khảo sát sự hiểu biết về chế độ ăn của bệnh nhân loét dạ dày tá tràng - Pdf 19

1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Loét dạ dày tá tràng là một bệnh khá phổ biến, với chừng 5 - 10% dân số
có viêm loét dạ dày tá tràng trong suốt cuộc đời mình và nam giới hay gặp gấp 4
lần nữ giới (tại bắc Việt Nam tỷ lệ mắc bệnh ước tính 5 - 7% dân số), thường
gặp 12 - 14% trong các bệnh nội khoa và chiếm 16% trong tổng số các ca phẫu
thuật trong 1 năm.
Ngoài ra nhờ kỹ thuật nội soi, người ta còn phát hiện khoảng 26% bệnh
nhân bị loét dạ dày tá tràng mà không hề có triệu chứng đau, cũng như khoảng
30 - 40% có đau kiểu loét dạ dày tá tràng nhưng lại không tìm thấyổ loét.
Loét dạ dày tá tràng có những đợt tiến triển xen kẽ với những thời kỳ ổn
định mà chu kỳ thay đổi tùy người, hàng năm trung bình có khoảng 50% người
bị loét có đợt đau phải điều trị và trong đợt tiến triển có thể có những biến chứng
nguy hiểm như chảy máu, thủng, hẹp … và dù có phẫu thuật cấp cứu, tỷ lệ tử
vong vẫn cao khoảng 22%.
Dạ dày có vai trò quan trọng trong dinh dưỡng. Ngoài việc dự trữ thức ăn
đưa vào để tiêu hóa dần, dạ dày còn là cơ quan nghiền nhuyễn thức ăn và tạo
điều kiện thuận lợi cho tiêu hóa, hấp thu thức ăn ở ruột non. Loét dạ dày – tá
tràng là một bệnh khá phổ biến trên thế giới và ở Việt Nam. Ở các nước đang
phát triển ước tính tỷ lệ bệnh khoảng 10%, hằng năm tăng khoảng 0,2%. Ở Việt
Nam theo điều tra trong những năm gần đây bệnh chiếm khoảng 26% và thường
đứng đầu trong các bệnh ở đường tiêu hóa; bệnh có chiều hướng ngày càng gia
tăng. Cơ chế bệnh sinh chủ yếu là tăng tiết acid.
Chế độ ăn trong bệnh dạ dày nhằm mục đích làm giảm tiết acid, giảm tác
dụng của acid dạ dày tiết ra lên niêm mạc dạ dày, hạn chế hoặc loại bỏ những
kích thích có hại để dạ dày nghỉ ngơi và các tổn thương mau lành.
Vì thế chế độ ăn uống của người bệnh loét dạ dày tá tràng là rất quan
trọng, nó quyết định cho việc điều trị bệnh nhân loét DDTT chóng bình phục
2

nhiều hoặc quá hoạt động, do đó lượng dịch vị cơ bản hoặc sau kích thích rất gia
tăng, sự phân tán ngược và sự đi vào của ion H+ làm thương tổn thành dạ dày và
gây ra loét; do đó làm trung hòa ion H+ đã làm giảm tỉ lệ loét rất nhiều. Nguy cơ
loét càng cao khi sự tiết acid càng nhiều.
1.2.3. Yếu tố bảo vệ của niêm mạc dạ dày
* Hàng rào niêm dịch
Để chống lại sự tấn công của ion H+, yếu tố chính là lớp niêm dịch giàu
bicarbonate tạo bởi glycoprotéine có chứa các phospholipides không phân cực,
nằm trên bề mặt của lớp gel này có tính nhầy đàn hồi. Khi pepsine cắt chuỗi
4

peptide phóng thích các tiểu đơn vị glycoproteines; chúng làm mất tính chất
nhầy đàn hồi này. Các ion H+ xâm nhập vào lớp nhầy, nhưng chúng bị trung hòa
bởi bicarbonate. Nhưng khi pH<1, 7 thì vượt quá khả năng trung hoà của nó và
ion H+ đến được lớp niêm mạc dạ dày và gây ra loét.
* Lớp niêm mạc dạ dày
Tiết ra glycoproteines, lipides và bicarbonate, chúng có khả năng loại bỏ
sự đi vào bào tương của ion H+ bằng 2 cách: trung hòa do bicarbonate, và đẩy
ion H+ vào khoảng kẽ nhờ bơm proton H+- K+ - ATPase.
* Lớp lamina propria
Phụ trách chức năng điều hòa. Oxy và bicarbonate được cung cấp trực
tiếp cho hạ niêm mạc bởi các mao mạch có rất nhiều lổ hở, mà các tế bào này rất
nhạy cảm với toan chuyển hóa hơn là sự thiếu khí. Một lượng bicarbonate đầy
đủ phải được cung cấp cho tế bào niêm mạc để ngăn chặn sự acid hóa trong
thành dạ dày gây ra bởi ion H+ xuyên qua hàng rào niêm mạc này.
* Vi Khuẩn H.P
Gây tổn thương niêm mạc dạ dày tá tràng đồng thời sản xuất ra amoniac
làm môi trường tại chổ bị acid để gây ra ổ loét. HP sản xuất men urease làm tổn
thương niêm mạc dạ dày; nó cũng sản xuất ra proteine bề mặt, có hoá ứng động
(+) với bạch cầu đa nhân trung tính và monocyte. Nó còn tiết ra yếu tố hoạt hoá

rõ có thể do kích thích dây X, hủy niêm dịch do trào ngược tá tràng dạ dày hoặc
do giảm tiết bicarbonate.
+Thuốc
- Aspirin: gây loét và chảy máu, gặp ở dạ dày nhiều hơn tá tràng, do tác
dụng tại chổ và toàn thân. Trong dạ dày pH acide, làm cho tinh thể aspirin không
6

phân ly và hòa tan được với mỡ, nên xuyên qua lớp nhầy và ăn mòn niêm mạc
gây loét. Toàn thân do Aspirin ức chế Prostaglandin, làm cản trở sự đổi mới tế
bào niêm mạc và ức chế sự sản xuất nhầy ở dạ dày và tá tràng.
- Nhóm kháng viêm nonsteroide: Gây loét và chảy máu tương tự như
Aspirin nhưng tính acid yếu hơn nên không gây ăn mòn tại chổ.
- Corticoide: không gây loét trực tiếp, vì chỉ làm ngăn chặn sự tổng hợp
Prostaglandin, nên chỉ làm bộc phát lại các ổ loét cũ, hoặc ở người có sẳn tố tính
loét.
-Hélicobacter Pylori (HP): Đã được Marshall và Warren phát hiện năm
1982, HP gây viêm dạ dày mạn tính nhất là vùng hang vị (type B), và viêm tá
tràng do dị sản niêm mạc dạ dày vào ruột non, rồi từ đó gây viêm hoại tử và loét.
90% trường hợp loét dạ dày, và 95% trường hợp loét tá tràng có sự hiện diện HP
nơi ổ loét.
1.4. TRIỆU CHỨNG HỌC
Trong loét dạ dày tá tràng triệu chứng lâm sàng chính là cơn đau loét và
hội chứng loét, trong đó cơ năng là nỗi bậc còn triệu chứng thực thể thường
nghèo nàn, hoặc là khi đã có biến chứng như xuất huyết, hẹp môn vị, thủng,
hoặc ung thư hoá.
* Triệu chứng: Đau là triệu chứng chính có nhiều tính chất.
- Đau từng đợt mỗi đợt kéo dài 2 - 8 tuần cách nhau vài tháng đến vài
năm. Đau gia tăng theo mùa nhất là vào mùa đông tạo nên tính chu kỳ của bệnh
loét. Tuy nhiên các biểu hiện lâm sàng của viêm vùng hang vị xảy ra trước loét
có thể làm mất tính chu kỳ này.

trong thời gian đầu của bệnh , nhằm tạo tránh kích thích sự tiết dịch vị của dạ
dày, nhưng không kéo dài nhằm tránh những ảnh hưởng xấu của tình trạng rối
loạn dinh dưỡng trên việc lành các vết loét.
- Sau năm 1900: Phương pháp “ Sippy” được chú trọng. Phương pháp này
bao gồm những bữa ăn thường xuyên với sữa, trứng, kem kèm với những chất
8

kiềm ( hoặc bột Sippy) và nghĩ ngơi sinh lý. Cơ sở lý luận của phương pháp này
là làm loãng và làm mất tác dụng của acid dịch vị một cách hằng định.
Thời gian thực hiện của phương pháp này là 12- 18 tháng.
Tuy nhiên, phương pháp “ Sippy” cũng có khá nhiều điều cần bàn cãi:
+ Mặc dù sữa có tác dụng đệm, nhưng sữa cũng làm tăng tiết acid trong
dạ dày do sữa có chứa nhiều protein (đạm) và calcium.
+ Mức độ chất béo và cholesterol cao trong phương pháp Sippy có thể
dẫn đến nguy cơ của bệnh tim mạch.
+ Những người kém dung nạp lactose sẽ không thể áp dụng phương pháp
này.
Phương pháp này có thể dẫn đến tình trạng kiềm máu cấp tính gây ra suy
giảm chức năng thận tạm thời.
- 1930- 1960 : Điều trị loét dạ dày–tá tràng được xem xét lại. Người ta
nhận ra rằng: những thực phẩm ôn hoà cần được chú ý trong chế độ ăn của
người bệnh, các thuốc kháng acid chỉ dùng khi thật sự cần thiết.Những phương
pháp tiết chế khắc nghiệt bị loại trừ vào những năm 1950. Điều trị chuẩn của
loét dạ dày- tá tràng được qui về các điểm chính sau:
+ Sử dụng thuốc kháng acid khi có đau.
+ Nghỉ ngơi tuyệt đối trong giai đoạn đầu.
+ Thay đổi cách sống: các bữa ăn phải được thực hịên đều đặn, đúng giờ,
ngưng hút thuốc lá.
- 1970: Một chế độ ăn hài hòa được khuyến nghị bao gồm : hạn chế các
món chiên, các món ăn cay, các món nhiều gia vị, các món ăn quá béo, quá ngọt,

1970). Trên cơ sở hạn chế sự tiết acid trong dạ dày thì nước trái cây , và nước
uống không có cồn không bị hạn chế vì không gây tăng tiết acid , cũng không
cản trở quá trình lành ổ loét.
Sô cô la nóng, trà, cà phê, sữa, nước máy, sữa- trứng không phải là soft
drink.
10

Gia vị: Một vài loại gia vị có thể gây tổn thương lớp màng nhầy của dạ
dày gây ra loét như : bột ớt, ớt đỏ, tiêu đen, mù tạc, bột cà ry. Tuy nhiên một vài
nghiên cứu cũng chỉ ra rằng : ăn một lượng nhỏ ớt có thể sẽ kích thích sự tiết
chất nhầy bảo vệ niêm mạc dạ dày, nhưng ăn số lượng lớn thì sẽ gây tổn thương
lớp nhầy.
Muối: Các nghiên cứu cho thấy muối kích thích dạ dày , ruột. Sử dụng
nhiều muối có nguy cơ cao bị mắc bệnh loét dạ dày .Vì vậy nên hạn chế muối.
Acid béo thiết yếu
Các nghiên cứu gần đây cho thấy nên cung cấp đủ các acid béo thiết yếu ,
đặc biệt là Linoleic acid (omega- 3 fatty acid) vì các acid béo thiết yếu này sẽ
được chuyển hóa thành prostaglandins của nhóm E ( là một chất chống viêm) ,
điều này giúp bảo vệ niêm mạc của đường tiêu hóa . Sử dụng chất béo của cá
trong các bữa ăn hàng ngày là rất tốt.
Amino acid
Các amino acid tham gia vào việc tái tạo mô của ổ loét nên được khuyến
nghị cung cấp đầy đủ trong bữa ăn hàng ngày. Đặc biệt , Glutamine là nguồn
năng lượng chính của các tế bào niêm mạc dạ dày, vì vậy việc bổ sung
Glutamine từ 500 đến 1000mg mỗi ngày được khuyến nghị đối với bệnh nhân
loét dạ dày , các thực phẩm có nhiều Glutamine là: Quả hạnh, Hạt Hướng
Dương, hạt mè , mầm lúa mì, pho mát loại cứng mịn.
Khoáng
Kẽm (Zinc): Kẽm rất cần thiết cho việc hồi phục mô tổn thương và có tác
dụng bảo vệ chống việc tạo nên các ổ loét của dạ dày , tại Châu Âu , kẽm được

hoặc quá no, tránh ăn trong vòng 3 giờ trước khi ngủ ( bữa ăn trước khi ngủ sẽ
làm tăng tiết acid trong đêm). .
- Ăn chậm, nhai kỹ.
* Thư giãn
- Tạo không khí vui vẻ trong các bữa ăn
12

- Điều hòa công việc một cách hợp lý nhằm tránh tình trạng căng thẳng
liên tục.
- Nguy cơ của sự hình thành ổ loét trong dạ dày.
* Thích ứng cá thể
- Tránh những thức ăn hoặc thức uống gây cảm giác khó chịu , ví dụ như
nước cam, các trái thuộc họ chanh, cam, các thức ăn có chứa cà chua bởi vì
chúng có thể gây kích thích tiết acid trong dạ dày, mặc dù ở một số bệnh nhân
không cảm thấy khó chịu gì khi sử dụng chúng.
- Bệnh nhân loét dạ dày có tình trạng dinh dưỡng tốt thì sự lành các vết
loét sẽ tốt hơn bệnh nhân suy dinh dưỡng. 13

Chƣơng 2
ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU
2.1.1. Tiêu chuẩn chọn đối tƣợng nghiên cứu
Chọn bệnh nhân loét dạ dày tá tràng đang điều trị tại Khoa nội Tiêu hóa
Bệnh viện trung ương Huế.
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ
- Người có khiếm khuyết khả năng nghe nói

15

Chƣơng 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA MẪU NGHIÊN CỨU
3.1.1. Phân bố theo tuổi
Bảng 3.1.Phân bố theo tuổi
Tuổi
n
Tỷ lệ %
< 40 tuổi
18
58,1
≥ 40 tuổi

5
16,1
Cán bộ hưu trí
4
12,9
Lao động tự do
12
38,7
Tổng
31
100
Nhận xét: Lao động tự do chiếm 38,7%, cán bộ công nhân viên là 32,3%
3.1.4. Trình độ học vấn
Bảng 3.3.Trình độ học vấn
Trình độ học vấn
n
Tỷ lệ %
Tiểu học
3
9,7
Trung học cơ sở
12
38,7
Trung học phổ thông
9
29,0
CĐ-ĐH
7
22,6


Chế độ ăn
n
Tỷ lệ %
Ăn mềm, lỏng dễ tiêu
27
87,1
Ăn nhẹ từng ít một, nhai kỹ
26
83,9
Không nên ăn quá nhiều, quá nhanh
28
90,3
Tất cả ý trên
14
45,2
Không biết
0
0,0

Nhận xét: Không nên ăn quá nhiều, quá nhanh chiếm tỉ lệ 90,3%. cả 3
nguyên tắc chiếm 45,2%

3.2.2. Thực phẩm nên dùng cho bệnh nhân loét dạ dày tá tràng
Bảng 3.5.Thực phẩm nên dùng cho bệnh nhân loét dạ dày tá tràng
Thực phẩm nên dùng cho bệnh nhân
loét dạ dày tá tràng
n
Tỷ lệ %
Cháo, cơm
18

87,1
Các thức ăn chua
29
93,5
Tât cả ý trên
16
51,6
Không biết
0
0,0

Nhận xét:
Không nên dùng các thức ăn chua chiếm tỉ lệ 93,5%, dưa cà muối, hành
muối là 87,1%
3.2.4. Các thức uống không nên dùng cho bệnh nhân loét dạ dày tá tràng
Bảng 3.7. Các thức uống không nên dùng cho bệnh nhân loét dạ dày tá
tràng
Các thức uống không nên dùng cho bệnh
nhân loét dạ dày tá tràng
n
Tỷ lệ %
Cà phê
26
83,9
Trà ( chè ) đặc
25
80,6
Thức uống nhiều gas
22
71,0

93,5%

3.2.6. Dùng nhiều bữa nhỏ trong ngày
Bảng 3.9. Dùng nhiều bữa nhỏ trong ngày
Dùng nhiều bữa nhỏ trong ngày
n
Tỷ lệ %

30
96,8
Không
1
3,2

31
100
Nhận xét:
Hầu hết bệnh nhân (96,8%) dùng nhiều bữa nhỏ trong ngày
3.2.7. Ăn chuối, đu đủ chín
Bảng 3.10. Ăn chuối, đu đủ chín
Ăn chuối, đu đủ chín
n
Tỷ lệ %

25
80,6
Không
6
19,4



23%
68%
10%
Rất kỹ
Kỹ
Sơ sài
21

Chƣơng 4
BÀN LUẬN

4.1. ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU
Trong điều tra này , lứa tuổi mắc bệnh loét dạ dày tương đương với tỉ lệ
mắc bệnh này theo y văn với tuổi < 40 chiếm tỉ lệ 58,1% ( bảng 3.1) . Tỉ lệ nam
mắc bệnh nhiều hơn nữ với tỉ lệ 54,8% ( bảng 3.2), một phần do chế độ sinh
hoạt của nam tiềm ẩn nhiều nguy cơ hơn nữ về mắc bệnh như dùng nhiều chất
kích thích với niêm mạc dạ dày (rượu, cà phê, thuốc lá ) hoặc chịu nhiều stress
trong cuộc sống . Nghề nghiệp cũng có ảnh hưởng đến tần suất mắc bệnh và có
sự khác biệt rõ đối với người đang lao động hay hưu trí. Tỉ lệ mắc bệnh của
nhóm tôi là lao động tự do chiếm 38,7%, cán bộ công nhân viên là 32,3%, hưu
trí là 12,9% ( bảng 3.3)
Trình độ học vấn của bệnh nhân tuy ít liên quan trực tiếp đến nguy cơ mắc
bệnh nhưng có ý nghĩa quan trọng trong việc tiếp thu sự hướng dẫn của cán bộ y
tế. Trong điều tra này số bệnh nhân có trình độ học vấn từ trung học phổ thông
trở lên chiếm tỉ lệ khác cao với 51,6%. ( bảng 3.4)
Thời gian mắc bệnh có liên quan đến độ trầm trọng của bệnh, cũng như
phác đồ điều trị và tình trạng sức khỏe của bệnh nhân. May mắn trong điều tra
này số bệnh nhân mắc bệnh trong khoảng 1 năm là 41% trong đó <là 6 tháng
với 12,9% ( bảng 3.5)

những loại nước uống không có cồn thường có pH từ 2,8 đến 3,5. Nước uống
có chứa trên 40% cồn có thể gây tổn thương lớp tế bào bảo vệ mặt trong của dạ
dày .Sô cô la nóng, trà, cà phê, là những thức uống kích thích niêm mạc tiết
acid. Trên cơ sở hiểu biết của các bệnh nhân chúng tôi, thì tỉ lệ bệnh nhân không
uống bia rượu chiếm 87,1%; với cà phê là 83,9%; với trà đặc là 80,6%; với
nước uống có nhiều gas là 71%. ( bảng 3.9)
23

4.2.5. Ăn trái cây (chuối tiêu, đu đủ chín)
Một số trái cây như đu đủ chín, chuối tiêu là những thực phẩm tốt cho sức
khỏe vì chứa nhiều vitamin và một số chất khoáng cần thiết. Đối với bệnh loét
dạ dày thì các loại thực phẩm này còn giúp cho việc làm lành các ổ viêm loét .
Tuy nhiên không nên ăn nhiều chuối xanh. Đồng thời đủ đủ chín có chứa enzim
papain men phân hủy protein do đó không nên ăn đu đủ khi đói bụng. Trong
nhóm bệnh của tôi số bệnh nhân ăn trái cây như chuối, đu đủ chín chiếm 80,6%
(bảng 3.10)
4.2.6.Dùng thực phẩm quá nóng hoặc quá lạnh
Thực phẩm quá nóng khi ăn vào sẽ kích ứng niêm mạc dạ dày; ngược lại
thực phẩm quá lạnh , khi ăn vào sẽ có cảm giác dịu cơn đau tuy nhiên đây
không phải là biện pháp được khuyên nên dùng trong loét dạ dày. Đối với nhóm
bệnh tôi, số dùng thực này quá nóng hay quá lạnh ( bảng 3.11)
4.2.7. Dùng nhiều bữa nhỏ trong ngày
Số bữa ăn trong này là ăn 3 bữa chính và 3 bữa phụ mỗi ngày. Đặc biệt
tránh tình trạng quá đói hoặc quá no vì làm lạ dày căng lớn .Tránh ăn trong vòng
3 giờ trước khi ngủ ( bữa ăn trước khi ngủ sẽ làm tăng tiết acid trong đêm). Khi
ăn , nên ăn chậm, nhai kỹ. Những chỉ dẫn cụ thể này, nếu bệnh nhân tuân thủ
đúng sẽ giảm thiểu tình trạng tổn thương thêm niêm mạc dạ dày. Hầu hết bệnh
nhân trong cuộc điều tra này (96,8%) dùng nhiều bữa nhỏ trong ngày
(bảng 3.12)
4.2.8. Hƣớng dẫn chế độ ăn cho bệnh nhân của điều dƣỡng tại khoa
25 KIẾN NGHỊ
Bệnh loét dạ dày là một vấn đề sức khỏe hiện nay. Vì thế ngoài điều trị về
thuốc đúng phác đồ cần có một chế độ ăn đúng đắn trong việc giảm những yếu
tố nguy cơ mắc bệnh cũng như góp phần vào việc điều trị. Tuy nhiên không phải
mọi người dân hiểu đúng về điều này do đó chúng em có kiến nghị
- Nên truyền thông- giáo dục cho mọi người dân về cách phòng bệnh,
cũng như phát hiện bệnh sớm
- Truyền thông và giáo dục dinh dưỡng cho người bệnh về chế độ dinh
dưỡng khi mắc bệnh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status