Truyền cho lí luận văn học linh hồn của chủ nghĩa Mác là phép biện chứng pot - Pdf 19

Truyền cho lí luận văn học
linh hồn của chủ nghĩ
a Mác là
phép biện chứng
Nhìn vào những công trình lí thuyết hiện có ở Việt Nam, nhất là hệ
thống sách giáo khoa, giáo trình đang được sử dụng trong các trường đại
học và cao đẳng từ Bắc chí Nam, mọi người đều thấy, nền lí luận văn học
của chúng ta đã quá già cỗi, xơ cứng, lạc hậu một cách thảm hại. Ai cũng
muốn có sự đổi mới. Mươi mười lăm năm trở lại đây, giới nghiên cứu đã đổ
nhiều tâm trí và giấy mực nhằm đẩy nhanh tiến trình hiện đại hoá nền lí
luận văn học nước nhà. Nhưng đổi mới lí luận văn học xem ra chẳng mấy
dễ dàng, không phải là chuyện ngày một ngày hai. Do đâu mà đổi mới lí
luận văn học lại khó đến thế? Nên làm những gì để đổi mới lí luận văn học?
Tôi nghĩ rằng, muốn đổi mới lí luận văn học, nên giải quyết mấy vấn đề cốt
tử sau đây:
1. Thứ nhất: Đổi mới mô hình lí thuyết, mở rộng hệ quy chiếu của lí
luận văn học(1). Rất dễ nhận ra, nền lí luận văn học của chúng ta được
kiến tạo trên nền tảng của loại mô hình lí thuyết truyền thống. Các mô hình
lí luận văn học hiện đại thường dồn trọng tâm lí thuyết vào những phạm trù
bản thể luận nghệ thuật. Nghiên cứu các phương thức tồn tại của văn học
như một nghệ thuật là loại vấn đề quan trọng nhất nằm trong hệ quy chiếu
của nó. Các mô hình lí luận văn học truyền thống lại thường dồn trọng tâm
vào các phạm trù ngoài văn học, như “tự nhiên”, “đạo”, “ý niệm tuyệt đối”,
“hiện thực” Hệ quy chiếu của nó chủ yếu là những vấn đề nhận thức luận,
quyết định luận nghệ thuật. Dựa vào sự phân biệt đại quát như thế, tôi đặt
nền lí luận văn học hiện nay của Việt Nam vào hàng ngũ những mô hình lí
thuyết truyền thống. Có đủ cơ sở tư liệu để chứng minh, đây là mô hình lí
thuyết được hoàn thiện ở Liên Xô và Trung Quốc vào những năm 30 và
những năm 40 của thế kỉ trước. Nó được hoàn thiện trên cơ sở những ý
kiến của Mác, Ăngghen, Lênin về văn nghệ.
Ta biết, các vị kinh điển của chủ nghĩa Mác bàn về những vấn đề mĩ

trong đó, trình độ tự nhận thức của nhân dân và tính tích cực xã hội của
chủ thể sáng tạo giữ vai trò quyết định. Ta hiểu vì sao khi phân tích tác
phẩm của Banzắc, Mác và Ăngghen nhấn mạnh sự chiến thắng của chủ
nghĩa hiện thực đối với thiên kiến tư tưởng của nhà văn. Nhưng khi phân
tích sáng tác của L. Tônxtôi, Lênin lại đặc biệt chú ý tới sự chiến thắng của
thế giới quan, tới việc Tônxtôi “đã đoạn tuyệt với tất cả các quan niệm thịnh
hành” của cái giai cấp mà ông xuất thân để đến với lập trường nông dân gia
trưởng. Ta cũng hiểu vì sao Mác và Ăngghen chỉ nhắc tới tính khuynh
hướng của văn học nghệ thuật, còn Lênin là tác giả của bài báo nổi tiếng
Tổ chức đảng và văn học mang tính đảng (1905).
Vào những năm 30, 40 của thế kỉ trước, tinh thần thực tiễn và tính
chiến đấu trong quan điểm mĩ học của Mác, Ăngghen, Lênin có sức hấp
dẫn to lớn đối với lí luận văn nghệ Mac-xit. Dựa vào những ý kiến về văn
học nghệ thuật của các vị kinh điển chủ nghĩa Mác, lí luận mĩ học và nghệ
thuật ở Liên Xô, Trung Quốc, tiếp theo là ở Việt Nam và các nước xã hội
trước kia đã xây dựng một mô hình lí thuyết mà hệ quy chiếu của nó là các
vấn đề phản ánh luận, nhận thức luận và tư tưởng hệ. Hệ quy chiếu của
nền lí luận được kiến tạo theo mô hình truyền thống này đã mở ra một
trường nhìn vào thế giới văn học mà các hệ thống lí thuyết được xây dựng
trên nền tảng của những hệ quy chiếu khác không thể biết tới. Nhưng ở đời
“bỉ sắc tư phong”, cái được thường đi liền với cái mất. Dồn trọng tâm vào
các phạm trù ngoài văn nghệ như “hiện thực xã hội”, “thế giới quan”, “lập
trường tư tưởng”, “quan điểm giai cấp”…, chính hệ quy chiếu của cái mô
hình lí luận nghệ thuật rất ưu việt kia cũng đã tạo ra thành luỹ ngăn chắn
tầm mắt người ta hướng về phía khác. Quả là khó có thể tìm thấy trong di
sản của Mác, Ăngghen, Lênin những ý kiến phân tích mang tính chất mở
rộng về những vấn đề bản thể luận, hình thái luận của văn học nghệ thuật.
Điều đó không có nghĩa là các vị kinh điển không nghĩ tới đặc trưng của
hoạt động thẩm mĩ. Nhưng, như đã nói, Mác, Ăngghen, Lênin bàn về văn
học nghệ thuật chủ yếu từ góc độ triết học, xã hội học và những nhiệm vụ

nhạt thì cũng thường tỏ thái độ “kính nhi viễn chi” đối với lí luận văn học.
Đã đến lúc phải đổi mới mô hình lí thuyết ngót nghét một trăm năm
tuổi. ở phương Tây, người ta cũng thường xuyên tìm cách đổi mới các mô
hình lí luận văn học. Để đổi mới lí thuyết văn học, các trường phái hậu hiện
đại có vẻ như muốn quay lại với những nguyên tắc truyền thống. Tôi không
tán thành cách làm siêu hình, lấy sự cực đoan này thay thế cho một sự cực
đoan khác, đem một mô hình lí thuyết này thay thế cho một mô hình kia.
Bởi vì làm như thế không bao giờ có được sự đổi mới chân chính. Trong
thế giới hiện đại hôm nay, muốn mở đường cho tư suy sáng tạo và tư duy
khoa học, mĩ học và lí luận nghệ thuật phải mở rộng các hệ quy chiếu, dân
chủ hoá tri thức để có thể nhìn vào thế giới văn học từ nhiều bình diện,
nhiều góc độ khác nhau.
2. Thứ hai: Giải phóng lí luận thoát khỏi ý thức thẩm mĩ và quan niệm
nghệ thuật về một nền văn học chức năng. Xu thế vận động của tiến
trình văn học bao giờ cũng chịu sự chi phối trực tiếp bởi ý thức thẩm mĩ và
quan niệm nghệ thuật của thời đại. Quan niệm nghệ thuật và ý thức thẩm
mĩ của thời đại là hiện tượng phức tạp, không thuần nhất, tồn tại dưới nhiều
hình thức. Nó tồn tại trong tư duy sáng tạo của nhà văn, nhà thơ. Nó hiện
hữu trong cách đánh giá, giải thích các hiện tượng nghệ thuật của giới
nghiên cứu, phê bình văn học. Nó có mặt trong hoạt động tiếp nhận văn
học của công chúng độc giả. Lí luận văn học như một hệ thống khoa học
nghiêm ngặt chỉ là nơi thể hiện tập trung nhất, trực tiếp nhất ý thức thẩm mĩ
và quan niệm nghệ thuật của thời đại. Chính ý thức thẩm mĩ và quan niệm
nghệ thuật của mỗi thời đại là nền tảng để kiến tạo ra các mô hình lí thuyết.
Chừng nào chưa có một cuộc cách mạng làm đổi thay ý thức thẩm mĩ và
quan niệm nghệ thuật của thời đại, chừng ấy chưa thể nói tới việc thay đổi
các mô hình lí thuyết. Ta hiểu vì sao, có những mô hình lí thuyết đã trở nên
xơ cứng mà vẫn không ai có thể lay chuyển được thành luỹ của nó. Cho
nên, đổi mới ý thức thẩm mĩ và quan niệm nghệ thuật của thời đại là một
trong những điều kiện tiên quyết để đổi mới lí luận văn học.

đến một cái tin vắn đều phải cố viết sao cho thật ngắn, viết xong đưa cho
một chú giao thông Thổ đọc trước, hỏi xem có hiểu cả không. Chỗ nào chú
không hiểu, viết lại. Chữ nào chú chưa quen, thay bằng chữ khác. (…)
Chiều chiều, các anh các chị Thổ ở các lán chung quanh đến lán chúng tôi
nói chuyện hay đọc báo. Tôi cũng có dịp hiểu trình độ hiểu biết, lời ăn tiếng
nói, cách làm ăn và những băn khoăn mong muốn của họ hơn. Dựa vào
đây tôi uốn nắn lời văn và tìm ra những đầu đề viết. Nói được một điều thiết
thực, đăng được một cái tin làm người ta phải kể lại với nhau, làm được
những câu ca dao thật mộc mạc nhưng không đến nỗi thành vè, viết được
một bài thật ít lời nhưng vẫn đủ ý và đọc lên đàn bà, trẻ con cũng hiểu, tôi
cũng thấy sung sướng như viết được một truyện ngắn chính tôi ưng ý. Đôi
lúc, anh em và chính tôi cũng lo rằng lối viết như vậy có thể làm hỏng lối
văn tiểu thuyết đã có ít nhiều người thích của tôi. (…) Bây giờ đây, tôi thấy
yên lòng về những bài viết cỏn con của tôi hơn. Nó chẳng nói được điều gì
sâu sắc lắm đâu. Nhưng nó làm cho người đọc hiểu biết hơn, tin tưởng vào
cuộc kháng chiến của ta hơn, nó đẩy họ cũng hăng hái giúp ích cho cuộc
kháng chiến của toàn dân và gợi cho họ những việc họ có thể làm để giúp
ích cho kháng chiến. Tôi chỉ mong có thế”(3). Đọc lại những lời tâm sự chân
thành của Nam Cao, ta hiểu vì sao trong những cuộc tranh luận ở Việt Bắc,
thơ tự do, thơ không vần bị phê phán gay gắt đến thế. Ta cũng hiểu vì sao
Nam Cao viết Đôi mắt, và vì sao Tô Hoài gọi truyện ngắn này là “tuyên
ngôn nghệ thuật” của thế hệ nhà văn cùng lứa với Nam cao trong những
ngày đầu tham gia cách mạng và kháng chiến. Tuyên ngôn nghệ thuật
trong Đôi mắt trước hết là tuyên ngôn về chỗ đứng, về thái độ công dân của
đội ngũ trí thức văn nghệ sĩ quyết tâm từ bỏ thói quen sinh hoạt cũ, lập
trường tư tưởng cũ, từ bỏ cả quan niệm về một thứ “nghệ thuật cao siêu”
để phục vụ kháng chiến, phục vụ cách mạng. Trong bản tuyên ngôn ấy, nội
dung văn học được tách ra khỏi hình thức thẩm mĩ để đặt hình thức vào vị
trí thứ yếu; chức năng xã hội được đặt lên trước phẩm chất nghệ thuật để
đồng nhất nghệ thuật với tuyên truyền.

một nghệ thuật cao hơn”(4). Chiến tranh giờ đây đã lùi xa vào quá vãng, đất
nước đã thống nhất, cuộc sống trở lại với những quy luật thường nhật, thời
đại cho ta những điều kiện đủ để xây dựng “một nghệ thuật cao hơn”, mà
không đòi hỏi nghệ sĩ phải dồn sức vào những việc “không nghệ thuật”. Tôi
muốn nói, đã đến lúc có thể giải phóng lí luận văn học thoát khỏi ý thức
thẩm mĩ và quan niệm nghệ thuật về một nền văn học chức năng gắn với
những lợi ích xã hội trực tiếp. Đó là điều kiện để đổi mới lí thuyết, làm cho lí
thuyết trở thành mũi nhọn khoa học có sức mạnh đặc biệt.
3. Thứ ba: Lí luận văn học phải trở thành một khoa học. Trên phạm vi
toàn thế giới, trước thế kỉ XVII, tất cả các hệ thống lí luận văn học đều chưa
phải là khoa học đúng với ý nghĩa hiện đại của nó. Bởi vì, từ thế kỉ XVII đổ
về trước, quan niệm lịch sử về tiến trình văn học chưa xuất hiện. Tư duy lí
thuyết của nhân loại chưa nhận ra lịch sử văn học là một tiến trình vận động
tự nhiên, không lặp lại. Khi sự tiến hoá của văn học chưa được phát hiện,
thì lí thuyết không thể tách khỏi tiến trình lịch sử để nghiên cứu văn học như
một đối tượng có thể xem xét, khám phá bằng cái nhìn từ phía bên ngoài.
Nói lí luận văn học từ thế kỉ XVII đổ về trước chưa thực sự trở thành khoa
học là với ý nghĩa như thế. Quả vậy, ở thời cổ đại, lí luận văn học và mĩ học
chưa tách khỏi cái cây trí tuệ chung của nhân loại. Tư duy nguyên hợp và
phép biện chứng tự phát không cho phép Platôn và Aritxtôt, những đại biểu
xuất sắc nhất của mĩ học cổ đại, cảm nhận văn học như một tiến trình
không ngừng vận động và phát triển. Các nhà lí luận Phục hưng cũng
không nhìn thấy hoạt động sáng tạo ở thời đại họ đã mở ra một giai đoạn
mới trong lịch sử phát triển của nghệ thuật nhân loại. Họ không xem thời
đại Phục hưng là thời đại mới. Trong ý thức của họ, đây chỉ là thời đại trở
về với những giá trị, những cội rễ đích thực của đời sống, thời đại hoàn
nguyên của những chuẩn mực từng có từ thời cổ đại, nhưng đã bị phôi pha,
nghiêng lệch trong suốt đêm trường trung cổ. Cho nên, mĩ học Phục hưng
thường đối chiếu, so sánh văn học đương đại với văn học cổ đại, nhưng đó
không phải là sự đối sánh khoa học. Người ta so sánh chẳng qua là để kêu

nó có sứ mệnh định chế, lập pháp, đưa văn học vào khuôn phép, luật lệ.
Cũng bởi thế, tính quy phạm là đặc điểm chung của các hệ thống lí luận
văn học thời cổ đại, Phục hưng và cổ điển chủ nghĩa. Từ thế kỉ XVIII, phép
biện chứng lịch sử buộc lí luận văn học xem văn học là đối tượng nghiên
cứu, cần phải phân tích, giải thích bằng cái nhìn từ bên ngoài. Lí luận văn
học nhờ thế trở thành khoa học. Nó vừa là lí thuyết lịch sử văn học, có
nhiệm vụ khái quát các khái niệm, phạm trù phản ánh bản chất, quy luật
vận động của tiến trình văn học, vừa là lí thuyết phương pháp, có chức
năng đề xuất hệ thống nguyên tắc, thao tác, thủ pháp tiếp cận văn học với
những cấu trúc và phương thức tồn tại đặc thù của nó.
Nền lí luận văn học hiện đại Việt Nam còn vô cùng non trẻ. Như đã
nói, đó là một mô hình lí thuyết được kiến tạo trên nền tảng những ý kiến
của các vị kinh điển chủ nghĩa Mác về văn học nghệ thuật. Trong mô hình lí
thuyết ấy, ý kiến của các vị kinh điển không còn là đối tượng khảo cứu lịch
sử, mà đã được biến thành những chân lí duy nhất đúng, những nguyên lí
bất di bất dịch của văn học nghệ thuật. Chẳng hạn, trong thực tiễn sáng tạo,
văn học có thể thiên về sự biểu hiện tư tưởng, tình cảm. Nhưng dựa vào ý
kiến của các vị kinh điển, hệ thống lí luận của chúng ta chỉ thừa nhận
nguyên lí văn học phản ánh hiện thực. Hoặc tính giai cấp vốn chỉ là một
hình thái lịch sử của nhân tính, nhưng lí luận văn học của chúng ta lại xem
nó giống như là thuộc tính trường cửu của văn chương. Không phải ngẫu
nhiên, suốt một thời gian dài, sách mĩ học và lí luận văn học viết theo quan
điểm Mác xit thường được gọi là sách “nguyên lí”:Nguyên lí mĩ học Mác -
Lênin, Nguyên lí lí luận văn học Hình như để phù hợp với nội dung của
những “nguyên lí”, sách lí luận văn học của chúng ta thường sử dụng ngôn
ngữ chính luận nhiều hơn là ngôn ngữ khoa học. Có thể tìm thấy trong
nhiều cuốn giáo trình lí luận văn học đang được sử dụng giảng dạy ở hệ
thống các trường đại học, cao đẳng của chúng ta tên gọi các chương mục
đầy chất chính luận theo kiểu thế này: Kiên trì quan điểm giai cấp, phê phán
“tính người” và “chủ nghĩa thành phần”; Nêu cao lí tưởng nhân đạo chân

không phải của riêng ai./.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status