Báo cáo nghiên cứu khoa học: " NÂNG CAO NĂNG LỰC GI AO TIẾP TIẾNG ANH CHO NGƯỜI HỌC THÔNG QUA THỰC HIỆN HỆ THỐNG VÀ HIỆU QUẢ CÁC LOẠI BÀI LUYỆN TRONG LỚP HỌC" pot - Pdf 19

TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(28).2008
158
NÂNG CAO NĂNG LỰC GIAO TIẾP TIẾNG ANH
CHO NGƯỜI HỌC THÔNG QUA THỰC HIỆN
HỆ THỐNG VÀ HIỆU QUẢ CÁC LOẠI
BÀI LUYỆN TRONG LỚP HỌC
INCREASING COMMUNICATIVE COMPETENCE FOR LEARNERS
OF ENGLISH BY CARRYING OUT THROUGH IN-CLASS DRILLS
SYSTEMATICALLY AND EFFECTIVELY

PHAN VĂN HÒA, Đại học Đà Nẵng
TRƯƠNG THỊ PHƯƠNG MAI
Học viên Cao học 2008-2008, Đại học Huế

TÓM TẮT
Chân lý đơn giản nhất trong việc nâng cao năng lực giao tiếp là phải rèn luyện các kỹ
năng ngôn ngữ. Nhưng thực hiện c ác bài luyện (drills) một cách hiệu quả là một trong
những vấn đề quan trọng mà người dạy cần phải ý thức rất rõ về nội dung, quy trình,
và các yếu tố khác có tính tác động tích cực đến quá trình dạy – học tiếng Anh. Luyện
là cách giúp học sinh có cơ hội để nhớ hình thức của ngôn ngữ, nắm bắt kỹ năng và
đồng thời sử dụng ngôn ngữ. Bài viết này nhằm đưa ra kết quả nghiên cứu về các loại
bài luyện tiếng Anh thường được sử dụng trong giờ học tại một số trường. Từ đó, nêu
lên những vấn đề đáng lưu ý, cũng như những khó khăn mà giáo viên thường gặp phải
khi sử dụng các bài luyện tiếng Anh. Ngoài ra, người viết đưa ra một số đề xuất nhằm
làm sao thực hiện các bài luyện một cách hiệu quả để nâng cao năng lực giao tiếp
tiếng Anh cho người học.
ABSTRACT
The simpliest truth in increasing communicative competence is to practise language
skills. But how to carry out the drills effectively is one of the most important issues that
teachers should be deeply aware; especially they should clearly recognize the content,
the drilling process and other factors that affect the quality of English teaching. To carry

Mặc dù các bài luyện đóng vai trò quan trọng trong việc dạy và học tiếng Anh,
vẫn còn nhiều giáo viên chưa sử dụng chúng một cách hợp lý hay nhiều học sinh vẫn
cho đó là nhàm chán.
Vấn đề là làm sao cho cả giáo viên lẫn học sinh ý thức rõ về vai trò quan trọng
của hệ thống bài luyện trong việc nâng cao kỹ năng sử dụng ngôn ngữ.
2. Bài luyện ngôn ngữ (language drills)
2.1. Định nghĩa bài luyện ngôn ngữ
Grant (1987, p. 35) định nghĩa bài luyện: “Các bài luyện ngôn ngữ là các bài tập
ít nhiều mang tính chất máy móc (mechanical) mà ở đó học sinh luyện tập cách phát âm
hay ngữ pháp của ngôn ngữ mà không phải suy nghĩ nhiều cho đến khi ngôn ngữ đó trở
nên tự động (automatic)”. Dawson (1984, p. 34) nhận định : “Bài tập luyện là phương
tiện để cung cấp sự luyện tập sâu về các cấu trúc ngữ pháp, trật tự từ hay cách phát
âm” Còn có nhiều cách định nghĩa khác nhau, nhưng hầu hết đều nêu lên mục đích
chung nhất của bài luyện là tập trung cả lớp học vào việc luyện tập ngữ pháp, từ vựng
hay cách phát âm để nâng cao hiệu quả sử dụng ngôn ngữ.
2.2. Các loại bài luyện ngôn ngữ
Các loại bài luyện ngôn ngữ từ lâu đã thu hút nhiều sự quan tâm. Matthews, Spatt
và Dangerfield (1991), Paulston và Bruder (1976), Liao (2007) đã phân các bài luyện
ngôn ngữ thành ba nhóm: Bài luyện mang tính máy móc (mechanical drills), bài luyện có
ý nghĩa (meaningful drills) và bài luyện có tính giao tiếp (communicative drills).
2.2.1. Các bài luyện mang tính máy móc
Paulston và Bruder (1976, p. 3) cho rằng bài luyện có tính máy móc là các loại
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(28).2008
160
bài tập mà ở đó câu trả lời được kiểm soát hoàn toàn và chỉ có duy nhất một cách trả lời
đúng. Các loại bài luyện này được thực hiện mà không cần đến kiến thức nào về ngôn
ngữ đích hay sự thông hiểu nào về các quy tắc của ngôn ngữ đang được luyện tập.
Nhóm bài luyện này có các loại bài luyện như:
− Lặp lại (Repetition drill)
− Thêm vào (Addition drill)

− Câu trả lời thật (True answers),…
Như ta thấy, 3 nhóm b ài luyện vừa nêu, trước hết mang tính máy móc
(automatic), rồi có ý nghĩa (mean ingful) và đến tính giao tiếp ( communicative). Ba
nhóm này thông thường cũng xảy ra theo trình tự: máy móc, ý nghĩa và giao tiếp .Thực
tế cho thấy không phải bao giờ cũng theo một trình tự nghiêm ngặt như vậy. Nhưng nếu
chỉ tiến hành các bài luyện máy móc mà không lưu ý dẫn đến các bài luyện có ý nghĩa
và tiến tới luyện giao tiếp thì quá trình dạy – học coi như không thể hoàn thành.
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(28).2008
161
2.3. Mức độ các loại bài luyện được dùng tại các trường cấp hai hiện nay
Bài luyện rất phù hợp cho những học sinh nhỏ tuổi hay học sinh cấp hai. Các bài
luyện đem đến cho học sinh và cả giáo viên nhiều ích lợi nếu được sử dụng một cách
hợp lý. Thực tế cho thấy việc sử dụng bài luyện của giáo viên vẫn còn hạn chế. Loại bài
luyện được dùng nhiều nhất là Lặp lại (Repetition drill) bởi loại bài tập này dễ thực hiện
lại không phải tốn nhiều thời gian để chuẩn bị. Vì thế mà một số giáo viên chỉ cho học
sinh thực hiện loại bài tập này mà không lưu ý đến luyện tập các loại bàiluyện ý nghĩa
và giao tiếp. Điều này dẫn đến sự nhàm chán cho người học và không có hiệu quả. Thực
tế khảo sát cho thấy các bài luyện như Hỏi và trả lời (Question and answer drill),
Chuyển đổi (Transmission drill), Thay thế (Substitution drill) có được thực hiện nhưng
tần suất thấp. Các loại bài luyện có tính phức tạp hơn như Phỏng đoán (Guessing drill),
Các tình huống tưởng tượng (Imaginary situations), Tranh ảnh (Picture drill), Tìm một
ai đó mà … (Find someone who…) được sử dụng rất ít và không được hiệu quả như
mong muốn. Biểu bản dưới đây cho thấy mức độ sử dụng 3 loại bài luyện ở các trường
phổ thông qua khảo sát 15 giáo viên đứng lớp:
Bảng 1: Các loại bài luyện và xác suất sử dụng
Loại bài luyện
Thường xuyên Thường thường Hiếm khi Không bao giờ
Giáo
viên
(SL=15)

Bài luyện thay thế (Substitution drill) 0 0
BL chuyển đổi (Transformation drill) 0 0
BL Hỏi đáp (Q & A drill) 14 93.3
BL hìnhảnh (Picture drill) 5 33.3
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(28).2008
162
BL nhớ hội thoại (Dialogue memorization ) 0 0
BL khái niệm (Practicing concepts) 0 0
BL thể hiện các mối quan hệ (Expressing relationships) 0 0
Bài luyện khác (Others) 0 0
Thực tế cho thấy phần lớn bài luyện được dùng phổ biến đều thuộc nhóm bài
luyện mang tính máy móc. Còn bài luyện có ý n ghĩa và có tính giao tiếp được sử
dụng ở mức khá thấp.
Một trong những nguyên nhân là khi thực hiện bài luyện kiểu này giáo viên có
gặp một số khó khăn: Thứ nhất, trong một tiết học (45 phút) cả học sinh và giáo viên
phải giải quyết nhiều nội dung liên quan đến bài học.Vì vậy, giáo viên chỉ có điều kiện
tiến hành cho luyện đơn giản, máy móc. Thứ hai, giáo viên không có thời gian (ở nhà)
để chuẩn bị cho quá trình thực hành bài luyện khác như Tranh ảnh hay Tìm một ai đó
mà … một cách chu đáo. Thứ ba, trình độ học sinh trong một lớp không đồng đều dẫn
đến khó thực hiện bài luyện có ý nghĩa hay có tính giao tiếp một cách hiệu quả. Tệ hơn,
khảo sát cho thấy một số giáo viên lại thừa nhận rằng họ chỉ quen dùng bốn loại bài
luyện mang tính máy móc phổ biến còn các loại khác thì hầu như họ chưa biết đến, hoặc
chưa sử dụng.
2.4. Đề xuất
Từ thực tế sử dụng không đồng đều các bài luyện có thể đưa đến những ý kiến
sau:
− Trở lại vấn đề bồi dưỡng thường xuyên đội ngũ giáo viên.
− Đầu tư nhiều thời gian hơn cho việc chuẩn bị các bài luyện một cách hệ thống và
hiệu quả.
− Chú ý nhiều vào việc lựa chọn bài tập luyện thích hợp.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Dawson, C. Teaching English as a foreign language: a practical guide. UK:
Thomas Nelson and Sons Ltd (1984).
[2] Grant, N. Making the Most of Your Textbook. Hongkong: Longman Group UK
Limited (1987).
[3] Hedge, T. Teaching and Learning in the Language Classroom. USA: Oxford
University Press (2000).
[4] Lewis, M. & Hill, J. Source book for teaching English overseas: a practical guide
for language assistants. London: Heinemann Educational Books Ltd (1981).
[5] Liao, X. Q. Information Gap in Communicative Classrooms. E.T. Forum Online,
39: 4. Retrieved on June 9, 2007 from:
http://exchanges.state.gov /forum/vols/vol39/no4/p38.htm.
[6] Matthews, A., Spratt, M., & Dangerfield, L. At the Chalkface: Practical
Techniques in Language Teaching. Walton-on-Thames, UK: Thomas Nelson
(1991).
[7] Paulston, C. B. and Bruder, M. N. Teaching English as a Second Language,
Techniques and Procedures. Combridge, Mass: Winthrop Publishers, Inc (1976).
[8] Phan Văn Hòa, Mối quan hệ giữa dạy cái gì và dạy như thế nào trong quá trình dạy
ngoại ngữ, Tạp chí Khoa học & Công nghệ, Đại học Đà Nẵng, số 3 (26)/2008.


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status