Khảo sát sự hiểu biết về chế độ ăn của bệnh nhân loét dạ dày tá tràng tại Khoa nội bệnh viện 199 - Pdf 25

1



   N TT NGHIP

 KHẢO SÁT SỰ HIỂU BIẾT VỀ CHẾ ĐỘ ĂN
CỦA BỆNH NHÂN LOÉT DẠ DÀY TÁ TRÀNG
TẠI KHOA NỘI BỆNH VIỆN 199
Người thực hiện: LÊ MINH HỒNG
Giảng viên hướng dẫn:
Theo viện dinh dưỡng Việt Nam cho biết tình hình bệnh nhân (BN) mắc
bệnh LDDTT đang có chiều hướng gia tăng ở Việt Nam chiểm tỷ lệ 26% và
thường đứng đầu trong các bệnh về đường tiêu hóa. Đây là căn bệnh khá phổ
biến ở các nước đang phát triền, ước tính tỷ lệ bệnh gia tăng mỗi năm là 0,2%.
Phân tích các yếu tố bệnh lý cho thấy, nguyên nhân mắc bệnh thường gặp ở
những người hay lo lắng, sợ hãi, làm việc căng thẳng, người sống ở thành thị
nhiều hơn ở nông thôn, những người làm việc trí óc, người bị đái tháo đường, hạ
đường huyết, xơ gan…
3

Tuy nhiên các chuyên gia cũng nhấn mạnh đến yếu tố thường mắc bệnh là
do nhiễm vi khuẩn Hicobater pylori (HP). Các enzyme P giải phóng ra gây tổn
thương đến viêm mạc dạ dày.
Dạ dày có vai trò quan trọng trong dinh dưỡng. Ngoài việc dự trữ thức ăn
đưa vào để tiêu hóa dần, dạ dày còn là cơ quan nghiền nhuyễn thức ăn và tạo
điều kiện thuận lợi cho tiêu hóa, hấp thu thức ăn ở ruột non. Loét dạ dày – tá
tràng là một bệnh khá phổ biến trên thế giới và ở Việt Nam. Ở các nước đang
phát triển ước tính tỷ lệ bệnh khoảng 10%, hằng năm tăng khoảng 0,2%. Ở Việt
Nam theo điều tra trong những năm gần đây bệnh chiếm khoảng 26% và thường
đứng đầu trong các bệnh ở đường tiêu hóa; bệnh có chiều hướng ngày càng gia
tăng. Cơ chế bệnh sinh chủ yếu là tăng tiết acid.
Chế độ ăn trong bệnh dạ dày nhằm mục đích làm giảm tiết acid, giảm tác
dụng của acid dạ dày tiết ra lên niêm mạc dạ dày, hạn chế hoặc loại bỏ những
kích thích có hại để dạ dày nghỉ ngơi và các tổn thương mau lành.
Vì thế chế độ ăn uống của người bệnh loét dạ dày tá tràng là rất quan
trọng, nó quyết định cho việc điều trị bệnh nhân loét DDTT chóng bình phục
hay nặng thêm. Xuất phát từ ý nghĩa thực tế này chúng em nghiên cứu đề tài
“Khảo sát sự hiểu biết về chế độ ăn của bệnh nhân loét dạ dày tá tràng tại
Khoa nội bệnh viện 199”, với mục tiêu sau:
1. Đánh giá sự hiểu biết của bệnh nhân về chế độ ăn cho bệnh nhân loét

- Lớp niêm mạc: nằm sát trong lòng dạ dày, có khả năng chun giãn, chứa
rất nhiều các loại tuyến tiết ra dịch vị, có đám rối Meissner và được bảo vệ bởi
một lớp màng nhầy.
Dạ dày được nuôi dưỡng bởi 2 vòng mạch: Vòng mạch bờ cong bé và
vòng mạch bờ cong lớn. Dây thần kinh số X trái chi phối mặt trước dạ dày, dây
thần kinh số X phải chi phối mặt sau dạ dày. Hình 1.2. Giải phẫu dạ dày
“Nguồn: Atlas giải phẫu người, 1996”

6

1.2. DỊCH TỄ HỌC
Tần suất bệnh tiến triển theo thời gian và thay đổi tùy theo nước, hoặc là
theo khu vực. Cuối thế Kỷ 19 ở Châu Âu, loét dạ dày thường gặp hơn, và ở phụ
nữ. Giữa thế kỷ 20, tần suất loét dạ dày không thay đổi, nhưng loét tá tràng có
xu hướng tăng, và hiện nay tỉ lệ loét tá tràng /loét dạ dày là 2/1, và đa số gặp ở
nam giới. Có khoảng 10-15% dân chúng trên thế giới bị bệnh viêm loét DDTT.
Ở Anh và ở Úc là 5, 2-9, 9%, ở Mỹ là 5-10%, ở Huế là 10,8%. Hiện nay có
khoảng 10% dân chúng trên thế giới bị viêm loét DDTT.
1.3.BỆNH SINH
1.3.1. Pepsine
Được tiết ra dưới dạng tiền chất pepsinnogene dưới tác động của acid
HCL biến thành pepsine hoạt động khi pH <3, 5 làm tiêu hủy chất nhầy và
collagen.
1.3.2. Sự phân tán ngƣợc của ion H
+

Tiến trình loét được khởi phát do tăng tiết HCL do lượng tế bào thành quá

tiểu cầu, các chất tiền viêm, các chất superoxyde, interleukin 1 và TNF là những
chất gây viêm và hoại tử tế bào và cuối cùng gây loét. HP còn sản xuất ra các
men protease, phospholipase làm phá huỷ chất nhầy niêm mạc dạ dày tạo điều
kiện để acid và pepsin tấn công vào thành dạ dày tá tràng.
1.4. BỆNH NGUYÊN
1.4.1. Di truyền
Cho rằng loét tá tràng có tố tính di truyền, tần suất cao ở một số gia đình
và loét đồng thời xảy ra ở 2 anh em sinh đôi đồng noãn, hơn là dị noãn.
1.4.2. Yếu tố tâm lý
Hai yếu tố cần được để ý là nhân cách và sự tham gia của stress trong
loét. Thể tâm thần ảnh hưởng lên kết quả điều trị, loét cũng thường xảy ra ở
8

ngườì có nhiều sang chấn tình cảm, hoặc trong giai đoạn căng thẳng tinh thần
nghiêm trọng như trong chiến tranh.
1.4.3. Rối loạn vận động
Đó là sự làm vơi dạ dày và sự trào ngược của tá tràng dạ dày. Trong loét
tá tràng có sự làm vơi dạ dày quá nhanh làm tăng lượng acid tới tá tràng. Ngược
lại trong loét dạ dày sự làm vơi dạ dày quá chậm, gây ứ trệ acide ở dạ dày.
1.4.4. Yếu tố môi trƣờng
+Yếu tố tiết thực: không loại trừ loét phân bố theo địa dư là có sự đóng
góp của thói quen về ăn uống. Như ở Bắc Ấn ăn nhiều lúa mì loét ít hơn ở miền
Nam ăn toàn gạo. Thật vậy nước bọt chứa nhiều yếu tố tăng trưởng thượng bì
làm giảm loét. Caféine và calcium là những chất gây tiết acide; rượu gây tổn
thương niêm mạc dạ dày.
+Thuốc lá: loét dạ dày tá tràng thường gặp ở người hút thuốc lá, thuốc lá
cũng làm xuất hiện các ổ loét mới và làm chậm sự lành sẹo hoăc gây đề kháng
với điều trị do ức chế yếu tố tăng trưởng của niêm mạc dạ dày tá tràng
(epithelial growth factor). Cơ chế gây loét của thuốc lá vẫn hoàn toàn chưa biết
rõ có thể do kích thích dây X, hủy niêm dịch do trào ngược tá tràng dạ dày hoặc

gọi là Hàn tà sẽ là yếu tố làm khởi phát cơn đau. Trong giai đoạn đầu, chứng Vị
quản thống thường biểu hiện thể Khí uất (trệ), Hỏa uất hoặc Huyết ứ, nhưng về
sau do khí suy huyết kém chứng Vị quản thống sẽ diễn tiến theo thể Tỳ Vị hư
hàn.
1.4.6. Chẩn đoán theo y học cổ truyền
Chứng Vị quản thống được chia làm 4 thể lâm sàng sau đây:
* Thể Khí uất (trệ)
Với triệu chứng đau thượng vị từng cơn lan ra 2 bên hông sườn kèm ợ
hơi, ợ chua, táo bón.
10

Yếu tố khởi phát cơn đau thường là nóng giận, cáu gắt. Tính tình hay gắt
gỏng.
Rìa lưỡi đỏ, rêu vàng nhày, mạch huyền hữu lực.
* Thể Hỏa uất
Với tính chất đau dữ dội, nóng rát vùng thượng vị, nôn mửa ra thức ăn
chua đắng.
Hơi thở hôi, miệng đắng.
Lưỡi đỏ sẫm, mạch hồng sác.
* Thể Huyết ứ
Đau khu trú ở vùng thượng vị, cảm giác châm chích.
Chất lưỡi đỏ tím hoặc có điểm ứ huyết, mạch hoạt.
Nặng hơn thì đi cầu phân đen hoặc nôn ra máu bầm.
* Thể Tỳ Vị hƣ hàn
Hay gặp ở loét dạ dày tá tràng mạn tính, tái phát nhiều lần hoặc ở người
già với triệu chứng đau vùng thượng vị mang tính chất âm ỉ liên tục hoặc cảm
giác đầy trướng bụng sau khi ăn.
Yếu tố khởi phát thường là mùa lạnh hoặc thức ăn tanh lạnh làm đau tăng.
Lưỡi nhợt bệu, rêu trắng dày nhớt. Mạch nhu hoãn vô lực.
1.5. TRIỆU CHỨNG HỌC

thường nằm ở hang vị, góc bờ cong nhỏ, đôi khi thấy ở thân dạ dày hay tiền môn
vị.
1.6. SƠ LƢỢC VỀ LỊCH SỬ CỦA ĐIỀU TRỊ BẰNG CHẾ ĐỘ ĂN
TRONG BỆNH LOÉT DẠ DÀY – TÁ TRÀNG
- 1828: Sữa được dùng làm thực phẩm chủ yếu trong chế độ ăn của bệnh
nhân loét dạ dày – tá tràng.
- 1831: Thuốc kháng acid được xem là phương thức chính giúp giảm đau
trong bệnh loét dạ dày – tá tràng.
12

- 1900: Nhịn ăn được chú trọng . Phương thức này bao gồm : nhịn đói
trong thời gian đầu của bệnh , nhằm tạo tránh kích thích sự tiết dịch vị của dạ
dày, nhưng không kéo dài nhằm tránh những ảnh hưởng xấu của tình trạng rối
loạn dinh dưỡng trên việc lành các vết loét.
- Sau năm 1900: Phương pháp “ Sippy” được chú trọng. Phương pháp này
bao gồm những bữa ăn thường xuyên với sữa, trứng, kem kèm với những chất
kiềm ( hoặc bột Sippy) và nghĩ ngơi sinh lý. Cơ sở lý luận của phương pháp này
là làm loãng và làm mất tác dụng của acid dịch vị một cách hằng định.
Thời gian thực hiện của phương pháp này là 12- 18 tháng.
Tuy nhiên, phương pháp “ Sippy” cũng có khá nhiều điều cần bàn cãi:
+ Mặc dù sữa có tác dụng đệm, nhưng sữa cũng làm tăng tiết acid trong
dạ dày do sữa có chứa nhiều protein (đạm) và calcium.
+ Mức độ chất béo và cholesterol cao trong phương pháp Sippy có thể
dẫn đến nguy cơ của bệnh tim mạch.
+ Những người kém dung nạp lactose sẽ không thể áp dụng phương pháp
này.
Phương pháp này có thể dẫn đến tình trạng kiềm máu cấp tính gây ra suy
giảm chức năng thận tạm thời.
- 1930- 1960 : Điều trị loét dạ dày–tá tràng được xem xét lại. Người ta
nhận ra rằng: những thực phẩm ôn hoà cần được chú ý trong chế độ ăn của

dụng trong giai đoạn sớm của loét dạ dày và được xem là lớp áo khoác bảo vệ
niêm mạc dạ dày, nhưng không được khuyến khích sử dụng lâu dài .
*pH của thực phẩm
pH của thực phẩm cũng được xem là một yếu tố quan trọng. Thực phẩm
được khuyến nghị không sử dụng ở bệnh nhân loét dạ dày khi có pH từ 1 đến 3
(có pH thấp hơn pH của dịch dạ dày). Trong thực tế điều trị sữa và cream được
xem là những thực phẩm có tính trung hòa acid trong dạ dày.
14

- Cần chú ý: pH của nước cam và nước nho là từ 3,2 đến 3,6, và những
loại nước uống không có cồn (soft drinks ) thường có pH từ 2,8 đến 3,5( Flick,
1970). Trên cơ sở hạn chế sự tiết acid trong dạ dày thì nước trái cây , và nước
uống không có cồn không bị hạn chế vì không gây tăng tiết acid , cũng không
cản trở quá trình lành ổ loét.
Sô cô la nóng, trà, cà phê, sữa, nước máy, sữa- trứng không phải là soft
drink.
Gia vị: Một vài loại gia vị có thể gây tổn thương lớp màng nhầy của dạ
dày gây ra loét như : bột ớt, ớt đỏ, tiêu đen, mù tạc, bột cà ry. Tuy nhiên một vài
nghiên cứu cũng chỉ ra rằng : ăn một lượng nhỏ ớt có thể sẽ kích thích sự tiết
chất nhầy bảo vệ niêm mạc dạ dày, nhưng ăn số lượng lớn thì sẽ gây tổn thương
lớp nhầy.
Muối: Các nghiên cứu cho thấy muối kích thích dạ dày , ruột. Sử dụng
nhiều muối có nguy cơ cao bị mắc bệnh loét dạ dày .Vì vậy nên hạn chế muối.
Acid béo thiết yếu
Các nghiên cứu gần đây cho thấy nên cung cấp đủ các acid béo thiết yếu ,
đặc biệt là Linoleic acid (omega- 3 fatty acid) vì các acid béo thiết yếu này sẽ
được chuyển hóa thành prostaglandins của nhóm E ( là một chất chống viêm) ,
điều này giúp bảo vệ niêm mạc của đường tiêu hóa . Sử dụng chất béo của cá
trong các bữa ăn hàng ngày là rất tốt.
Amino acid

nồng độ cao.
Thuốc lá: Thuốc lá sẽ làm chậm lành các ổ loét , vì vậy bệnh nhân loét dạ
dày. Được khuyên là nên bỏ thuốc lá .
Trà , cà phê: Cà phê và các thức uống có cà phê đều kích thích tăng tiết
acid , vì vậy mối liên quan chặt chẽ này , ngưng trà, cà phê là thái độ khôn
ngoan đối với bệnh nhân bị loét dạ dày.
16

Aspirin và các thuốc tương tư (thuốc chống viêm non- steroid): Tránh sử dụng
với số lượng lớn vì sẽ gây tổn thương lớp màng nhầy của dạ dày.
* Cách ăn
- Ăn 3 bữa chính và 3 bữa phụ mỗi ngày. Đặc biệt tránh tình trạng quá đói
hoặc quá no, tránh ăn trong vòng 3 giờ trước khi ngủ ( bữa ăn trước khi ngủ sẽ
làm tăng tiết acid trong đêm). .
- Ăn chậm, nhai kỹ.
* Thư giãn
- Tạo không khí vui vẻ trong các bữa ăn
- Điều hòa công việc một cách hợp lý nhằm tránh tình trạng căng thẳng
liên tục.
- Nguy cơ của sự hình thành ổ loét trong dạ dày.
* Thích ứng cá thể
- Tránh những thức ăn hoặc thức uống gây cảm giác khó chịu , ví dụ như
nước cam, các trái thuộc họ chanh, cam, các thức ăn có chứa cà chua bởi vì
chúng có thể gây kích thích tiết acid trong dạ dày, mặc dù ở một số bệnh nhân
không cảm thấy khó chịu gì khi sử dụng chúng.
- Bệnh nhân loét dạ dày có tình trạng dinh dưỡng tốt thì sự lành các vết
loét sẽ tốt hơn bệnh nhân suy dinh dưỡng.
1.7. ĐIỀU TRỊ
1.7.1.Nguyên tắc điều trị:
- Làm lành ổ loét.

+ Nhóm ức chế bơm Proton (H+ - K+ATPase):
* Omeprazol 20 mg uống 1 lần vào buổi sáng.
* Lansoprazol 30 mg uống 1 lần vào buổi sáng.
Có tác dụng phụ làm giảm men gan, thông thường hiệu quả tối đa của
thuốc xảy ra trong 2 giờ và kéo dài đến 72 giờ. Liệu trình điều trị có thể kéo dài
từ 4 - 8 tuần.
18

Ngoài ra, trong trường hợp loét dạ dày, các thầy thuốc cho rằng
Omeprazol có hiệu quả làm lành ổ loét hơn là nhóm H2 receptor antagonist. Một
số tác giả khác còn sử dụng đến các dược phẩm có tác dụng kích thích sự tổng
hợp Glucoprotein, Phospholipid và Prostaglandine E2, I2 như Carbenoxolone
hoặc Teprenone (Selbex) 50 mg với liều uống 1 viên x 3 lần/ngày sau mỗi bữa
ăn. Cần chú ý là thời gian điều trị loét dạ dày thường dài hơn điều trị loét tá
tràng và bắt buộc phải kiểm tra ổ loét bằng nội soi và sinh thiết. Nếu kích thước
ổ loét sau 3 tháng điều trị mà không nhỏ đi thì phải nghĩ đến ung thư hóa (70%).
Và đối với những trường hợp loét có nhiễm HP, loét tái phát nhiều lần,
loét có biến chứng chảy máu, các thầy thuốc nội khoa sẽ phải sử dụng đến
những phác đồ sau đây:
(1) Triple Therapy với Bismuth Subcitrate 2 viên x 4 lần/ngày, cùng với
Amoxicilline hoặc Tetracycline 500 mg x 3 lần/ngày, cùng với Metronidazol 250
mg x 3 lần/ngày. Thời gian điều trị là 2 tuần, kết hợp với nhóm H2 receptor
antagonist hoặc nhóm ức chế bơm Proton. Thuốc có hiệu quả tới 91% trường
hợp nhưng hiện nay chỉ còn 63% do có tình trạng Hp kháng với Metronidazol.
Thuốc gây bất lợi như tiêu chảy, viêm ruột kết giả mạc (30% trường hợp).
(2) New-Triple Therapy với Omeprazol 20 mg x 2 lần/ngày, cùng với
Clarithromycine 250 mg x 2 lần/ngày và Metronidazol 500 mg x 2 lần/ngày,
uống trong 1 tuần, ít gây phản ứng phụ nhưng đắt tiền hơn.
(3) Ranitidine 150 mg x 2 lần/ngày, Bismuth Citrate 400 mg x 2
lần/ngày, uống trong 4 tuần và Clarithromycine 500 mg x 3 lần/ngày uống trong

Xuyên khung
Cay, ôn.
Hoạt huyết, chỉ thống, hành khí, khu
phong
Thần
Trần bì
Cay, đắng. Ấm lý khí, điều trung
Thần
Hương phụ
Cay, ngọt, đắng, bình.
Sơ can, lý khí, chỉ thống.
Thần
Chỉ xác
Đắng, cay, lạnh. Phá khí, tiêu tích

Cam thảo bắc
Ngọt, bình. Bổ trung ích khí, hòa trung
Tá - Sứ
20

+ Bài thuốc Tiêu dao gia Uất kim gồm Sài hồ 8g, Bạch thược 8g, Phục
linh 10g, Đương quy 8g, Bạch truật 8g, Sinh cam thảo 8g, Uất kim 6g.
Nếu bệnh nhân lo lắng, gắt gỏng nên bội thêm Sài hồ, Phục linh hoặc gia
thêm Toan táo nhân (sao đen) 10g. Nếu cơn đau mang tính chất quặn thắt kéo
dài, nên bội thêm Bạch thược, Cam thảo. Nếu có triệu chứng lợm giọng, buồn
nôn, bội thêm Bạch truật. Nếu có cảm giác nóng rát, cồn cào bội thêm Đương
quy, gia Đại táo 3 quả, bỏ Uất kim.
+ Bài thuốc Điều hòa Can Tỳ gồm Sài hồ, Mộc hương, Hương phụ, Chỉ
xác, Hoài sơn, Liên nhục, Sa nhân, Trần bì, Bán hạ.
+ Bài thuốc Hƣơng cúc bồ đề nghệ gồm Hương phụ 8g, Cúc tần 12g,

12g, Xương bồ 8g, Nghệ vàng 6g. Gia Cỏ mực, Trắc bá diệp sao đen.
+ Bài thuốc Tiêu dao gia Uất kim gồm Sài hồ 8g, Bạch thược 8g, Phục
linh 10g, Đương quy 8g, Bạch truật 8g, Sinh cam thảo 8g, Uất kim 6g. Gia Cỏ
mực, Trắc bá diệp sao đen.
+ Bài Tứ vật đào hồng gồm Đương quy, Bạch thược, Xuyên khung, Sinh
địa, Đào nhân, Hồng hoa gia Cỏ mực, Trắc bá diệp sao đen.
Cụ thể trong chứng Vị quản thống thể Huyết ứ nên dùng bài Tiêu dao gia
Uất kim hoặc Hương cúc bồ đề nghệ nhưng tăng liều Uất kim hoặc Khương
hoàng 12g, Cỏ mực (sao đen) 12g, Trắc bá diệp (sao đen) 12g.
Về phương huyệt nên châm tả Thái xung, Huyết hải, Hợp cốc. Nếu bệnh
nhân xuất huyết tiêu hóa có kèm rối loạn huyết động nên xử trí cấp cứu bằng y
học hiện đại.
Thể Tỳ Vị hư hàn
Phép trị: Ôn trung kiện tỳ.
Với mục đích: kích thích tiết dịch vị, điều hòa nhu động dạ dày ruột, cải
thiện tuần hoàn niêm mạc dạ dày và kích thích tổng hợp Glucoprotein và
Prostaglandine E2, I2.

22

Những bài thuốc và công thức huyệt sử dụng:
+ Bài Hoàng kỳ kiến trung thang (Kim quỹ yếu lược) gồm Hoàng kỳ
10g, Can khương 6g, Cam thảo chích 8g, Bạch thược 8g, Hương phụ 8g, Cao
lương khương 8g, Đại táo 3 quả. Gia Đại hồi 4g, Ích trí nhân 8g, Bạch đậu khấu
4g, Thảo quả 6g.
Nếu bệnh nhân mệt mỏi, chán ăn, lợm giọng bội Hoàng kỳ 16g, Cam thảo
chích 12g. Nếu bệnh nhân đầy chướng bụng, tiêu sệt bội thêm Can khương 8g,
Cao lương khương 8g.
Vị thuốc
Dƣợc tính y học cổ truyền

long, Tỳ du, Đại đô, Thiếu phủ. Ôn châm hoặc cứu các huyệt nói trên.
23

1.7.3. Quan điểm kết hợp đông tây y trong bệnh dạ dày – tá tràng loét
+ Thể Khí Trệ so với YHHĐ có thể là giai đoạn đầu của loét có kèm theo
viêm niêm mạc dạ dày, tăng cường tính của thành dạ dày, gây tăng áp lực trong
dạ dày, sinh ra ợ hơi, đau,đầy trướng vùng Thượng Vị, chóng mặt.
+ Thể Hỏa Uất so với YHHĐ có thể là giai đoạn tăng tiết dịch theo sinh lý
bịnh: Lo lắng, tức giận… làm sung huyết niêm mạc dạ dày, làm cho chất chua
tăng, các chất dịch vị tăng kèm theo Acid Chlohydric tăng, kích thích lên dây
thần kinh gây đau.
+ Thể Huyết Ứ so với YHHĐ có thể là giai đoạn đau nhất: Phù nề trong ổ
loét, dạ dày tăng co bóp, lôi kéo dây thần kinh gây đau. Hoặc do các chất hóa
học của dịch vị và chất độc của tế bào bị loét, hủy hoại, kích thích lên dây thần
kinh gây đau.
Cũng có thể tương ứng với thể Dạ dày tá tràng bị loét có biến chứng chảy
máu, gây ra ói ra máu, ỉa ra máu…
+ Thể Tỳ Vị Hư Hàn, so với YHHĐ có thể là loại dạ dày đau nơi người
bị suy nhược, niêm mạc dạ dày bị teo, làm cho độ chua trong dịch vị giảm lượng
Acid Chlohyric không đủ để diệt vi khuẩn kèm theo giảm men tiêu hóa (pepsin),
độ co bóp của thành dạ dày giảm làm cho thức ăn khó tiêu hóa, dễ lên men và
gây chướng hơi.
Việc phân chia và so sánh này sẽ giúp ích rất nhiều cho việc chọn dùng
thuốc trong điều trị để thích hợp. 24

Chƣơng 2
ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1. Thiết kê nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.2.2. Cỡ mẫu: Chọn ngẫu nhiên 36 bệnh nhân loét dạ dày tá tràng đang điều trị
tại Khoa nội Bệnh viện 199
2.2.3. Tiến độ nghiên cứu
- 15/7/2013 đến 20/7/2013: phỏng vấn
- 20/7/2013 đến 1/8/2013: xử lí số liệu
- 1/8/2013 đến 10/8/2013: viết báo cáo
2.2.4. Phƣơng pháp điều tra số liệu
- Dùng phiếu điều tra gồm 9 câu hỏi ngắn gọn, dễ hiểu phù hợp với mọi
trình độ và nhận thức của bệnh nhân loét dạ dày tá tràng.
- Phỏng vấn trực tiếp 36 bệnh nhân được chọn ngẫu nhiên để thu thập
thông tin về hiểu biết của bệnh nhân về chế độ ăn của bệnh loét dạ dày tá tràng.
2.3. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Đánh giá sự hiểu biết của bệnh nhân về chế độ ăn cho bệnh nhân loét dạ
dày tá tràng.
1. Hiểu biết nguyên tắc chung về chế độ ăn cho bệnh nhân loét dạ dày tá
tràng:
Ăn mềm, lỏng dễ tiêu
Ăn nhẹ từng ít một, nhai kỹ
Không nên ăn quá nhiều, quá nhanh
Tất cả ý trên
Không biết


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status