Để hiểu thêm “chủ nghĩa
hiện thực vĩ đại” của G.
Lukacs
Viết nhiều như vậy, nhưng đều là từ những năm 30 trở đi, khi mà ông đã
thấy những sai lầm tả khuynh trong Lịch sử và ý thức giai cấp, và đã sang Liên
Xô, quê hương của chủ nghĩa Lênin để tiếp tục nghiên cứu. Hơn thế nữa,
chính tại Viện Mác Anghen đã lưu trữ nhiều trước tác kinh điển chưa công bố,
lần đầu tiên G. Lukacs đã được tiếp xúc với những thư từ Mác Anghen
gửi cho các nhà văn F. Lassalle, M. Kautsky, M. Harkness luận bàn về chủ
nghĩa hiện thực. Ông đã nghiền ngẫm những tư liệu này và đã có những bài
báo có tính chất thu hoạch như Cuộc tranh luận giữa Mác Anghen với Lassalle
về bi kịch “Sickingen” (1931). Tất cả những điều trên giúp chúng ta hiểu tính
chất chính thống không những mác-xít, mà còn lê-nin–nít trong kiến giải về chủ
nghĩa hiện thực của G. Lukacs. Quả vậy, từ Nghệ thuật và chân lý khách quan
(1934) đến công trình cuối đời Đặc trưng mỹ học, thông qua những khái niệm
như tính chân thực, tính điển hình, tính nhân dân, v.v G. Lukacs đã kế thừa
quan niệm của Mác, Anghen, khẳng định chủ nghĩa hiện thực là vĩ đại, là nền
tảng cho mọi nền văn học chân chính. Không phải ngẫu nhiên mà người ta
thường gọi “chủ nghĩa hiện thực vĩ đại” của G. Lukacs. Ông luôn luôn khẳng
định trong điều kiện bình thường, nghệ thuật luôn gắn bó với chủ nghĩa hiện
thực, chỉ có trong tình trạng lạc hậu, mới xa lánh chủ nghĩa hiện thực. G.
Lukacs còn xem phản ánh luận Lênin là cơ sở triết học để xem xét mối quan
hệ giữa văn nghệ với hiện thực: “Phản ánh luận là cơ sở chung để thông qua ý
thức con người, từ lý luận đến thực tiễn, nắm bắt được mọi hình thức của hiện
thực, nó đồng thời cũng là cơ sở về lý thuyết của nghệ thuật phản ánh hiện
thực… Từ phạm vi của phản ảnh luận, hãy nghiên cứu tính đặc thù của sự
phản ảnh nghệ thuật” (Nghệ thuật và chân lý khách quan). Liên hệ với tình hình
lúc bấy giờ, G. Lukacs còn đưa ra nhận xét: “Trong lịch sử nhân loại chưa có
lúc nào như ngày nay cần đến văn học hiện thực bức thiết như vậy, nhưng có
lẽ cũng chưa có lúc nào như ngày nay, truyền thống vĩ đại của chủ nghĩa hiện
thực lại bị chôn vùi đến thế trong đống gạch vụn của những thiên kiến xã hội
bắt hiện thực chỉ dừng ở trực giác, sự biểu hiện nghệ thuật đều trừu tượng,
đơn điệu, không thể phản ảnh và nêu bật được bản chất cuộc sống. Trái lại,
chủ nghĩa hiện thực với tư cách là một phương pháp nghệ thuật mang tính
tổng thể, đã đạt đến sự thống nhất giữa hiện tượng và bản chất, giữa cảm giác
trực tiếp với khái niệm lý tính. Theo G. Lukacs, sai lầm của chủ nghĩa hiện đại,
là họ chỉ căn cứ theo những hình thức trực giác cá nhân để phản ảnh hiện
thực. Họ quá cường điệu những nhân tố cô lập và cảm giác hỗn loạn dưới chế
độ tư bản, mà không chịu đào sâu vào bản chất, không vạch rõ được mối liên
hệ giữa những kinh nghiệm cá nhân với cuộc sống xã hội đích thực, hoặc là
những nguyên nhân bị che khuất đằng sau kinh nghiệm cá nhân đó. Muốn làm
được những điều đó thì tốt nhất là phải trở về với những nhà văn hiện thực vĩ
đại. G. Lukacs kiên trì quan niệm này đến cuối đời. Trong công trình Phản đối
chủ nghĩa hiện thực bị ngộ nhận (1958), ông cho rằng nếu sáng tác của T. Man
hướng con người tránh xa lo âu, thì trái lại tác phẩm của G. Kafka lại dắt dẫn
con người đến với lo âu. Mặc dù quan điểm chính trị của T. Man có chỗ phản
động, nhưng do “sự thắng lợi của chủ nghĩa hiện thực”, ông đã tái hiện được
chân thực những bức tranh của đời sống thực tại. Còn G. Kafka mặc dù với
phong cách mang tính chất hiện thực, nhưng đã dừng trước “niềm lo âu mù
quáng và kinh hoàng”, phú cho cuộc sống một ý nghĩa hư vô, sử dụng những
thủ pháp huyền ảo rấm rối, mô tả xã hội theo lối ngụ ngôn hoá, hoàn toàn
ngược dòng với chủ nghĩa hiện thực.
Những cách nhìn nói trên của G. Lukacs đã bị phê phán ngay từ các bạn
bè thân thiết. Có cuộc tranh luận trực diện giữa E. Bloch với G. Lukacs. E.
Bloch cho rằng những khái niệm như “chỉnh thể của những mối liên hệ qua lại”
là của chủ nghĩa hiện thực cổ điển và trách G. Lukacs luận bàn về tình hình
văn học trước mắt bằng những lối tư duy và thể nghiệm của Balzac và Tolstoi,
mà lại không có lấy chút tư liệu nào của văn học hiện đại. Đặc biệt G. Lukacs
cho rằng “nếu nói phương pháp sáng tác chủ nghĩa biểu hiện đã góp sức cho
việc kích động của chủ nghĩa phát-xít, cho việc hợp lưu giữa thoái lùi và sa đoạ,
thì khẳng định không phải là ngộ nhận họ” (Thịnh suy của chủ nghĩa biểu hiện),
Nhưng chủ nghĩa biểu hiện đã làm phong phú lên rất nhiều những thủ pháp
biểu hiện của kịch, nó sáng tạo ra không ít thành tựu mỹ học mà cho mãi đến
nay người ta chưa biết sử dụng một cách đầy đủ” (B. Brecht bàn về kịch). Như
thế sự bất đồng ở đây chỉ là tự phong bế những nguyên lý vốn có từ thế kỷ XIX,
hay là có thể tự làm phong phú thêm bằng cách hấp thu những yếu tố của chủ
nghĩa hiện đại thế kỷ XX. B. Rrecht luôn luôn bám sát thực tế, và do đó rất cởi
mở, rất thoáng trong quan niệm. Ông cho rằng: “Có một điều mà nhiều người
không thấy rõ: Hoàn cảnh xã hội đang mãi mãi thay đổi, luôn luôn nêu ra
những yêu cầu mới, đứng trước tình hình đó mà cứ kiên trì những hình thức
truyền thống, thì đó cũng là chủ nghĩa hình thức” (Tranh luận về chủ nghĩa biểu
hiện). Khi G. Lukacs tỏ ra dị ứng với những thủ pháp của chủ nghĩa hiện đại
nhưng mông-ta-giơ (lắp ráp), dòng ý thức v.v…, thì B. Brecht cho rằng: “Không
nên với vẻ mặt luôn luôn đúng đắn để tuyên bố rằng, miêu tả một căn phòng
chỉ có thể với một phương thức duy nhất, không nên đuổi lối lắp ráp ra khỏi
văn đàn, không nên đem lối bộc bạch nội tâm đặt lên cán cân tiêu chuẩn để đo
lường! Không nên dùng các danh nhân quá khứ để đả kích tuổi trẻ! Không nên
cho rằng sự phát triển của kỹ xảo nghệ thuật, phải được dừng lại trước 1900,
còn sau đó chả còn gì dùng được nữa”(9).
B. Brecht tuy đã từng có thời kỳ chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác
phương Tây, nhưng xét trong toàn bộ cuộc đời là một nghệ sĩ cách mạng tầm
cỡ, đã từng làm trưởng đoàn kịch Berlin, thời Cộng hoà dân chủ Đức, cũng có
nghĩa là một nhà mác-xít chính thống. Nói như thế để thấy rằng quan niệm về
chủ nghĩa hiện thực của G. Lukacs tuy đã chuyển sang lập trường mác-xít
chính thống nhưng có phần cứng nhắc bảo thủ! Có thể là do vì chuyển biến
quá đà? Tuy nhiên vấn đề lại còn không kém phần phức tạp ở chỗ dường như
có cái gì chồng chéo ở đây, chính quan niệm về chủ nghĩa hiện thực vĩ đại của
G. Lukacs vẫn còn lại dấu vết của chủ nghĩa Mác phương Tây, mà trong đó,
tuy không phải là tất cả, nhưng có khía cạnh lại khá cởi mở như sẽ thấy tiếp
theo.
III. Yếu tố mác-xít phương Tây trong quan niệm về “chủ nghĩa hiện
nhà văn ngay cả khi sự thật ấy không phù hợp với những thiện cảm riêng của
nhà văn” (Turgénev); “Người nghệ sĩ là nghệ sĩ vì đối tượng như thế nào thì
anh ta thấy như vậy, chứ không phải anh ta muốn thế nào thì anh ta lại thấy
ngay như thế” (L. Tolstoi). Chính Balzac cũng đã nói: “Tôi nguyện làm người
thư ký trung thành của thời đại”, đây cũng là khía cạnh quan trọng ngay trong
tư tưởng, trong ý thức của văn hào. Chính Anghen cũng đã nêu bật ý thức này
của Balzac: “Ông cũng nhìn thấy sự sụp đổ tất yếu của những người quý tộc
yêu quý của ông… ông đã thấy những con người chân chính của tương lai ở
cái nơi duy nhất ta có thể nhìn thấy họ, chính vì thế mà thấy đó là một trong
những thắng lợi vĩ đại nhất của chủ nghĩa hiện thực”(11). Thì ra sự thắng lợi vĩ
đại của chủ nghĩa hiện thực vẫn có nguồn gốc sâu xa trong tư tưởng nhà văn.