Báo cáo nghiên cứu khoa học: " ĐỌC LẠI HAI BÀI CA DAO DƯỚI GÓC NHÌN NGỮ DỤNG HỌC" - Pdf 19

TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(34).2009

115
ĐỌC LẠI HAI BÀI CA DAO DƯỚI GÓC NHÌN NGỮ DỤNG HỌC
RE-READING TWO FOLK VERSES IN PRAGMATIC PERSPECTIVE

Bùi Trọng Ngoãn
Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng

TÓM TẮT
Bài viết dưới đây là cách tiếp cận mới đối với một đối tượng cũ. Chúng tôi đã vận dụng,
ở mức độ có thể, các lí thuyết ngữ dụng học để khám phá về ngôn từ văn bản, tính chất hội
thoại, nội dung hình tượng và tâm tình của các nhân vật giao tiếp trong hai bài ca dao. Người
viết đã phân tích, xác định lại ý nghĩa của các đơn vị ngôn ngữ và nội dung của hai bài ca dao.
Trong đó, người viết đã chứng minh rằng bài thứ nhất không phải là sự thể hiện của một cuộc
tỏ tình theo cách hiểu thông thường mà là lời kể về một cuộc cầu hôn, bài thứ hai là lời phân
trần của một đôi trai gái sau khi không lấy được nhau.

ABSTRACT
The paper presents a new approach to a familiar object. The pragmatic theories have
been resorted as much as possible to discover the language used in the text, the conversational
features, the characters’ images and feelings in the two folk verses. The author has analyzed
and re-determined the meaning of the linguistic units and the content of the two folk verses. The
writer has proved that the first folk verse is not the declaration of love expressed in the common
way of understanding but words of a proposal, and the second one is the apologetical
explanation of a couple after being unable to be married to each other.

1.
“Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng …” và “Trèo lên cây bưởi hái hoa…” là hai bài
ca dao tình yêu, bài đầu kể về một cuộc đính ước, bài sau là lời tâm tình khi không
đến được với nhau. Tất nhiên chúng không phải là hai phần tiếp nối của một câu

cuộc hẹn hò, gặp gỡ, từ những đêm trăng mờ, trăng tỏ… Lời yêu, lời thương dù chân
thành và sâu sắc đến mấy vẫn là lời khó nói, vẫn phải chờ đợi điều kiện chín muồi. Điều
kiện đó đã tới: hoàn cảnh thuận lợi (đêm trăng thanh), tình yêu đang độ trẻ trung (tre
non đủ lá). Ngoài khung cảnh nên thơ thanh tịnh tương ứng với chuyện tình yêu trong
trẻo, ở đây còn có một nhân vật thứ ba là trăng. Với người Việt, khi nói chuyện trọng
đại bao giờ cũng phải “ba mặt một lời”, “nói có ngọn đèn” hay “hai vầng nhật nguyệt”
chói lòa soi tỏ. Đêm tỏ tình, nhân vật linh thiêng thực thi quyền năng chứng giám ấy là
trăng.
Ngược lại, đã viện đến nhân vật tối thượng kia thì đây phải là chuyện đại sự của
đời người. Vậy mà chàng trai đã dùng lối nói ẩn dụ kín đáo lắm: “Tre non đủ lá đan
sàng được chăng” Các nhà ngữ pháp gọi câu thơ này là câu hỏi lựa chọn và hai tiếng
được chăng cuối câu đã thông báo nhường quyền quyết định cho người đối thoại, được
hay không được là ở người ấy! Như thế đây không phải là lời tỏ tình mà là lời cầu hôn.
Hơn nữa, đan sàng là sự kết nối các thanh, mảnh đơn lẻ thành một vật phẩm mới, khác
gì chuyện hôn nhân kết ước giữa đời!
Nhưng phải là “tre non đủ lá” chứ không thể là măng tơ non nớt, bồng bột, vội
vàng. Cũng không thể là tre già, quá muộn màng, đã qua hết tuổi xuân thì, xuân sắc.
Song song với lời cầu hôn, câu nói còn hé lộ thông tin về chàng trai: tha thiết với
làng quê từ trong sâu thẳm tâm thức và sự gắn bó với tự nhiên kia đã chuyển hóa vào lời
bằng những chi tiết, hình ảnh của đời sống thôn dã, thuần hậu. Về hình thức, cách nói
có vẻ bóng gió xa xôi nhưng nội dung thì rất cụ thể xác thực. Chất phác mà không thô
kệch, tình thực mà không sỗ sàng.
Chàng trai đã không chọn nhầm. Cô gái trong bài ca dao vừa khôn ngoan lại vừa
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(34).2009

117
tế nhị. Nhận lời ngay đấy nhưng vẫn khéo léo giữ gìn thể diện. Không đến mức phá vỡ
mọi khuôn phép ràng buộc theo kiểu “Ước gì sông rộng một gang – Bắc cầu dải yếm
cho chàng sang chơi” nhưng vẫn rất chủ động. Cô gái nhắc lại một phần câu hỏi “Đan
sàng (em cũng xin vâng)” phải chăng là để: (a) Khẳng định với người đối thoại rằng

chồng” với phó từ “đã” đặt ở phía trước tiêu điểm “có chồng”. Vế thứ 2 là hệ quả, hệ
lụy của vế thứ nhất. “Tiếc lắm” đã là mức độ cao, đến “tiếc lắm thay” thì đã là mức độ
tột cùng.
Suy cho cùng, cả hai vế đều nói về “anh”. “Em đã có chồng” là cái lỡ làng của
tình anh, là cái thiệt thòi của đời anh và “anh tiếc lắm thay” là nỗi lưu luyến vấn vương
của anh. Vì sao, vì ai mà có nỗi lòng ấy? Ta hãy nghe chàng trai thổ lộ:
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(34).2009

118
“Trèo lên cây bưởi hái hoa
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc
Em có chồng rồi anh tiếc lắm thay”
Trong mối tương quan với mục đích phát ngôn của chàng trai là tâm sự hối tiếc
thì lời dẫn dắt ở ba câu đầu là thể hứng quen thuộc của ca dao.
Từ mối liên tưởng của các đơn vị ngôn ngữ “trèo lên- bước xuống”, “cây bưởi –
vườn cà – tầm xuân”, “hái hoa – hái nụ”, “nụ - nở” thì tất cả các yếu tố này đều trở
thành các tín hiệu thẩm mĩ.
Trên bình diện hiển ngôn, cả ba sự kiện trong ba dòng thơ đầu đều là hiện tượng
bất thường. Hoa bưởi không phải hoa để trưng bày mà chỉ để cho các chị, các cô gội
đầu, vậy chàng trai ấy hái cho ai. Lạ lùng hơn là xuống vườn cà mà hái nụ tầm xuân.
Khốn nỗi định hái nụ thì nụ đã thành hoa. Hoa tầm xuân vốn trắng hồng thì ở đây lại
biếc xanh. Phải chăng khu vườn trong lời ca cũng là hình ảnh vườn tình? Cảnh huống
cũng trớ trêu như sự ngang trái của cuộc tình này!
Ở bình diện hàm ẩn, hoa bưởi, hoa cà, hoa tầm xuân cũng chính là hoa cuối mùa
xuân, cũng là cái muộn màng chẳng khác gì cái trễ tràng của chàng trai. Té ra không
phải nói chuyện hái hoa hái nụ mà là chàng trai đang tự trách mình mải vui đâu đâu,
loay hoay nơi này nơi nọ để khi nhận ra tình yêu của mìn h đặt vào đâu thì đã muộn
màng mất rồi!
Phần còn lại của bài ca dao là lời cô gái:

phương diện ý – lời. Để đi vào thế giới nghệ thuật của chúng, chúng tôi không có sự
chia tách rạch ròi các thao tác tiếp cận được áp dụng là đối chiếu – liên hội phong cách
học, trực quan – kinh nghiệm của người bản ngữ và các lí thuyết ngữ dụng học. Trong
đó, các bình diện như nhân vật giao tiếp, vai giao tiếp, tính thể diện, đích giao tiếp,
chiến lược giao tiếp, tiêu điểm thông tin, lời thoại, tiền giả định của phát ngôn, ngữ
nghĩa của câu… đã thật sự là những công cụ hữu hiệu cho phép khám phá đối tượng ở
những góc nhìn đáng tin cậy.
TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Nguyễn Phan Cảnh, Ngôn ngữ thơ, tái bản 2006, Nxb Văn học, Hà Nội
[2] Đỗ Hữu Châu, 2001, Đại cương ngôn ngữ học, tập 2 - Ngữ dụng học, Nxb GD,
HN.
[3] Nguyễn Đức Dân, 1998, Ngữ dụng học, tập 1, Nxb GD, HN.
[4] M.B.Khrapchenko, 2002, Những vấn đề lí luận và phương pháp luận nghiên cứu
văn học, bản dịch tiếng Việt, Nxb ĐHQGHN.
[5] Nguyễn Tấn Long, Phan Canh, 1969 - 1970, Thi ca bình dân Việt Nam, tập 1, tập 2,
Nxb Sống Mới, Sài Gòn.
[6] Nhiều tác giả, 1997, Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, tập 1, Văn học dân gian, Nxb
Văn học, Hà Nội.


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status