MỤC LỤC
Mở đầu 2
Chương I: Lý luận chung về nhà nước và nhà nước xã hội chủ nghĩa 5
1.1 Nguồn gốc, bản chất, chức năng và các kiểu nhà nước trong lịch sử 5
1.1.1 Nguồn gốc của nhà nước 5
1.1.2 Bản chất của nhà nước 8
1.1.3 Chức năng của nhà nước 9
1.1.4 Các kiểu nhà nước trong lịch sử 12
1.2 Nhà nước xã hội chủ nghĩa – một kiểu nhà nước đặc biệt trong lịch sử phát triển
của nhân loại 15
1.2.1 Tính tất yếu của nhà nước xã hội chủ nghĩa 15
1.2.2 Bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa 17
1.2.3 Chức năng và nhiệm vụ của nhà nước xã hội chủ nghĩa 19
Chương II: Thực trạng và giải pháp xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ở Việt Nam hiện nay 27
2.1 Thực trạng xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân,
vì nhân dân ở Việt Nam hiện nay 27
2.1.1 Thành tựu 27
2.1.2 Hạn chế 32
2.2 Một số giải pháp xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân,
do nhân dân, vì nhân dân ở Việt Nam trong thời gian sắp tới 33
2.2.1 Đổi mới, nâng cao chất lượng công tác lập pháp, giám sát tối cao của Quốc hội
đối với tổ chức và hoạt động của Nhà nước 33
2.2.2 Cải cách nền hành chính nhà nước 37
2.2.3 Đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống bệnh quan liêu, tham nhũng trong bộ máy
nhà nước 42
2.2.4 Xây dựng, phát triển và hoàn thiện hệ thống pháp luật 48
2.2.5 Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ và tăng cường vai trò kiểm tra, giám sát
của nhân dân đối với các tổ chức trong bộ máy nhà nước 54
Kết luận 60
Tài liệu tham khảo 63
trình tạo dựng những nền tảng quan trọng cho sự đồng thuận theo tư tưởng phát triển của
2
thời kỳ mới đã được Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra nhằm đạt tới mục tiêu xây dựng
thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Ý thức được tầm quan trọng của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân đối với sự thành công của công cuộc đổi
mới đất nước nên tôi chọn đề tài “ Quan điểm Chủ nghĩa Mác –Lênin về nhà nước và xây
dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân ở
Việt Nam hiện nay”.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Liên quan đến đề tài này đã có nhiều công trình nghiên cứu của nhiều nhà lý luận ở
nhiều khía cạnh, góc độ khác nhau.
- Nguyễn Thị Doan, “Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, mang đậm nét dân tộc và nhân đạo”, Tạp chí
Cộng sản, số 803 ( 9/2009 ).
- Lê Xuân Hựu, “Xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân”, Tạp
chí Cộng sản, số 61 (2004)
- Nguyễn Duy Quý, “Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa Việt Nam”, Tạp chí Triết học, số 11 (11/2007) .
- Trần Thành, “Vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
hiện nay”, Tạp chí Triết học, số 4 (2003).
- Nguyễn Đăng Thông, “Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”, Tạp chí Lịch sử Đảng, (1/2006).
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích: Trên cơ sở phân tích nghiên cứu vấn đề nhà nước và đi sâu phân tích
việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì
nhân dân ở nước ta trong thời gian qua nhằm đưa ra những giải pháp góp phần hoàn thiện
bộ máy pháp quyền của nước ta hiện nay.
Nhiệm vụ: Đưa ra các giải pháp góp phần xây dựng hoàn thiện bộ máy pháp quyền
của nước ta theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Aquin (1225-1275), nhà triết học và thần học thời kì trung cổ ở châu Âu, cho rằng nhà
nước là do thượng đế sáng tạo ra để bảo vệ trật tự chung, phản ánh quyền lực mang tính
siêu nhiên. Nhà nước mang “thần tính”; do vậy phục tùng nhà nước chính là phục tùng
quyền lực của thượng đế. Thuyết “gia trưởng” quan niệm nhà nước như là sự phát triển
của các quan hệ gia đình. Quyền lực nhà nước được ví như quyền lực của người cha đối
với con cái. Vì vậy, quyền lực của nhà nước là tối thượng, tuyệt đối, vượt trên mọi lợi ích
của phe nhóm, cục bộ. Nhà nước không bao hàm bản chất giai cấp.
Trong cuộc đấu tranh chống lại chế độ phong kiến bảo thủ, hà khắc, các nhà tư
tưởng của chủ nghĩa tư bản đã đưa ra các học thuyết về nguồn gốc và bản chất của nhà
nước để phản ánh tư tưởng về tự do bình đẳng bác ái. Tuy nhiên, quan điểm của các nhà
lý luận tư sản vẫn chưa đưa ra được lời giải thích căn bản về cơ sở kinh tế, xã hội của nhà
nước và do vậy, chưa làm rõ được một cách khoa học về nguồn gốc hình thành và bản
chất của nhà nước.
Vào những năm 40 của thế kỉ XIX, chủ nghĩa Mác – Lênin ra đời đã xây dựng một
học thuyết mới về nhà nước. Tiền đề của học thuyết này là xem nhà nước như một hiện
tượng lịch sử, xuất hiện và tồn tại trong những điều kiện kinh tế, xã hội nhất định.
Trong nhiều tác phẩm của mình, tập trung nhất là các tác phẩm Nguồn gốc gia
đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước, Nhà nước và cách mạng, Chủ nghĩa Mác và vấn
đề nhà nước…, các nhà kinh điển đã chứng minh rằng không phải khi nào xã hội cũng có
nhà nước. Trong xã hội cộng sản nguyên thuỷ không có nhà nuớc. Phù hợp với tình trạng
kinh tế còn thấp kém, chưa có sự phân hoá giai cấp, tổ chức đầu tiên của xã hội trong xã
hội cộng sản nguyên thuỷ là thị tộc, bộ lạc. Đứng đầu các thị tộc, bộ lạc là những tộc
5
trưởng do nhân dân bầu ra. Quyền lực của người đứng đầu những cơ quan quản lý xã hội
dựa vào sức mạnh đạo đức và uy tín. Quyền hành và chức năng của cơ quan lãnh đạo
trong thời kì đó chưa mang tính chính trị.
Trong thị tộc, bộ lạc khi đó chưa hình thành một tổ chức quyền lực chính trị nào để
cai quản công việc chung. Ph.Ăngghen viết: “khi ở trong bộ lạc, mọi thành viên nam giới
đến tưổi thành niên đều là chiến binh thì vẫn chưa có một quyền lực công cộng tách khỏi
nhân dân và có thể đứng đối lập với nhân dân” [1; tr.159]. “Do nhu cầu tồn tại của thị tộc,
người lần đầu tiên trong lịch sử xuất hiện chế độ người bóc lột người.
Thứ hai, do sự dư thừa tương đối sản phẩm tiêu dùng đã làm nảy sinh ở những kẻ
có quyền lực lòng tham muốn chiếm đoạt để làm của riêng. Họ sử dụng mọi quyền lực có
trong tay để thực hiện tham vọng đó. Đây là nguyên nhân thúc đẩy phân hoá xã hội. Giai
cấp xuất hiện và sự đối kháng, mâu thuẫn giữa giai cấp bóc lột với giai cấp bị bóc lột
ngày càng trở nên gay gắt và sâu sắc.
Thứ ba, do nạn chiến tranh, cướp bóc giữa các bộ lạc, thị tộc làm cho quyền lực
của các thủ lĩnh quân sự được củng cố và tăng cường. Cùng với sự ra đời của chế độ phụ
quyền, người trong một gia đình có quyền thừa kế chức thủ lĩnh quân sự, điều đó làm cho
của cải, địa vị xã hội của họ gia tăng và càng ngày càng được củng cố, mở rộng. Họ bóc
lột nhân dân ngày càng thậm tệ, họ trở thành lực lượng đối lập với nhân dân.
Thứ tư, đó chính là cơ quan tổ chức của thị tộc, bộ lạc dần dần thoát khỏi gốc rễ
của nó trong nhân dân, các tổ chức đó thành cơ quan đối lập, thống trị và áp bức nhân
dân.
Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người lần đầu tiên xuất hiện hai giai cấp đối
kháng đó là giai cấp chủ nô và giai cấp nô lệ. Điều này dẫn đến nguy cơ chẳng những các
giai cấp này tiêu diệt lẫn nhau mà còn tiêu diệt luôn cả xã hội. Để bảo vệ quyền lợi của
mình thì các thế lực nắm quyền về kinh tế lập ra một bộ máy bạo lực để trấn áp các thế
lực chống đối khác, hướng xã hội phát triển theo quan niệm và lợi ích của giai cấp thống
trị đó chính là nhà nước. Đây là một cơ quan quyền lực với một thiết chế có tiền thân từ
những tổ chức phi chính trị xuất hiện ngay trong xã hội thị tộc, bộ lạc. Trong xã hội thị
tộc, bộ lạc đã xuất hiện những thiết chế có chức năng bảo vệ lợi ích chung của cộng đồng;
giờ đây, xuất hiện giai cấp, các thiết chế đó trở thành công cụ bảo vệ lợi ích của một giai
cấp. Từ chỗ là tôi tớ của xã hội nó trở thành chủ nhân, trở thành kẻ thống trị toàn xã hội.
7
Như vậy, sự ra đời của nhà nước chứng tỏ rằng mâu thuẫn giai cấp ngày càng sâu
sắc, không thể điều hoà được. Theo Lênin: “Nhà nước là sản phẩm và biểu hiện của
những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hoà được. Bất cứ ở đâu, hễ lúc nào và chừng
nào mà, về mặt khách quan, những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hoà được, thì nhà
nước xuất hiện. Và ngược lại, sự tồn tại của nhà nước chứng tỏ rằng những mâu thuẫn
cấp đối diện, khi cuộc đấu tranh giữa chúng đạt tới thế cân bằng nhất định; hoặc nhà nước
cũng có thể là sản phẩm của sự thoả hiệp về quyền lợi tạm thời giữa một số giai cấp để
chống lại một giai cấp khác. Những trường hợp trên là có tính ngoại lệ và tạm thời. Sự
phát triển của kinh tế - xã hội nói chung và cuộc đấu tranh giai cấp nói riêng sẽ phá vỡ thế
cân bằng giữa các giai cấp thù địch nhau. Khi đó quyền lực nhà nước sẽ tập trung vào tay
một giai cấp.
Thực tế lịch sử mang lại nhiều bằng chứng nói lên rằng, dù được che dấu dưới hình
thức tinh vi như thế nào, nhà nước trong mọi xã hội có giai cấp đối kháng cũng chỉ là
công cụ bảo vệ lợi ích cơ bản của giai cấp thống trị, cũng chỉ là bộ máy trấn áp của một
giai cấp này đối với một giai cấp khác.
Nhà nước là quyền lực chính trị của một giai cấp. Nhưng giai cấp nắm chính quyền
nhà nước lại nhân danh xã hội để điều hành và quản lý xã hội. Do đó, nhà nước trong thực
tế tồn tại như một công quyền, như một quyền lực công cộng. Vì vậy, nhà nước không
những có tính giai cấp, mà còn mang tính xã hội. Chức năng giai cấp của nhà nước bắt
nguồn từ lý do ra đời của nhà nước và tạo thành bản chất chủ yếu của nó. Chức năng xã
hội bắt nguồn từ nhiệm vụ phải giải quyết những công việc chung của xã hội. Tuy nhiên ở
đây cần phân biệt những chức năng xã hội không có tính chất chính trị theo kiểu các cơ
quan thị tộc, bộ lạc đảm nhiệm với chức năng xã hội do nhà nước thực hiện. Nhà nước
thực hiện chức năng xã hội trong mối liên hệ mật thiết với chức năng giai cấp. Hơn nữa,
chức năng xã hội còn là cơ sở cho sự thống trị giai cấp. Khi nhà nước nằm trong tay “giai
cấp đại biểu cho toàn thể xã hội trong thời đại của mình”, nghĩa là trong tay giai cấp đang
đóng vai trò tiến bộ và cách mạng, thì tính tích cực của chức năng xã hội biểu hiện càng
rõ rệt.
1.1.3 Chức năng của nhà nước
9
Khi tiếp cận với nhà nước từ góc độ khác nhau, người ta có thể phân chia các chức
năng của nhà nước thành những loại khác nhau. Tất cả chức năng khác nhau đó đều là
những cái vốn có của nhà nước. Khi xem xét nhà nước từ góc độ tính chất của quyền lực
chính trị, nhà nước có chức năng là công cụ thống trị chính trị của giai cấp và thực hiện
chức năng xã hội mà giai cấp thống trị cần phải làm. Khi xem xét phạm vi tác động của
Chức năng đối nội là những mặt hoạt động thể hiện quyền lực của nhà nước bên
trong lãnh thổ quốc gia nhằm duy trì trật tự kinh tế, xã hội, chính trị và những trật tự khác
hiện có trong xã hội theo lợi ích giai cấp cầm quyền dù lợi ích đó đã được luật hoá hay
chưa. Với chức năng này, nhà nước tiến hành các công việc như:
- Giữ gìn an ninh, trật tự xã hội, trấn áp các thế lực chống đối.
- Quản lý về kinh tế, giáo dục, văn hoá…
- Thông tin, tuyên truyền hệ tư tưởng của giai cấp thống trị.
Chức năng đối ngoại là những mặt hoạt động thể hiện quan hệ của một nhà nước
đối với các nhà nước khác trên trường quốc tế. Tuỳ thuộc vào bản chất của nhà nước, vào
tương quan lực lượng cũng như vị trí của quốc gia trên trường quốc tế, mà nội dung chức
năng này có thể là việc tổ chức phòng thủ đất nước, chống ngoại xâm, cũng có thể là việc
mở rộng lãnh thổ bằng cách phát động chiến tranh xâm lược, tìm kiếm thị trường, thuộc
địa. Ngày nay trong xu thế hoà bình, hợp tác, chức năng đối ngoại thể hiện ở việc tổ chức,
thực hiện các quan hệ hợp tác song phương hoặc đa phương về nhiều mặt (kinh tế, chính
trị, văn hóa ); sự gia nhập vào tổ chức quốc tế và khu vực. Hội nhập và toàn cầu hoá trở
thành những nhân tố chi phối đường lối đối nội lẫn đối ngoại của các nhà nước.
Chức năng đối nội và chức năng đối ngoại về cơ bản luôn thể hiện tính giai cấp.
Nghĩa là hoạt động diễn ra trong hai lĩnh vực trên đều là hoạt động có tính định hướng,
phản ánh ý chí của giai cấp thống trị. Tuy nhiên, nói như thế không có nghĩa là mọi hoạt
động của nhà nước đều chỉ đơn thuần phản ánh lợi ích giai cấp, khi nghiên cứu lịch sử
chúng ta có thể thấy, trong bất kì nhà nước nào, ngoài những chức năng mang tính giai
cấp ra, còn phải thực hiện những hoạt động mang tính xã hội khác: Chẳng hạn, duy trì trật
tự cộng đồng, phát triển giao thông, xây dựng nhà ở, mở mang các hệ thống thuỷ lợi, khai
hoang, phát triển giáo dục…Đây là những đòi hỏi khách quan của xã hội đối với nhà
nước, mà muốn đứng vững nhà nước nào cũng phải thực hiện.
11
Chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước là hai mặt của một thể thống nhất.
Chức năng đối nội là chủ yếu, bởi vì nhà nước ra đời và tồn tại do cơ cấu giai cấp bên
trong của mỗi quốc gia quy định; sự thống trị của mỗi giai cấp được thực hiện trên địa bàn
mỗi quốc gia dân tộc. Lợi ích của giai cấp thống trị trước hết và chủ yếu là duy trì địa vị
xuất từ đồ đá sang kim loại; việc đa dạng hoá sản xuất và phân công lao động; khả năng
tạo ra sản phẩm thặng dư trong sản xuất…Tuy nhiên, sự phát triển này cũng đã làm xuất
hiện chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và từ đó cũng làm xuất hiện giai cấp và
đối kháng giai cấp – tiền đề của sự ra đời và tồn tại của nhà nước trong lịch sử.
Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau do hoàn cảnh lịch sử và địa lý chi phối,
song về bản chất, các nhà nước chủ nô đều là công cụ của giai cấp chủ nô dùng để áp bức,
bóc lột người nô lệ. Pháp luật do nhà nước chủ nô ban hành đã hợp pháp hoá quyền lực
tuyệt đối của chủ nô đối với nô lệ và không coi nô lệ là con người. Trong nhà nước cộng
hoà dân chủ chủ nô, pháp luật quy định mọi người đều tham gia bầu cử, nhưng đó chỉ là
quyền của chủ nô và một phần những người tự do. Trong nhà nước quân chủ chủ nô, mọi
quyền hành nằm trong tay vua - người đại diện cho quyền lực của giai cấp chủ nô. Tóm
lại, nô lệ là tài sản của chủ nô; việc chủ nô sở hữu ít hay nhiều nô lệ là tiêu chuẩn đánh giá
sự giàu có và quyền lực của chủ nô. Mua bán nô lệ được thừa nhận và khuyến khích.
Theo Lênin: “Nhà nước chủ nô bao giờ cũng là một bộ máy đem lại cho chủ nô quyền lực
và khả năng cai trị tất cả những người nô lệ…là một bộ máy để duy trì những người nô lệ
trong địa vị phụ thuộc và cho phép một bộ phận này của xã hội cưỡng bức và đàn áp bộ
phận kia”[11; tr.85]. Quyền lực của chủ nô mạnh đến nỗi, trong cuộc đấu tranh của mình,
người nô lệ không thể xuất hiện với tư cách là một giai cấp; mà từng cá nhân nô lệ chỉ đấu
tranh để thoát khỏi thân phận nô lệ và mong muốn trở thành người tự do. Mục đích của
cuộc đấu tranh không nhằm hướng đến xoá bỏ giai cấp áp bức mà chỉ nhằm thoát khỏi áp
bức của cá nhân.
1.1.4.2 Kiểu nhà nước phong kiến
Đây là kiểu nhà nước gắn liền với phương thức sản xuất phong kiến. Trong
phương thức này, quan hệ sản xuất phong kiến phản ánh chế độ sở hữu về đất đai của tầng
13
lớp địa chủ, quý tộc. Người nông nô tuy không còn được xem là công cụ như thời kì nô lệ,
song họ vẫn bị trói chặt vào ruộng đất của địa chủ và chịu nhiều lao dịch.
Về bản chất, nhà nước phong kiến là công cụ để bảo vệ những đặc quyền của giai
cấp địa chủ quý tộc, đàn áp nông dân và những tầng lớp lao động khác. Nhà nước phong
kiến đặc biệt là phong kiến phương Đông được xây dựng một cách rất phức tạp với một
được thừa nhận trong xã hội phong kiến. Các thiết chế như nghị viện, chế độ phổ thông
đầu phiếu; hiến pháp và luật pháp với việc quản lý xã hội bằng pháp luật rõ ràng là một
bước tiến dài trong lịch sử nhân lọai. Tuy nhiên, nhà nước tư sản cũng không thể thoát
khỏi những hạn chế do chính cơ sở kinh tế - xã hội của nó. Đó là chế độ chiếm hữu tư
nhân tư bản chủ nghĩa đối với những tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội. Do vậy, nhà
nước tư sản cũng nhanh chóng bỏ qua những tiến bộ của thời kì đầu và ngày càng bộc lộ
rõ là công cụ của giai cấp thống trị. Thậm chí, một khi quyền lợi giai cấp có nguy cơ bị
xâm hại, giai cấp thống trị sẵn sàng áp dụng các biện pháp bạo lực để tự vệ.
Về bản chất, nhà nước tư sản là bộ máy thống trị của giai cấp tư sản đối với các
giai cấp và tầng lớp khác trong xã hội. Tuy nhiên, trong điều kiện của thế giới đương đại,
nhà nước tư sản cũng có những thích nghi nhất định. Biểu hiện cụ thể ở chỗ nhà nước tư
sản quan tâm đến các chính sách xã hội nhằm hướng tới các phúc lợi về y tế, giáo dục, cải
thiện đời sống của người nghèo v.v…Các hoạt động này làm cho bản chất giai cấp của
nhà nước tư sản khó nhận diện hơn. Các phương thức quản lý của nhà nước tư sản cũng
có nhiều thay đổi so với trước nhờ sự trợ giúp của tiến bộ kỹ thuật. Sự chi phối của những
tập đoàn tư bản ngày càng tinh vi hơn. Tất cả những yếu tố đó làm cho việc nhận diện
đúng bản chất của nhà nước tư sản là một vấn đề khó khăn, đòi hỏi phải có bản lĩnh chính
trị và nhận thức khoa học lịch sử sâu sắc.
1.2 Nhà nước xã hội chủ nghĩa – một kiểu nhà nước đặc biệt trong lịch sử phát triển
của nhân loại
1.2.1 Tính tất yếu của nhà nước xã hội chủ nghĩa
Tổng kết kinh nghiệm lịch sử của cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản và
xét địa vị kinh tế của giai cấp đó trong nền sản xuất hiện đại, C.Mác đã kết luận rằng: để
đi tới một xã hội không còn giai cấp, không còn sự bóc lột thì giai cấp vô sản phải trở
thành giai cấp thống trị và nắm lấy quyền lực chính trị để thực hiện sự thống trị chính trị
15
của mình. Nhưng giai cấp vô sản không thể chỉ chiếm lấy và sử dụng bộ máy nhà nước
sẵn có, trái lại phải đập tan “bộ máy quân phiệt quan liêu” của nhà nước cũ, thay thế nhà
nước của giai cấp bóc lột bằng một nhà nước kiểu mới, nhà nước của giai cấp vô sản.
C.Mác khẳng định, “Giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa là một
đảm bảo sự lãnh đạo của giai cấp công nhân đối với nhân dân.
Trong thời kì quá độ còn tồn tại các giai cấp đối lập nhau, đấu tranh với nhau, do
đó chuyên chính vô sản là cần thiết để đưa xã hội đi theo con đường xã hội chủ nghĩa.
Muốn vậy, quan điểm của giai cấp công nhân trên cơ sở phản ánh đúng đắn quy luật
khách quan của đời sống xã hội phải giữ vai trò chi phối. Học thuyết đấu tranh giai cấp
của Mác vận dụng vào vấn đề nhà nước và vấn đề cách mạng xã hội chủ nghĩa, tất nhiên
phải đưa đến chỗ thừa nhận sự thống trị về chính trị của giai cấp vô sản, chuyên chính của
giai cấp đó. Trong ý nghĩa như vậy, chuyên chính vô sản của giai cấp công nhân, do cách
mạng xã hội chủ nghĩa sinh ra và có sứ mệnh xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.
Chính vì vậy, sự ra đời và tồn tại của nhà nước xã hội chủ nghĩa là một tất yếu
khách quan. Tuy nhiên, đối với nhà nước xã hội chủ nghĩa, sự tồn tại chỉ là một quá độ.
Bởi vì giai cấp vô sản với mục tiêu cuối cùng của mình là xoá bỏ mọi giai cấp, xoá bỏ
mọi nhà nước thực hiện một chế độ không còn nhà nước, không còn giai cấp - xã hội cộng
sản chủ nghĩa.
Ngày nay, trước những biến động lớn do sự tác động của cách mạng khoa học kỹ
thuật hiện đại nhất là trước tình hình khủng hoảng của các nước xã hội chủ nghĩa, lý luận
về nhà nước vô sản và bản thân nhà nước vô sản trong hiện thực đang đứng trước những
thách thức sống còn. Do đó, bảo vệ học thuyết chuyên chính vô sản của chủ nghĩa Mác –
Lênin là một nhiệm vụ cấp bách. Nhiệm vụ đó đòi hỏi một mặt, phải khắc phục những sai
lầm trong nhận thức và vận dụng học thuyết đó trong thực tế, đồng thời phải nâng cao
cảnh giác đập tan những luận điệu xuyên tạc về chuyên chính vô sản của giai cấp tư sản,
cũng như chủ nghĩa xét lại, mặt khác, phải bổ sung một cách căn bản lý luận về nhà nước
vô sản và phát triển lý luận đó cho phù hợp với điều kiện mới.
1.2.2 Bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa
Nhà nước xã hội chủ nghĩa ra đời là một tất yếu lịch sử, gắn liền với nỗ lực giải
quyết xung đột giai cấp và cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc thuộc địa.
17
Nhà nước vô sản là nhà nước kiểu mới, bản chất của nhà nước đó là chính quyền
của nhân dân, là quyền lực của nhân dân. Đây là điểm khác nhau cơ bản của nhà nước vô
sản với các nhà nước của giai cấp bóc lột. Xét về phương diện giai cấp, cũng như nền tảng
Thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội mang lại cho nhà nuớc chuyên chính vô sản
nhiều hình thức mới. Tính đa dạng của nhà nuớc đó tuỳ thuộc vào điều kiện lịch sử cụ thể
của thời điểm xác lập nhà nước ấy; tuỳ thuộc vào tương quan lực lượng giữa các giai cấp
và khối liên minh giai cấp tạo thành cơ sở xã hội của nhà nước; tuỳ thuộc vào nhiệm vụ
kinh tế - chính trị - xã hội mà nhà nước đó phải thực hiện; tuỳ thuộc vào truyền thống
chính trị của dân tộc. Hình thức cụ thể của nhà nước trong thời kì quá độ có thể rất khác
nhau, nhưng bản chất chỉ là một: chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản.
Chủ nghĩa Mác – Lênin đã chỉ ra rằng nhà nước vô sản, như trên đã đề cập, là một
nhà nước đặc biệt, “nhà nước không còn nguyên nghĩa”, là nhà nước “nửa nhà nước”. Sau
khi những cơ sở kinh tế, xã hội của sự xuất hiện và tồn tại nhà nước mất đi thì nhà nước
sẽ không còn. Sự mất đi của nhà nước vô sản không phải bằng con đường “thủ tiêu”, “xoá
bỏ” mà bằng con đường “tự tiêu vong”. Sự tiêu vong của nhà nước vô sản là một quá
trình rất lâu dài.
1.2.3 Chức năng và nhiệm vụ của nhà nước xã hội chủ nghĩa
Mọi nhà nước đều có chức năng giai cấp và chức năng xã hội. Giữa hai chức năng
này luôn có mối quan hệ biện chứng. Với Nhà nước xã hội chủ nghĩa, chức năng xã hội là
thuộc tính cơ bản nhất và quan trọng nhất. Thực hiện tốt chức năng xã hội là cơ sở, là điều
kiện để nhà nước xã hội chủ nghĩa đảm bảo và giữ vững địa vị thống trị xã hội về phương
diện chính trị, đảm bảo quyền dân chủ cho nhân dân, xây dựng cơ sở để quyền làm chủ đó
được thực hiện trên thực tế. Những nhiệm vụ cơ bản thể hiện chức năng xã hội đó của nhà
nước ta hiện nay là: Thứ nhất, không ngừng mở rộng dân chủ cho nhân dân; Thứ hai, tổ
chức và quản lý kinh tế; Thứ ba, tổ chức và quản lý văn hoá, khoa học và giáo dục.
1.2.3.1 Chức năng cơ bản của nhà nước xã hội chủ nghĩa
Chúng ta đều biết, chức năng của nhà nước vừa bị quy định, vừa là sự thể hiện bản
chất của nhà nước. Tuỳ theo các tiêu chí khác nhau mà chức năng của nhà nước được đề
cập, xem xét dưới nhiều góc độ. Ở đây, nhà nước được xem xét từ góc độ tính chất của
quyền lực chính trị mà theo đó, bất kỳ nhà nước nào cũng đều có chức năng thống trị
chính trị của giai cấp (chức năng giai cấp) và chức năng xã hội. Theo quan niệm chung,
19
chức năng giai cấp là cái chỉ ra rằng, mọi nhà nước bao giờ cũng là công cụ chuyên chính
vấn đề có tính quy luật của sự phát triển và hoàn thiện nhà nước xã hội chủ nghĩa. Trong
xã hội xã hội chủ nghĩa – xã hội không còn giai cấp đối kháng, nhà nước xã hội chủ nghĩa
vẫn thực hiện hai chức năng cơ bản, nhưng cơ chế và mục đích thực hiện hai chức năng
đó đã có sự thay đổi căn bản. Cũng như mọi nhà nước khác đã từng tồn tại trong lịch sử,
nhà nước xã hội chủ nghĩa muốn thực hiện được chức năng giai cấp của mình, trước hết là
phải làm tốt chức năng xã hội, đặc biệt là việc không ngừng mở rộng dân chủ cho nhân
dân, sử dụng sức mạnh, lực lượng của mình để bảo vệ và đảm bảo tuyệt đối các quyền tự
do dân chủ cho nhân dân. Thực hiện tốt chức năng xã hội là cơ sở, là điều kiện tiên quyết
để nhà nước xã hội chủ nghĩa đảm bảo và giữ vững địa vị thống trị xã hội về mặt chính trị,
nghĩa là có đầy đủ khả năng để trấn áp sự phản kháng của các giai cấp bóc lột và các thế
lực thù địch. Điều này có nghĩa là, chức năng giai cấp và chức năng xã hội luôn có mối
quan hệ biện chứng, cái nọ làm tiền đề và là cơ sở cho cái kia. Tuy nhiên, trong điều kiện
giai cấp vô sản đã giành được chính quyền và thiết lập được nhà nước của mình, thì chức
năng giai cấp là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài; còn chức năng xã hội (mà trong đó, việc
tổ chức xây dựng xã hội mới là chủ yếu) là nhiệm vụ cơ bản, quyết định trực tiếp sự thắng
lợi hay thất bại của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Sự khác nhau căn bản giữa việc
thực hiện chức năng xã hội của nhà nước xã hội chủ nghĩa và nhà nước tư bản chủ nghĩa
là ở chỗ, nhà nước tư bản chủ nghĩa thực hiện chức năng xã hội không phải với tư cách là
mục đích, mà là phương tiện để củng cố, đảm bảo sự thống trị chính trị và kinh tế của
thiểu số trong xã hội là giai cấp tư sản đối với đa số là giai cấp công nhân và những người
lao động khác. Theo đó, việc thực hiện chức năng xã hội của nhà nước tư bản chủ nghĩa
luôn bị giới hạn trong một phạm vi chật hẹp và bị chi phối bởi quan niệm của giai cấp tư
sản, xuất phát từ những lợi ích kinh tế và chính trị ích kỷ của một thiểu số dân cư trong xã
hội. Ngược lại, việc thực hiện chức năng xã hội của nhà nước xã hội chủ nghĩa được xác
định là mục đích chứ không phải là phương tiện để nhà nước ấy đảm bảo sự thống trị
chính trị của nó. Chức năng xã hội của nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhằm đảm bảo quyền
dân chủ cho đại đa số những người lao động, xây dựng những thiết chế, cơ sở để quyền
làm chủ đó được thực hiện một cách thực sự trong thực tế.
1.2.3.2 Một số nhiệm vụ cơ bản của nhà nước xã hội chủ nghĩa
21
22
định: “mở rộng dân chủ phải đi đôi với tăng cường kỷ luật, kỷ cương; quyền lợi đi đôi với
nghĩa vụ và trách nhiệm, nghĩa vụ; dân chủ được thể chế hoá thành pháp luật; khắc phục
tình trạng vô kỷ luật, dân chủ cực đoan, lợi dụng dân chủ để gây rối”.
Ở nước ta hiện nay, các cơ quan quyền lực nhà nước đều do dân bầu ra, chính
quyền nhà nước đã trở thành công cụ sắc bén và có hiệu quả nhất để nhân dân thực hiện
quyền làm chủ của mình. Nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình chủ yếu bằng nhà
nước, đó là dân chủ đại diện. Quyền làm chủ của nhân dân còn được thực hiện một cách
trực tiếp thông qua việc tham gia vào công việc tổ chức nhà nước, tham gia bộ máy nhà
nước, quyết định các chủ trương, chính sách của Nhà nước ở các cấp…Tuy nhiên, mức độ
thực hiện dân chủ trực tiếp con phụ thuộc vào phẩm chất, trình độ, năng lực của chính
quyền nhà nước; vào trình độ dân trí, trước hết là trình độ văn hoá chính trị, văn hoá pháp
luật; vào đặc điểm lịch sử và truyền thống chính trị của dân tộc…Như vậy, thực hiện dân
chủ phải là một quá trình lâu dài từ thấp đến cao. Không thể và không bao giờ có “dân
chủ tuyệt đối” hay “dân chủ nói chung”, đặc biệt là không thể có ngay và trên mọi mặt
dân chủ trực tiếp trong điều kiện quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ điểm xuất phát thấp, nhất
là về kinh tế. Chính vì vậy, ở nước ta hiện nay, nhiệm vụ quan trọng hàng đầu là nâng cao
chất lượng dân chủ đại diện, đồng thời thực hiện chế độ dân chủ trực tiếp một cách thiết
thực, đúng hướng, có hiệu quả.
Thứ hai, tổ chức và quản lý kinh tế. Đây là chức năng cơ bản của mọi nhà nước
trên thế giới. Nhưng khác với nhà nước tư bản việc thực hiện nhiệm vụ này là để củng cố
đảm bảo sự thống trị chính trị và kinh tế của giai cấp tư sản đối với giai cấp công nhân và
nhân lao động, thì nhà nước xã hội chủ nghĩa thực hiện nhiệm vụ này là để chăm lo phát
triển đời sống chung của toàn xã hội, làm cho xã hội ổn định, nâng cao đời sống vật chất
và tinh thần cho người dân. Đó là một biểu hiện khác biệt khá đặc trưng về bản chất của
nhà nước xã hội chủ nghĩa với nhà nước của giai cấp tư sản, điều đó chứng minh cho bản
chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa đó là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân
dân.
Nước ta xây dựng chủ nghĩa xã hội bắt đầu từ một nền kinh tế chậm phát triển, còn
phổ biến là sản xuất nhỏ, nên nhiệm vụ tổ chức, quản lý kinh tế của nhà nước là hết sức
sống cần kiệm, văn minh, bài trừ mê tín dị đoan và các tệ nạn xã hội khác, chống lại mọi
biểu hiện của văn hoá ngoại lai không lành mạnh.
24
- Phát triển khoa học và công nghệ với bước đi và hình thức thích hợp, bảo đảm cơ
sở khoa học cho các quyết định quan trọng của các cơ quan lãnh đạo, quản lý coi đó là
công cụ chủ yếu để nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả của mọi hoạt động kinh tế
- xã hội.
- Đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực,
bồi dưỡng nhân tài, hình thành đội ngũ cán bộ, trí thức và những người lao động có trí
thức, có tay nghề, có đạo đức cách mạng và tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội.
Đồng thời với đó là việc giáo dục thế giới quan Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho
toàn thể nhân dân; đấu tranh không khoan nhượng với những tư tưởng, quan điểm xét lại,
cơ hội, những luận điệu xuyên tạc, chống phá sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của
nhân dân ta.
Trong công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng ta đã
xác định phát triển khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo xây dựng nền văn hoá tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là một trong những lĩnh vực chủ yếu. Theo đó, việc tổ chức,
quản lý văn hoá, khoa học và giáo dục của Nhà nước ta vừa là để thực hiện những nhiệm
vụ kinh tế – xã hội trước mắt, vừa là để chuẩn bị cho đất nước bước vào giai đoạn phát
triển tiếp theo, hoà nhập (trên cơ sở giữ vững bản sắc riêng và tinh hoa văn hoá dân tộc)
với tiến trình phát triển chung của nền văn hoá, khoa học và giáo dục thế giới. Quan điểm
cơ bản của Đảng ta coi văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là
động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội; giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và
công nghệ là quốc sách hàng đầu đã thể hiện rõ ràng nhiệm vụ này của Nhà nước Cộng
hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Thực hiện nhiệm vụ này, Nhà nước ta đã tiến hành xây
dựng hệ thống các cơ quan tổ chức, quản lý văn hoá, văn học, nghệ thuật, khoa học, giáo
dục, các phương tiện thông tin đại chúng nhằm đào tạo một đội ngũ cán bộ có phẩm chất
chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, đồng thời xây dựng hệ thống cơ sở vật chất – kỹ thuật
tương xứng với yêu cầu và đáp ứng tốt nhu cầu thực tế của các lĩnh vực cụ thể.
Như vậy, xét một cách tổng thể, nhiệm vụ sáng tạo và xây dựng xã hội mới là