Báo cáo nghiên cứu khoa học: "SỰ THAY ĐỔI KÊNH PHÂN PHỐI LỢN THỊT Ở TỈNH NGHỆ AN" - Pdf 19



93
TẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, Số 62, 2010 SỰ THAY ĐỔI KÊNH PHÂN PHỐI LỢN THỊT Ở TỈNH NGHỆ AN
Nguyễn Thị Minh Hòa
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế
TÓM TẮT
Nhu cầu tiêu thụ thịt lợn của người tiêu dùng đang tăng lên cả về lượng và chất. Để đáp
ứng nhu cầu thịt lợn tăng lên của người tiêu dùng, hộ chăn nuôi lợn đang có những thay đổi
tiến bộ trong kỹ thuật chăn nuôi cũng như qui mô chăn nuôi. Kênh phân phối kết nối cung cầu
trên thị trường thịt lợn đã và đang có những thay đổi. Bài viết này tập trung phân tích sự thay
đổi trong kênh phân phối lợn thịt ở tỉnh Nghệ An. Kết quả nghiên cứu cho thấy những thay đổi
trong kênh phân phối lợn thịt ở Nghệ An bao gồm: thu gom độc lập được sử dụng để thu gom
lợn vào những năm đầu 1990, trung gian mới - thu gom hoa hồng được phát triển vào những
năm cuối 1990 để thu gom lợn thịt cho cả thị trường trong và ngoài tỉnh, và kênh phân phối liên
kết dọc đang phát triển ở Nghệ An để đáp ứng nhu cầu cao hơn của người tiêu dùng về thịt lợn
đảm bảo chất lượng, vệ sinh và an toàn.

1. Giới thiệu
Thịt lợn là loại thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao và là nguyên liệu để chế biến
các món ăn chính trong tất cả gia đình Việt. Nền kinh tế Việt Nam nói chung, ở tỉnh
Nghệ An nói riêng đã có những bước tiến vượt bậc từ khi có chính sách đổi mới. Cùng
với sự phát triển của nền kinh tế, thu nhập đầu người đang ngày càng tăng lên, nhu cầu
của người tiêu dùng về thịt lợn đã và đang có những thay đổi - thịt lợn tiêu thụ đầu
người hàng năm đã và đang tăng lên không chỉ về lượng mà còn về chất.
Để đáp ứng nhu cầu thịt lợn tăng lên của người tiêu dùng, các hộ chăn nuôi lợn
đang có những thay đổi tiến bộ trong kỹ thuật chăn nuôi cũng như qui mô chăn nuôi.
Kênh phân phối kết nối cung cầu trên thị trường thịt lợn đã và đang có những thay đổi.

buôn lợn thịt đã được lựa chọn để phỏng vấn. Các cuộc phỏng vấn sâu đã bắt đầu với
SHH và hộ bán buôn lợn thịt để xác định họ mua lợn thịt từ đâu? Bằng cách này cho
phép chúng tôi xác định ngược lại được kênh phân phối đến người chăn nuôi. Các cuộc
phỏng vấn với toàn bộ tác nhân tham gia trong kênh đã được thực hiện. Phỏng vấn sâu
đã được thực hiện với 10 thu gom độc lập và 5 thu gom hoa hồng. Các cuộc phỏng vấn
theo bảng hỏi có sẵn đã được thực hiện với 30 hộ chăn nuôi lợn ở các qui mô khác nhau
ở làng Tân Châu – một làng chăn nuôi lợn đặc trưng của huyện Diễn Châu. Một cuộc
phỏng vấn sâu với lãnh đạo và phòng chức năng của Công ty Thái Dương ở huyện Đô
Lương cũng đã được thực hiện.
3. Cấu trúc kênh phân phối lợn thịt ở Nghệ An
Sơ đồ 1 trình bày kênh phân phối lợn thịt ở Nghệ An cho cả tiêu thụ nội và ngoại
tỉnh. Theo kết quả phỏng vấn, có tất cả 8 kênh phân phối lợn thịt ở Nghệ An, trong đó 3
kênh (1, 2 và 3) cung cấp lợn thịt cho tiêu thụ nội tỉnh và 5 kênh (4, 5, 6, 7 và 8) vận
chuyển lợn đi các tỉnh, thành phố khác. 95
Sơ đồ 1. Kênh phân phối lợn thịt ở Nghệ An
Hộ chăn nuôi
Hộ giết mổ
(trong tỉnh)
Thu gom
độc lập
Bán buôn
Hộ giết mổ
(ngoại tỉnh)
Thu gom
hoa hồng
1 (49.5%)
2, 6 (9.5%)

3, 7 (20%)
Tiêu thụ nội tỉnh
Tiêu thụ ngoại tỉnh
Nhà máy
chế biến
8 (2%)

Chú thích: - Các số 1,2,…,8 thể hiện các kênh phân phối lợn thịt khác nhau.
- % thể hiện khối lượng lợn thịt bán cho các tác nhân khác nhau.
Tác nhân đầu tiên trong kênh phân phối lợn thịt đó là hộ chăn nuôi lợn. Ở Nghệ
An, hầu hết các hộ chăn nuôi qui mô nhỏ với hình thức tận dụng nhằm mục đích tiết
kiệm tiền và cung cấp phân hữu cơ cho trồng trọt. Thu gom độc lập là người dân thu
gom lợn và hưởng chênh lệch giữa giá mua và bán lợn thịt. Họ tự bỏ tiền ra và tự chịu
về tất cả rủi ro trong quá trình thu mua lợn thịt. Thu gom hoa hồng là người dân thu
gom lợn và hưởng hoa hồng trên từng đầu con lợn thịt. Thực tế có hai loại thu gom hoa
hồng khác nhau. Loại 1 - thu gom hoa hồng thu mua lợn cho các hộ bán buôn lợn thịt.
Loại 2 - thu gom hoa hồng thu mua lợn cho SHH. Bán buôn lợn thịt là người mua một
khối lượng lớn lợn thịt từ thu gom độc lập, thu gom hoa hồng và các hộ chăn nuôi lớn
(ít nhất một lần bán lợn thịt là 10 con), vận chuyển và bán lợn thịt cho SHH ở các tỉnh,
thành phố khác. Các hộ giết mổ mua lợn thịt từ các hộ chăn nuôi nhỏ hoặc thu gom, sau
đó giết mổ và bán thịt lợn cho người bán lẻ hoặc người tiêu dùng. Nhà máy chế biến
thường hợp đồng mua lợn thịt từ các trang trại chăn nuôi với qui mô lớn, trang trại chăn
nuôi khép kín, sau đó giết mổ bán thịt lợn cho người tiêu dùng qua hệ thống quầy hàng
của công ty ở các trục đường hoặc siêu thị. Công ty còn chế biến các sản phẩm như xúc
xích, hăm, thịt nguội khác để bán cho người tiêu dùng.
4. Sự thay đổi kênh phân phối lợn thịt
4.1. Sự thay đổi kênh phân phối lợn thịt tiêu thụ nội tỉnh
Như đã chỉ đã chỉ ra ở Sơ đồ 1, có 3 kênh phân phối lợn thịt (1, 2 và 3) cho tiêu
thụ nội tỉnh. Kênh phân phối trực tiếp lợn thịt từ hộ chăn nuôi đến SHH (kênh 1) là
kênh chính. Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Nghệ An, năm

Qui mô chăn nuôi của các hộ nhỏ nên khối lượng lợn thịt mà mỗi hộ bán mỗi lần cũng
nhỏ, thậm chí có nhiều hộ chỉ bán mỗi lần một con lợn thịt. Việc thu mua lợn thịt từ các
hộ chăn nuôi qui mô nhỏ mất nhiều thời gian và tốn kém chi phí, đặc biệt chi phí giao
dịch trên mỗi con lợn mua được. Để tối thiểu hoá việc giảm trọng lượng lợn thịt sau
mua, giảm chi phí tìm lợn và tận dụng lợi thế hiệu quả theo qui mô, các hộ bán buôn lợn
thịt cần nỗ lực để thu mua đủ khối lượng lợn thịt trong thời gian ngắn nhất. Để làm
được điều này, các hộ bán buôn phải dựa vào trung gian – người có thông tin về cung
lợn thịt ở các làng khác nhau. Bởi vậy, vào đầu những năm 1990, các hộ bán buôn lợn
thịt đã đưa tiền và nhờ nhiều người đi mua lợn thịt trực tiếp từ người chăn nuôi. Những
người được nhờ đó sau vài lần giao dịch đã trở thành những nhà thu gom độc lập cho
các hộ bán buôn. Đó chính là thay đổi đầu tiên trong kênh phân phối lợn thịt tiêu thụ
ngoại tỉnh ở Nghệ An.
Thu nhập đầu người ở nước ta tăng nhanh từ khi có chính sách đổi mới. Bởi vậy
nhu cầu tiêu thụ thịt lợn tăng nhanh. Nhu cầu thịt lợn tăng không chỉ về số lượng mà 97
còn chất lượng – thịt lợn có tỷ lệ nạc cao. Để đáp ứng nhu cầu tăng lên của người tiêu
dùng, vào cuối những năm 1990, các hộ bán buôn lợn thịt đã phát triển một trung gian
khác trong kênh phân phối - những người thu gom hoa hồng. Đó chính là thay đổi thứ
hai trong kênh phân phối lợn thịt tiêu thụ ngoại tỉnh ở Nghệ An. Thực tế, thu gom hoa
hồng được nhà bán buôn lợn thịt lựa chọn từ những nhà thu gom độc lập - những người
đã cung cấp nhiều lợn có tỷ lệ nạc cao cho bán buôn. Họ thường sống ở những làng
chăn nuôi lợn phát triển. Mỗi hộ bán buôn lợn thịt thường thu mua từ 30 đến 50 người
thu gom độc lập và 2 đến 3 người thu gom hoa hồng. Mặc dù mỗi bán buôn chỉ sử dụng
2 đến 3 thu gom hoa hồng nhưng hơn một phần ba lượng lợn thịt thu mua hàng ngày
được cung ứng bởi thu gom hoa hồng. Các nhà bán buôn lợn thịt thuê thu gom hoa hồng
với số tiền là 12.000 đồng/con. Thu nhập đầu con của thu gom độc lập khoảng từ
20.000 đến 25.000 đồng. Thu nhập đầu con của thu gom độc lập cao hơn so với thu gom
hoa hồng vì thu gom độc lập phải tự lo về vốn, vận chuyển và tất cả rủi ro xảy ra trong

Dịch vụ
Bán buôn
Hộ chăn
nuôi
Thu gom
độc lập
Thu gom
hoa hồng
Thu gom lợn
Thức ăn công nghiệp, lợn con
2002
Hướng dẫn chăn nuôi lợn
Thức ăn công nghiệp
2002
Đưa tiền trước
Đầu 1990
Hoa hồng
Cuối 1990
Lợn thịt
Dịch vụ

Để đảm bảo nguồn cung lợn thịt vận chuyển đi các tỉnh và thành phố khác, bán
buôn lợn thịt đã nỗ lực rất lớn trong việc xây dựng mối quan hệ với các hộ chăn nuôi
lợn và các nhà thu gom (Sơ đồ 2). Đối với thu gom độc lập, bán buôn sẵn sàng đưa tiền 98
trước cho các thu gom độc lập vào buổi sáng để mua lợn thịt. Số tiền bán buôn đưa cho
các thu gom độc lập khác nhau, tuỳ thuộc vào mối quan hệ qua lại và sự tin tưởng của
bán buôn đối với các thu gom độc lập. Khoản tiền đưa trước bán buôn sẽ trừ khi thu

- Những năm đầu 1990, bán buôn lợn thịt đã phát triển kênh phân phối lợn thịt
mới bao gồm các nhà thu gom độc lập để thu mua được một khối lượng lợn thịt lớn từ
các hộ chăn nuôi nhỏ. Bán buôn lợn thịt đảm bảo được nguồn cung từ thu gom độc lập
1
Công ty Thái Dương, Đô Lương là công ty con của công ty mẹ (Tổng Công ty Thái Dương) ở Hưng Yên.
Tổng Công ty Thái Dương có một số công ty con là công ty chăn nuôi lợn ở Hưng Yên và Nghệ An và
Công ty cổ phần Thức ăn Thái Dương ở Hưng Yên và Công ty chế biến Sunfood, Thụỵ Phương, Hà Nội. 99
bằng cách cho thu gom độc lập ứng tiền trước để mua lợn thịt cho mình.
- Cuối những năm 1990, để đảm bảo ổn định và đủ khối lượng lợn thịt có tỷ lệ
nạc cao khi vận chuyển, bán buôn đã phát triển kênh phân phối lợn thịt mới bao gồm
những nhà thu gom hoa hồng. Bên cạnh đó, bán buôn cung ứng thức ăn công nghiệp và
lợn con cho các hộ chăn nuôi lớn để mua lại lợn thịt sau này.
- Nhu cầu người tiêu dùng nội tỉnh về thịt lợn có tỷ lệ nạc cao cũng đang tăng
lên. Bởi vậy, gần đây những nhà SHH ở thành phố Vinh đã chuyển sang mua lợn thịt từ
thu gom hoa hồng ở các huyện chăn nuôi lợn phát triển.
- Nhu cầu tiêu thụ thịt lợn có tỷ lệ nạc cao, đảm bảo vệ sinh và an toàn đang
tăng lên. Kênh phân phối liên kết dọc kết nối những trang trại chăn nuôi qui mô lớn,
khép kín (Công ty Thái Dương - Đô Lương, Nghệ An) và các nhà máy chế biến (Đức
Việt - Hưng Yên và Sunfood, Hà Nội) để đáp ứng nhu cầu đòi hỏi cao hơn này của
người tiêu dùng.
Như vậy, SHH và bán buôn lợn thịt giữ một vai trò quan trọng trong thay đổi
kênh phân phối lợn thịt đáp ứng nhu cầu thị trường ở Nghệ An. Việc tăng nhu cầu của
người tiêu dùng về thịt lợn đảm bảo vệ sinh, an toàn và chất lượng sẽ rất khó để đáp ứng
nếu không có sự phối hợp theo chiều dọc trong kênh phân phối. Thực tế, hiện tại chỉ có

live pig distribution channels in Nghe An. Results show that the changes in the live pig
distribution channels in Nghe An are the independent collector that was developed in the early
1990, new middleman- the commission collector developed in the late 1990 to procure live pig
for both provincial and external comsumption, and the vertical distribution channel is used to
provide live pigs for higher demand of consumers on pork quality, hygiene and safety.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status