Đề tài “Tiềm năng hoạt động du lịch bền vững ở khu đô thị cổ Hội An và những biện pháp” pot - Pdf 19

Đ ề tài
“Tiềm năng hoạt động du lịch bền
vững ở khu đô thị cổ Hội An và
những biện pháp”
MỤC LỤC
ĐỀ TÀI 1
“TIỀM NĂNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH BỀN VỮNG Ở KHU ĐÔ THỊ
CỔ HỘI AN VÀ NHỮNG BIỆN PHÁP” 1
MỤC LỤC 2
PHẦN MỞ ĐẦU 4
1.Tính cấp thiết của đề tài 4
2. Mục đích, nhiệm vụ và ý nghĩa nghiên cứu của đề tài 5
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
4. Phương pháp nghiên cứu 6
5. Kết cấu của chuyên đề 6
CHƯƠNG 1. NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ DU LỊCH BỀN VỮNG 7
1.1. KHÁI NIỆM VÀ CÁC YÊU CẦU CỦA PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG 7
1.1.1. Khái niệm về du lịch và du lịch bền vững 7
1.1.2. Các yêu cầu để phát triển du lịch bền vững 9
1.1.2.1. Hệ sinh thái 10
1.1.2.2. Hiệu quả 10
1.1.2.3. Công bằng 10
1.1.2.4. Bản sắc văn hóa 10
1.1.2.5. Cộng đồng 10
1.1.2.6. Cân bằng 11
1.1.2.7. Phát triển 11
1.2. TÍNH TẤT YẾU VÀ LỢI ÍCH CỦA PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG 11
1.2.1. Tính tất yếu 11
1.2.2. Lợi ích của việc phát triển du lịch bền vững 12
1.3. ĐẶC ĐIỂM CỦA DU LỊCH BỀN VỮNG 12
CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG CÁC ĐIỀU KIỆN ĐỂ PHÁT TRIỂN DU

ĐỘNG DU LỊCH BỀN VỮNG Ở KHU ĐÔ THỊ CỔ HỘI AN 39
3.1. GIẢI PHÁP 39
3.1.1. Tiếp tục đổi mới giáo dục - đào tạo để đáp ứng yêu cầu của phát triển hiện tại 39
3.1.2. Phát triển du lịch bền vững có sự tham gia của cộng đồng 39
3.1.3. Thông tin tuyên truyền cho phát triển du lịch bền vững 40
3.1.4. Các giải pháp tổ chức, khai thác, phát triển du lịch 42
3.1.5. Tổ chức khai thác có hiệu quả các khu du lịch 43
KẾT LUẬN 46
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Là một trong những ngành phát triển nhanh nhất và mang lại nhiều lợi nhuận
nhất trên thế giới. Du lịch không những mang đến nhiều cơ hội cho phát triển
kinh tế đặc biệt là cho quá trình phát triển của một đất nước. Nó có thể tạo ra
nguồn thu nhập và việc làm đáng kể thông qua việc phát triển các nguồn lực
văn hóa và thiên nhiên. Nó cũng giúp cho người dân địa phương có cơ hội bày
tỏ niềm tự hào về nền văn hóa đặc sắc của mình, từ đó tạo đòn bẩy để phục hồi
các giá trị truyền thống và đời sống văn hóa đang dần mai một. Du lịch cũng
tạo ra sự giao lưu giữa con người của nhiều dân tộc, nhiều tầng lớp, nhiều nền
văn hóa khác nhau từ đó giúp nuôi dưỡng sự đối thoại giữa các nền văn hóa và
khuyến khích sự sáng tạo, đa dạng về văn hóa.
Tuy nhiên, du lịch cũng có thể gây ra những tác hại đối với văn hóa và môi
trường nếu không có sự quản lý đúng đắn. Trong sự phát triển ồ ạt của ngành
du lịch địa phương, các cấp chính quyền địa phương đặc biệt là ở các nước
đang phát triển, thường đầu tư vào số lượng một cách ồ ạt nhằm phát huy giá
trị của một khu di sản tuy nhiên lại không chú ý nhiều đến công tác ngăn ngừa
sự xuống cấp của các phương diện văn hóa, thiên nhiên và xã hội do ngành du
lịch thiếu đi sự kiểm soát mang lại. Các cấp chính quyền địa phương, ngành du
lịch, các nhà đầu tư và phát triển, các nhà quản lý di sản và các thành viên cộng
đồng dân cư cần phối hợp chặt chẽ để xây dựng các chính sách nhằm giảm
thiểu các tác động tiêu cực của ngành du lịch đến văn hóa và môi trường của

và văn hóa, còn nhiều điều chưa hợp lý đối với kinh tế xã hội. Việc phát triển
du lịch bền vững ở khu đô thị cổ Hội An chính là việc lập nên một kế hoạch
hoàn chỉnh và tối ưu nhất cho việc phát triển du lịch đi đôi với phát triển kinh
tế địa phương đem lại hiệu quả lâu dài cho địa phương trong hiện tại cũng như
tương lai sau này mà gây ảnh hưởng ít đối với môi trường tự nhiên và nền văn
hóa bản địa.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
• Đối tượng của đề tài trên là tập trung vào nghiên cứu cơ sở lý luận về
tình hình hoạt động phát triển du lịch bền vững ở khu đô thị cổ Hội An.
• Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung: Đề tài nghiên cứu trong phạm vi của các nhân tố tác động
đến hoạt động du lịch bền vững của khu đô thị cổ Hội An. Đó là tài
nguyên du lịch, các ngành có liên quan trong mối quan hệ phát triển du
lịch bền vững. Đồng thời cũng đưa ra thực trạng cũng như những định
hướng hợp lý cho sự phát triển du lịch của khu đô thị cổ Hội An trong
tương lai.
- Không gian: Trên địa bàn thành phố Hội An
4. Phương pháp nghiên cứu

5. Kết cấu của chuyên đề
Nội dung chuyên đề gồm có 3 phần chính sau:
Chương I : Những lý luận cơ bản về du lịch bền vững
Đưa ra cơ sở lý thuyết về du lịch bền vững cũng như các đặc điểm, nguyên
tắc, các phương pháp đánh giá trong du lịch bền vững, cũng như đưa ra các
điều kiện để phát triển du lịch cũng như du lịch bền vững.
Chương II Thực trạng các điều kiện để phát triển du lịch bền vững ở khu
phố cổ Hội An.
Đưa ra một cái nhìn tổng quát về du lịch tỉnh Quảng Nam nói riêng và khu đô
thị cổ Hội An nói riêng, cũng như những điều kiện phát triển du lịch bền vững
ở khu đô thị cổ Hội An.

năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai” (Liên Hiệp Quốc, 1984).
Hơn nữa phát triển bền vững liên quan đến việc sử dụng dài hạn và khả năng
có thể bảo tồn được của nguồn tài nguyên (APEC, 1996)
Định nghĩa phát triển du lịch bền vững được hiểu như sau: “Du lịch bền vững
là quá trình điều hành quản lý các hoạt động du lịch với mục đích xác định và
tăng cường các nguồn hấp dẫn du khách tới các vùng và các quốc gia du lịch.
Quá trình quản lý này luôn hướng tới việc hạn chế lợi ích trước mắt để đạt
được mục đích lâu dài do các hoạt động du lịch mang lại”.
Theo World Conservation Union, 1996 Du lịch bền vững là việc di chuyển và
tham quan đến các vùng tự nhiên một cách có trách nhiệm với môi trường để
tận hưởng và đánh giá cao tự nhiên (và tất cả những đặc điểm văn hóa kèm
theo, có thể là trong quá khứ và trong hiện tại) theo các khuyến cáo về bảo tồn,
có tác động thấp từ du khách và mang lại lợi ích cho sự tham gia chủ động về
kinh tế- xã hội của cộng đồng địa phương đó.
Phát triển du lịch bền vững cũng chính là sự đáp ứng đầy đủ, tiện nghi nhất
các nhu cầu của khách du lịch, tạo sức hút du khách đến vùng, điểm du lịch
trong thời điểm hiện tại đồng thời bảo vệ và nâng cao chất lượng cho tương lai.
Nó được định ra để hướng việc quản lý toàn bộ các tài nguyên, các điều kiện tự
nhiên, môi trường sinh thái và các điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa kèm theo,
theo cách mà chúng ta có thể thỏa mãn nhu cầu kinh tế, xã hội và thẩm mỹ,
đồng thời duy trì tính toàn vẹn về văn hóa, các quá trình sinh thái chủ yếu, sự
đa dạng sinh học và các hệ thống duy trì nuôi dưỡng sự sống.
Phát triển du lịch bền vững là việc quản lý toàn bộ các thành phần cấu thành
nên ngành du lịch đảm bảo phát triển cân bằng để có thể mang lại những kết
quả có lợi về kinh tế, xã hội mang tính lâu dài mà không gây ra những tổn hại
cho môi trường tự nhiên và bản sắc văn hóa của du lịch. Quá trình phát triển du
lịch bền vững phải có sự kết hợp hài hòa nhu cầu của hiện tại và tương lai trên
cả hai góc độ sản xuất và tiêu dùng du lịch, nhằm mục đích bảo tồn và tái tạo
tài nguyên thiên nhiên, giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc.
Việc phát triển du lịch bền vững phải đảm bảo và thỏa mãn ba yếu tố sau:

chính sách du lịch văn hóa.
1.1.2.5. Cộng đồng
Cộng đồng đề cập đến vấn đề tham gia của cư dân địa phương vào quá trình
phát triển du lịch, tham gia một cách trực tiếp hoặc thông qua đầu tư trong kinh
doanh du lịch cũng như trong việc thúc đấy các hoạt động của các ngành có
liên quan như công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, nông nghiệp, tiểu thủ
công mỹ nghệ…
1.1.2.6. Cân bằng
Cân bằng đề cập đến việc hòa nhập, cân bằng ở đây nghĩa là hài hòa giữa các
yếu tố như giữa kinh tế với môi trường, giữa nông nghiệp, tiểu thủ công mỹ
nghệ và du lịch, giữa các loại hình du lịch. Hoặc là sự cân bằng văn hóa bản địa
với các nền văn hóa ảnh hưởng từ du khách. Phát triển du lịch phải tạo được sự
liên kết và cân đối liên ngành để tạo hiệu quả tổng hợp.
1.1.2.7. Phát triển
Phát triển là khai thác các tiềm năng thông qua đó làm tăng khả năng cải
thiện chất lượng cuộc sống. Tăng trưởng cũng là kết quả của sự phát triển
nhưng không đồng nghĩa với việc khai thác một cách triệt để các nguồn lợi
kinh tế và hủy hoại môi trường.
1.2. Tính tất yếu và lợi ích của phát triển du lịch bền vững
1.2.1. Tính tất yếu
Tính tất yếu của việc phát triển du lịch bền vững được thể hiện qua một số
yếu tố sau:
- Thứ nhất do đặc tính của ngành du lịch đó là ngành kinh doanh tổng hợp,
phức tạp và cần phải có quy hoạch phát triển đồng bộ. Du lịch bền vững đáp
ứng được sự quy hoạch có tính đồng bộ đó, nó lập ra một kế hoạch hoàn chỉnh
và nếu thực hiện tốt nó thì sẽ mang lại hiệu quả nhất định.
- Thứ hai do các yếu tố tạo thành sản phẩm của ngành du lịch phải có sự kết
hợp cả tài nguyên phục hồi, tài nguyên khó phục hồi và tài nguyên hoàn toàn
không thể phục hồi được đó là các tài nguyên xã hội, tài nguyên nhân văn, tài
nguyên thiên nhiên. Do các nguồn tài nguyên này không thể tồn tại mãi mãi

nghề truyền thống, phương thức sản xuất cũng như bảo tồn các hoạt động nghệ
thuật, người dân còn hiểu rõ được giá trị văn hóa mà họ phải giữ gìn và bảo
tồn.
1.3. Đặc điểm của du lịch bền vững
Được lập kế hoạch với ba mục đích chính: lợi tức, môi trường và cộng đồng
đây chính là mô hình ba chân của du lịch bền vững.
- Thân thiện với môi trường, du lịch bền vững có tác động thấp đến các
nguồn lợi tự nhiên. Nó giảm thiểu các tác động tiêu cực đến môi trường (động
thực vật, các sinh cảnh sống, nguồn lợi sống, sử dụng năng lượng và ô nhiễm
) và cố gắng có lợi cho môi trường.
- Gần gũi về xã hội và văn hoá, nó không gây hại đến các cấu trúc xã hội
hoặc văn hoá của cộng đồng nơi mà hoạt động du lịch được thực hiện. Thay
vào đó thì nó lại tôn trọng văn hoá và truyền thống địa phương. Khuyến khích
các bên liên quan (các cá nhân, cộng đồng, nhà điều hành tour và quản lý chính
quyền) trong tất cả các giai đoạn của việc lập kế hoạch, phát triển và giám sát,
giáo dục các bên liên quan về vai trò của họ.
- Có kinh tế, nó đóng góp về mặt kinh tế cho cộng đồng và tạo ra những thu
nhập công bằng và ổn định cho cộng đồng địa phương cũng như càng nhiều
bên liên quan khác càng tốt. Nó mang lợi ích cho người chủ, cho nhân viên và
cả người xung quanh. Nó không bắt đầu một cách đơn giản để rồi sau đó sụp
đổ nhanh chóng do các hoạt động kinh doanh nghèo nàn mà nó được:
• Được lập kế hoạch trước cùng với sự tham gia của các bên liên quan.
• Định hướng đến địa phương và có sự tham gia điều khiển của chính
quyền địa phương sở tại.
• Tập trung nhiều vào các kinh nghiệm giáo dục.
• Bảo tồn các nguồn lợi về tự nhiên, văn hóa, xã hội được xem là ưu
tiên.
• Đề cao văn hóa bản địa cũng như giữ nguyên vẹn được những phong
tục tập quán, lối sống cũng như sinh hoạt.
• Đem lại lợi tức đáng kể cho địa phương cũng như phục vụ cho việc

Ở Mỹ Sơn 15.000 3,96 20.000 21,2
Khách lưu trú 51.000 4,71 60.000 17,9
Doanh thu du lịch 55 tỷ đồng 22,65 71 tỷ đồng 64,36
Thu nhập XH từ du lịch 150 tỷ đồng 180 tỷ đồng
Nguồn: www.quangnamtourism.vn
Đến với du lịch Quảng Nam hiện nay ta sẽ được chứng kiến nhiều loại hình
du lịch rất đặc sắc, mang đậm bản chất văn hóa địa phương, ẩm thực đa dạng,
con người lại hiếu khách và rất thân thiện.
2.1.2. Tình hình phát triển du lịch ở khu đô thị cổ Hội An
Kể từ năm 1997 đến nay, lượng khách nội địa và quốc tế đến Hội An ngày
càng tăng nhanh, đặc biệt kể từ khi Hội An chính thức trở thành di sản văn hóa
thế giới vào tháng 12 năm 1999, lượng khách đến Hội An đã tăng vọt cụ thể
tăng 24% trong năm 2000 (so với năm 1999), và tăng 82% trong năm 2001 (so
với năm 2000).
Bảng 2.1: Số lượng khách du lịch của Hội An (1997 - 2007)
Năm Khách nội địa Khách quốc tế Tổng cộng Tỷ lệ % tăng so
với năm trước
1997 58.834 81.148 139.982 -
1998 80.039 66.480 146.519 4,7
1999 84.858 73.457 160.314 9,4
2000 97.823 99.617 199.440 24,4
2001 208.133 153.600 361.733 82,4
2002 230.565 212.000 444.567 22,2
2003 277.900 185.296 465.199 4,6
2004 241.868 352.442 596.314 28,2
2005 318.994 329.222 650.221 9,0
2006 453.379 423.395 878.780 35,2
2007 424.320 608.477 1.032.797 17,5
Nguồn: phòng thống kê Hội An
2.1.2.1. Doanh thu du lịch

được nghiên cứu thật sâu sắc về giá trị văn hóa và nghệ thuật, các hoạt động
kinh tế và văn hóa xã hội. Đô thị cổ Hội An chỉ chiếm một khoảng không gian
chừng hai cây số, thật nhỏ với đô thị cổ Bến Nghé-Sài Gòn- Gia Định rộng bề
thế, chỉ có bề dày khoảng 500 năm, thật mong hơn nhiều so với Kẻ Chợ- Kinh
Kỳ - Đông Đô - Thăng Long - Hà Nội với hàng ngàn năm văn hiến, không có
quần thể di tích lịch sử đồ sộ và phong cách hữu tìnhh như cố đô Phú Xuân -
Huế thế nhưng miền đất cổ xưa này lại có sức vẫy gọi kỳ lạ không chỉ đối với
du khách Việt Nam mà cả đối với các du khách và với các nhà nghiên cứu ở
nhiều quốc gia trên thế giới. Vì thế mà trong những năm gần đây, các nhà
nghiên cứu văn hoá Việt Nam và thế giới rất quan tâm tới việc nghiên cứu về
khu phố cổ Hội An với hàng loạt các công trình nghiên cứu khoa học viết về
khu phố cổ Hội An. Đó là một Khu phố cổ rộng khoảng 2 km
2
, gồm nhiều dãy
phố nhỏ hẹp, như bàn cờ với hàng trăm ngôi nhà cổ, các công trình kiến trúc, di
tích, các dấu ấn, văn bản, thư tịch. . . Có giá trị văn hoá – lịch sử rất cao, không
những Hội An trở thành đô thị cổ duy nhất của nước ta còn tồn tại mà đây cũng
là một trường hợp hiếm hoi trên thế giới. Nó thể hiện nổi bật nhiều nhất vẫn là
ở giá trị di sản vật thể.
- Bố cục đô thị
Căn cứ vào kết quả nghiên cứu khảo cổ học gần đây và tư liệu lịch sử thì sự
định cư đầu tiên ở Hội An nằm dọc trên trục đường Nguyễn Thị Minh Khai và
Trần Phú. Do có sự bồi lấp, chuyển dịch dần của con sông nên phần đất của
phố cảng tiếp tục được mở rộng về phía nam. Sự xuất hiện khu phố Nguyễn
Thái Học vào cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19 đã làm cho khu phố cổ này tiếp
tục được mở rộng thêm. Các tuyến phố chạy từ Đông sang Tây nối liền với các
tuyến phố cắt ngang tạo thành tuyến phố ngang – dọc kiểu bàn cờ. Khu phố cổ
Hội An hiện nay có diện tích khoảng 300.000 m
2
.

Quần thể di tích nhà cửa hiệu ở Hội An là một trong những quần thể di tích
lớn nhất ở Đông Nam Á. Ở Việt Nam các loại nhà cửa hiệu tương tự thường
thấy ở những khu phố cổ ở Hồ Chí Minh và Hà Nội, nhưng ngày nay không
còn hoặc bị biến mất. Các nhà cửa hiệu được xây dựng trên những mảnh đất
dài và hẹp, dọc các đường phố bao gồm ba phần: phần nhà trước (nhà chính),
nhà sau (nhà phụ) và cầu nối giữa nhà trước và nhà sau. Phần nhà quay mặt ra
đường thường dùng làm nơi buôn bán. Giữa nhà trước và nhà sau là một sân
nhỏ được lát đá và có nhiều thế hệ cùng chung sống với nhau trong kiểu nhà
này mà vẫn giữ được sự riêng tư. Tất cả các ngôi nhà cửa hiệu đều có hệ vì kèo
bằng gỗ gồm xà ngang và trụ đội, được thiết kế có độ thông khí cao phù hợp
với vùng khí hậu nhiệt đới của địa phương và thiết kế phù hợp với thuật phong
thủy của người Hoa. Và nét độc đáo khác lạ nữa là mắt cửa, điều mà chỉ có duy
nhất ở Hội An mà các kiểu nhà ở Châu Á không có được.
2.2.2.2. Nhà thờ tộc
Nhà thờ tộc là những công trình riêng biệt được xây dựng trên mảnh đất
vuông vắn, thường nằm trong những con hẻm nhỏ hoặc quay lưng ra đường.
Khu đất có hàng rào bao bọc và có một sân vườn lớn phía trước nhà chính. Mặt
bằng và cấu trúc cũng giống như nhà chính của nhà cửa hiệu nhưng có thêm
mái hiên ở các bên. Các nhà thờ tộc cơ bản phục vụ cho việc thờ cúng tổ tiên
và cũng chính là nơi giáo dục con cháu lòng biết ơn, kính trọng tổ tiên. Nhà thờ
tộc là biểu tượng cho mối quan hệ đoàn kết, đùm bọc và giúp đỡ lẫn nhau của
người trong dòng tộc.
2.2.2.3. Đình
Đình làng truyền thống là trung tâm văn hóa tín ngưỡng của cư dân Việt và
cộng đồng Việt gốc Hoa đang sinh sống ở Hội An. Đình làng là nơi diễn ra các
hoạt động văn hóa – xã hội và cũng là nơi hội họp, tổ chức các lễ cúng và
những sự kiện đặc biệt. Ngày nay các đình làng ở Hội An vẫn còn được sử
dụng.
2.2.2.5. Hội quán
Hội quán ở Hội An được xây dựng phục vụ cho cộng đồng người Hoa. Các

vẹn. Qua nhiều lần tu bổ, không thể xác định rõ nhóm người nào xây dựng.
Cấu trúc và chi tiết trang trí là sự kết hợp của các kiểu kiến trúc Nhật Bản,
Trung Quốc, Việt Nam và phương Tây nên có thể nói đây là biểu tượng của
mối liên hệ giữa các nền văn hóa khác nhau hội tụ ở Hội An trong quá khứ và
hiện tại.
- Giếng
Giếng cổ phân bố trong và ngoài khu vực Hội An, hầu hết giếng được xây
dựng bằng gạch để giúp lọc nước, giếng cổ nhất được phát hiện là giếng do
người Chămpa đào, có dạng hình vuông tiêu biểu là giếng ở Trà Quế, xã Cẩm
Hà có đường kính 1m, thành giếng được xây bằng đá dày khoảng 10cm, nằm
trên khuôn viên hình chữ nhật, xung quanh bốn góc có bốn cột đá.
2.2.3. Di sản phi vật thể
2.2.3.1. Mối quan hệ tộc – họ và làng xóm
Ở Hội An nói riêng cũng như Việt Nam nói chung, tộc họ là nền tảng cốt yếu
của cuộc sống xã hội. Mỗi cá nhân có trách nhiệm với họ tộc trên tất cả mọi
thứ. Trách nhiệm đối với gia đình không chỉ là đối với người sống mà còn đối
với tổ tiên. Mối quan hệ quan trọng kế tiếp là giữa người trong cùng một làng.
Làng được lập nên, khởi đầu do các cụ tiền hiền khai khẩn và vì thế làng trở
thành nơi tụ họp của các tộc họ. Mối quan hệ thân thiết giữa các thành viên
trong cùng một làng cũng được thể hiện qua việc gọi những người thân thuộc
như cô, gì, chú, bác…
Trên thực tế ở Hội An xưa các tộc họ tiền hiền , hậu hiền hầu như chia nhau
nắm giữ các chức sắc và khống chế toàn bộ công việc sinh hoạt của một làng –
xã. Khu đô thị cổ Hội An tuy mang những nét hòa quyện các nền văn hóa
nhưng mối quan hệ vẫn theo cách truyền thống của Việt Nam là họ hàng và
xóm – làng, điều này đã tạo ra môt mối gắn kết bền vững và chặt chẽ đồng thời
đây cũng là yếu tố để củng cố, duy trì và phát triển văn hóa truyền thống.
2.2.3.2. Tín ngưỡng và tôn giáo
Người dân Hội An luôn xem mình là một phật tử mặc dù họ không theo một
tôn giáo nào. Bởi đạo Phật ở Hội An bị chi phối mạnh mẽ tín ngưỡng thờ cúng

sản vật và hương vị sẵn có. Những loại hải sản như tôm, cua, cá và đặc biệt là
sự đa dạng của rau sống chiếm ưu thế trong ẩm thực địa phương. Một số món
ăn truyền thống có nguồn gốc ngoại lai như bánh bao, lục tàu xá, xí mà, lường
phảnh, hoành thánh, bánh quai vạc, cơm Dương Châu, bún gạo, khoai nhục
Phúc Kiến, nậm nhự xì dầu, các món cà ri Ấn Độ, món ăn phương Tây và một
số đồ uống như nước lá Lao, nước dừa…
2.2.3.6. Văn nghệ dân gian
2.2.3.6.1. Hát Bả Trạo
Là một loại hình diễn sướng dân gian phổ biến của cư dân Hội An nói riêng
và duyên hải miền Trung nói chung. Hát Bả Trạo hay hát bạn chèo đưa linh là
lối hát có cầm mái chèo, diễn tả động tác đang bơi ghe, chèo thuyền. Đội hình
trình diễn bao gồm ba hoặc bốn ông tổng và đám bạn chèo có từ 10 đến 16
người tùy theo sự sắp xếp của từng đội chèo, bên cạnh đó còn có ban nhạc lễ,
người đánh trống chầu…. hát Bả Trạo có vai trò quan trọng trong đời sống tinh
thần của ngư dân Hội An. Đây là hành động thể hiện sự thương tiếc đối với cá
Ông “Ngọc Lân Nam Hải”, vị thần đã giúp đỡ họ trong khi hoạn nạn trên biển
đồng thời vừa cầu mong sự bình an trước cảnh sông nước mênh mông, cầu
mong một năm bội mùa hải sản.
2.2.3.6.2. Múa Thiên cẩu
Đây là điệu múa đã có lâu đời ở Hội An và được biểu diễn trong lễ hội trung
thu vào rằm tháng tám âm lịch. Ba hoặc nhiều người mặc trang phục Thiên cẩu
và múa theo tiếng trống, những người khác thì cầm cờ phướn và đèn ngôi sao.
Múa Thiên cẩu được trình diễn gắn liền với ý nghĩa trừ tà, cầu phúc, cầu trăng
sáng để vụ mùa bội thu, nhân khang vật thịnh.
2.3.3.6.3. Du Hồ
Là loại hình biểu diễn dân gian của người Hoa lưu hành ở Hội An từ những
năm đầu thế kỷ 20. sau năm 1975 thì hoạt động này không còn. Đây là loại
hình nghệ thuật khá đặc sắc gần đây đã được trung tâm bảo tồn di tích văn hóa
Hội An khôi phục lại. Ban đầu chỉ là một nhóm nhỏ những người Hoa biết chơi
nhạc cụ tụ tập lại để biểu diễn, dần dần được chuyển lên đường phố với hình

Trích đoạn Môi trường Các giải pháp tổ chức, khai thác, phát triển du lịch Tổ chức khai thác có hiệu quả các khu du lịch
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status