống kê trong bệnh viện và quản lý thông tin tại bệnh viện
1.4.1. Khái quát về hoạt động thống kê trong bệnh viện
Công tác thống kê, báo cáo của bệnh viện cung cấp các thông tin về
toàn bộ các hoạt động của bệnh viện từ nguồn nhân lực, số người đến khám,
chữa bệnh, tình hình bệnh nhân ra vào viện, mô hình bệnh tật của bệnh nhân
tại khu vực bệnh viện quản lý, các hoạt động cận lâm sàng, hoạt động tài
chính trong bệnh viện, trang thiết bị của bệnh viện trong đó thông tin về mô
hình bệnh tật có một vai trò rất quan trọng trong các thông tin ở bệnh viện để
quyết định. Với những người quản lý bệnh viện, việc đưa ra các quyết định
đúng đắn kịp thời là rất quan trọng. Người quản lý có thể đưa ra quyết định
dựa trên sự hiểu biết qua trực giác, cảm tính; có quyết định dựa trên kinh
nghiệm trong quá khứ; một số quyết định dựa trên thông tin thống kê hiện có.
Trong đó loại quyết định dựa trên thông tin thống kê thường là quan trọng
nhất, vì sát với tình hình thực tế, nên giúp cho những người quản lý đưa ra
quyết định đúng, tránh mắc sai lầm [32], [33], [34].
24
Thống kê bệnh viện giúp các nhà quản lý xác định được các nhu cầu
khám chữa bệnh của bệnh viện nói chung và từng chuyên ngành nói riêng, từ
đó điều phối các hoạt động cho phù hợp với các nguồn lực có hạn. Thống kê
cuãng phát hiện khó khăn, giải quyết kịp thời những khâu còn hạn chế, từ đó
giúp sử dụng nguồn lực đạt hiệu quả cao hơn.
Có thể nói thông tin bệnh viện gắn liền với quá trình quản lý bệnh viện.
Do yêu cầu đòi hỏi của quản lý, điều hành bệnh viện nên những người lãnh
đạo bệnh viện phải nắm được thông tin một cách cụ thể, chính xác, đầy đủ,
liên tục và kịp thời [35], [36], [37], [38].
Các thông tin cần thiết cho quá trình quản lý bệnh viện gồm:
- Tình hình cán bộ, công chức viên chức.
- Hoạt động khám chữa bệnh.
- Hoạt động điều trị.
- Hoạt động phẫu thuật và thủ thuật.
- Hoạt động cận lâm sàng.
- Công tác dược bệnh viện.
- Trang thiết bị.
- Hoạt động chỉ đạo tuyến và hoạt động nghiên cứu khoa học.
- Hoạt động tài chính tổng hợp.
- Hoạt động tài chính chi tiết: thu chi, viện phí, bảo hiểm, các khoản
không thu tiền được.
- Tình hình bệnh tật cụ thể của bệnh nhân đến khám, chữa bệnh và tử