Báo cáo nghiên cứu khoa học: " ảnh hưởng của phong trào cách mạng tư sản Trung Quốc do Tôn Trung Sơn lãnh đạo đối với Phan Bội Châu và Nguyễn ái Quốc - Hồ Chí Minh" - Pdf 19

Nguyễn Văn Tuấn ảnh hởng và nguyễn ái quốc - hồ chí minh, Tr. 60-69 60
ảnh hởng của phong trào cách mạng t sản
Trung Quốc do Tôn trung sơn lnh đạo đối với
phan bội châu và nguyễn ái quốc - hồ chí minh

Nguyễn Văn Tuấn
(a)Tóm tắt. Trong bài viết này, chúng tôi trình bày sự ảnh hởng của phong trào
cách mạng t sản Trung Quốc do Tôn Trung Sơn lãnh đạo đối với hai nhân vật tiêu
biểu cho hai khuynh hớng giải phóng dân tộc đầu thế kỷ XX (khuynh hớng cách
mạng dân chủ t sản và cách mạng vô sản) đó là Phan Bội Châu và Nguyễn
á
i Quốc -
Hồ Chí Minh. Sự ảnh hởng đối với hai nhân vật này khác nhau về cách thức, mức độ
và hệ quả. Việc nghiên cứu vấn đề trên cũng nhằm góp phần tìm hiểu mối quan hệ
hai nớc Việt Nam - Trung Quốc trong lịch sử và cũng là cơ sở cho mối quan hệ của
hai nớc hiện nay.

1. Về phong trào cách mạng t
sản Trung Quốc do Tôn Trung Sơn
lãnh đạo
Trong quá trình đẩy mạnh tìm
kiếm và xâm lợc thuộc địa của chủ

20 thế kỷ XX.
Cuộc cách mạng Tân Hợi đã xoá bỏ
chế độ phong kiến chuyên chế tồn tại
hàng nghìn năm, thành lập nhà nớc
cộng hoà t sản đầu tiên ở Trung Quốc,
đồng thời tạo ra những nhân tố chính
trị, kinh tế, t tởng, văn hoá để cách
mạng Trung Quốc tiếp tục phát triển, là
bớc chuẩn bị quan trong cho sự thắng
lợi của cách mang dân chủ mới về sau.
Cách mạng Tân Hợi 1911 là kết quả của
sự chuẩn bị lâu dài gắn với lãnh tụ Tôn
Trung Sơn.
Tôn Trung Sơn (1866-1925), nhà
cách mạng dân tộc dân chủ vĩ đại của
nhân dân Trung Quốc thời cận đại, là
ngời lãnh đạo tối cao của cuộc Cách
mạng Tân Hợi. Ông đã tích cực chuẩn
bị về tổ chức và lý luận cho cách mạng.
Về mặt tổ chức: tháng 11-1894, Tôn Nhận bài ngày 03/3/2008. Sửa chữa xong 02/6/2008. trờng Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 2B-2008


trong nớc, thành lập
năm chi bộ là Đông, Tây, Nam, Bắc,
Trung, dới chi bộ là các phân hội theo
đơn vị tỉnh.

nớc ngoài, thành lập bốn
chi bộ là Nam Dơng, Âu châu, Mỹ
châu, Hônôlulu. Hội đã tập hợp đông
đảo các tầng lớp nhân dân tham gia,
bao gồm t sản, tiểu t sản, địa chủ,
thân sĩ bất bình với nhà Thanh, ngoài
ra còn số ít phần tử công nông. So với
các tổ chức trớc, Đồng Minh hội tiến bộ
hơn về nhiều mặt từ tổ chức, địa bàn
hoạt động đến cơng lĩnh chính trị. Đây
chính là tổ chức lãnh đạo tối cao của
cách mạng Tân Hợi. Sau khi thành lập
Đồng Minh hội, Tôn Trung Sơn và các
đồng chí ra sức củng cố và xây dựng tổ
chức Hội vững mạnh chuẩn bị cho ngày
cách mạng. Về mặt lý luận: lý luận chỉ
đạo cuộc Cách mạng Tân Hợi chính là
chủ nghĩa Tam dân. Chủ nghĩa Tam
dân đợc Tôn Trung Sơn nêu ra lần đầu
tiên vào năm 1905 làm cơng lĩnh cho
Đồng Minh hội, gồm ba nội dung cơ bản
là chủ nghĩa Dân tộc, chủ nghĩa Dân
quyền và chủ nghĩa Dân sinh. Trong lời
nói đầu tờ Dân báo, cơ quan ngôn luận
của Đồng Minh hội, số 1, tháng 11-

chuyên chế bị sụp đổ.
Mặc dù cuối cùng thất bại, thành
quả cách mạng bị tập đoàn quân phiệt
Viên Thế Khải thoán đoạt, nhng Cách
Nguyễn Văn Tuấn ảnh hởng và nguyễn ái quốc - hồ chí minh, Tr. 60-69 62
mạng Tân Hợi vẫn là sự kiện trọng đại,
có ý nghĩa lịch sử hết sức lớn lao. Cách
mạng Tân Hợi không chỉ mở ra kỷ
nguyên mới trong lịch sử Trung Hoa mà
còn có ảnh hởng lớn đến phong trào
giải phóng dân tộc đối với các nớc
trong khu vực đang cùng chung một
hoàn cảnh và khát vọng giải phóng.
Đây là một trong những cuộc cách
mạng nổ ra đầu tiên ở một nớc phụ
thuộc, nằm trong hệ thống thuộc địa
của chủ nghĩa đế quốc. Những kết quả
của nó là sự khích lệ tinh thần to lớn,
cũng nh cung cấp con đờng, biện
pháp và hình mẫu chính quyền cho các
nớc thuộc địa trong quá trình giải
phóng dân tộc. Hơn nữa, hệ lý luận chỉ
đạo cuộc cách mạng này - chủ nghĩa
Tam dân - có sức lan toả, tác động đến

tởng cách mạng.
ô
ng giải thích lại và
phát triển chủ nghĩa Tam dân, hình
thành Chủ nghĩa Tam dân mới với
Tam đại chính sách: Liên Nga, Liên
Cộng, Phù trợ công nông. Đồng thời,
cải tổ Quốc dân Đảng Trung Hoa thành
hình thức mặt trận thống nhất, gồm
đông đảo mọi tầng lớp nhân dân, chủ
trơng Quốc - Cộng hợp tác. Chủ nghĩa
Tam dân mới là cơng lĩnh của Quốc
dân Đảng và cũng là cơng lĩnh chung
cho sự hợp tác giữa hai đảng Quốc dân
và Cộng sản.
Có thể nói rằng phong trào cách
mạng t sản do Tôn Trung Sơn lãnh
đạo đầu thế kỷ XX có ý nghĩa quan
trọng đối với lịch sử Trung Quốc và có
tầm ảnh hởng ra bên ngoài.
Đối với Việt Nam, phong trào cách
mạng t sản Trung Quốc đã có ảnh
hởng đến các khuynh hớng giải
phóng dân tộc với mức độ khác nhau.
Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi
tìm hiểu sự ảnh hởng của phong trào
cách mạng t sản do Tôn Trung Sơn
lãnh đạo (chủ yếu là Chủ nghĩa Tam
dân, Cách mạng Tân Hợi, thực tiễn
cách mạng Trung Quốc đầu những năm

(1867-1940) nổi lên là một nhân vật
tiêu biểu, đại diện cho xu hớng bạo
động. Ông thành lập Duy Tân hội, lãnh
đạo phong trào Đông Du, thành lập Việt
Nam Quang Phục hội, trung thành với
đờng lối bạo động. Trong quá trình
hoạt động cách mạng của Phan Bội
Châu, ảnh hởng của Cách mạng Tân
Hợi, chủ nghĩa Tam dân và Tôn Trung
Sơn rất sâu sắc.
Sau khi phong trào Đông Du (1905-
1908) thất bại, Phan Bội Châu bắt đầu
chuyển từ t tởng quân chủ sang t
tởng dân chủ, cộng hoà. Phong trào
cách mạng do ông lãnh đạo bớc sang
giai đoạn mới, giai đoạn chịu ảnh hởng
trực tiếp của Tôn Trung Sơn.
Ngay từ năm 1905, Phan Bội Châu
đã hai lần hội đàm với Tôn Trung Sơn
để bàn về tình hình cách mạng hai
nớc. Tôn Trung Sơn vốn biết Phan Bội
Châu chịu ảnh hởng của t tởng
quân chủ lập hiến nên đã tuyên truyền
t tởng cộng hoà cho Phan Bội Châu.
Tôn Trung Sơn muốn các nhà cách
mạng Việt Nam gia nhập Đảng cách
mạng Trung Quốc, để khi cách mạng
Trung Quốc thành công sẽ giúp các
nớc châu
á

Trong Niên Biểu, ông thổ lộ: Cái tin
đó bắn tới Xiêm, lòng nóng sốt của tôi
lại phầng phầng muốn phụt ra, mà ngộ
điểm thứ nhất là vì thế này: nghĩ sau
khi đảng cách mạng thành công thì
chính phủ Trung Hoa mới không hủ bại
nh chính phủ cũ[5, tr. 214]. Chính vì
vậy, Cách mạng Tân Hợi trở thành tín
hiệu để Phan Bội Châu tập hợp lực
lợng tiếp tục hoạt động cách mạng.
Nhiều chiến sĩ của Duy Tân hội từng
hoạt động trong phong trào Đông Du
(còn lại khoảng 100 ngời) từ Thái Lan
đến, Nhật Bản về, trong nớc sang
Trung Quốc để cùng nhau họp bàn kế
hoạch cứu nớc mới.
Tháng 2-1912, Phan Bội Châu cải tổ
Duy Tân hội, thành lập Việt Nam
Quang Phục hội. Ông là ngời đề xớng
đồng thời cũng là ngời hăng hái đấu
tranh bảo vệ chủ nghĩa dân chủ và
hớng Việt Nam Quang Phục hội theo
chế độ cộng hoà. Việt Nam Quang Phục
hội ra tôn chỉ duy nhất nêu rõ: Đánh
Nguyễn Văn Tuấn ảnh hởng và nguyễn ái quốc - hồ chí minh, Tr. 60-69
Nam [10, tr. 225].
Có thể nói, Cách mạng Tân Hợi đã
đem lại bớc ngoặt thực sự trong t
tởng và hành động cách mạng của
Phan Bội Châu trong hoàn cảnh mới.
Cách mạng Tân Hợi trở thành hình
mẫu cho sự phấn đấu của Phan Bội
Châu và Việt Nam Quang Phục hội. Do
vậy, Việt Nam Quang Phục hội có quan
hệ mật thiết và chịu ảnh hởng của
cách mạng Trung Hoa. Bản thân tổ
chức này đợc thành lập ngay trên đất
Trung Quốc, do những ngời đã từng
quan hệ với Hng Trung hội, Đồng
Minh hội của Tôn Trung Sơn, nên chịu
ảnh hởng của tổ chức trên về cơng
lĩnh và tổ chức. Hơn nữa, với quan hệ
địa lý gần gũi, có nhiều điểm tơng
đồng về văn hoá lịch sử giữa hai nớc,
cộng với thực tiễn cách mạng Trung
Quốc diễn ra sôi động thì việc Phan Bội
Châu và Việt Nam Quang Phục hội có
quan hệ mật thiết với cách mạng Trung
Hoa là điều rất dễ nhận thấy. Sự ảnh
hởng này tác động tích cực đến hoạt
động sôi nổi của Viêt Nam Quang Phục
hội. Nhng cuối cùng Việt Nam Quang
Phục hội thất bại, Phan Bội Châu bị
bắt, cho thấy phong trào cách mạng dân
chủ t sản do Phan Bội Châu lãnh đạo

cách mạng là phải bắt tay làm cách
mạng xã hội. Hơn nữa việc huấn luyện
cách mạng xã hội không thể thành công
trờng Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 2B-2008 65
nếu không dựa vào đông ngời giai cấp
dới tức là công nhân và nông dân. [1,
tr. 126]. Năm 1924, tại Quảng Châu,
Phan Bội Châu cải tổ Việt Nam Quang
phục hội thành Việt Nam Quốc dân
đảng với cách thức tổ chức và cơng
lĩnh hoạt động tơng đối giống với
Trung Hoa Quốc dân đảng. Tất thảy
dựa theo khuôn mẫu của Trung Quốc
Quốc dân đảng mà châm chớc thêm
bớt cho đúng với tình hình nớc ta,
cũng là một thủ đoạn tuỳ thời cải cách
đó vậy [5, tr. 262].
Có thể thấy rằng sự chuyển biến
của Phan Bội Châu vào những năm 20,
thế kỷ XX cùng chiều phát triển với xu
hớng cách mạng dân chủ t sản Trung
Quốc do Tôn Trung Sơn lãnh đạo. Đó
cũng là điều giống nhau của phong trào
cách mạng hai nớc. Sau Cách mạng

cách mạng dân chủ t sản Việt Nam
đầu thế kỷ XX - đã học tập chủ nghĩa
Tam dân, cơng lĩnh chính trị của các
tổ chức cách mạng Trung Quốc, noi
gơng Tôn Trung Sơn để định hớng
đờng lối cứu nớc của mình. Phan Bội
Châu luôn luôn ngỡng mộ và đánh giá
cao Tôn Trung Sơn, coi Tôn Trung Sơn
là thầy. Vì thế, xét ở phơng diện nhất
định, sự ảnh hởng này góp phần thúc
đẩy phong trào giải phóng dân tộc Việt
Nam đầu thế kỷ XX phát triển.
3.

nh hởng đối với Nguyễn ái
Quốc - Hồ Chí Minh
Nếu nh Phan Bội Châu là ngời
tiêu biểu cho thế hệ các nhà nho yêu
nớc thức thời thì Nguyễn
á
i Quốc - Hồ
Chí Minh (1890 - 1969) là ngời tiêu
biểu cho thế hệ những trí thức tân học
chịu ảnh hởng của Tôn Trung Sơn,
Cách mạng Tân Hợi và chủ nghĩa Tam
dân. Phong trào cách mạng t sản
Trung Quốc do Tôn Trung Sơn lãnh đạo
không chỉ ảnh hởng đến con đờng
cách mạng dân chủ t sản mà cả với con
đờng cách mạng vô sản Việt Nam.

Khi Nguyễn
á
i Quốc ra nớc ngoài
thì cách mạng Tân Hợi cha bùng nổ,
tên tuổi của Tôn Trung Sơn cha thực
sự nổi bật nh ngày ông thiết lập nền
cộng hoà. Thời kỳ Nguyễn
á
i Quốc hoạt
động ở Pháp và Liên Xô, những thông
tin và tầm ảnh hởng của Cách mạng
Tân Hợi, chủ nghĩa Tam dân và bản
thân Tôn Trung Sơn mới đến Ngời, đặc
biệt khi Tôn Trung Sơn có sự chuyển
hớng trong đờng lối cứu nớc của
mình.
Nói nh vậy có nghĩa là khi đã trở
thành ngời cộng sản, quyết tâm giải
phóng dân tộc theo hệ t tởng vô sản,
Nguyễn
á
i Quốc vẫn hết sức quan tâm
đến t tởng của Tôn Trung Sơn. Điều
quan trọng là nhận thức của Nguyễn
á
i
Quốc về Tôn Trung Sơn và chủ nghĩa
Tam đân đợc soi sáng bởi học thuyết
cách mạng, khoa học của Mác- Lênin.
Lúc ở Pari, Nguyễn

cơng lĩnh của Đảng ông - Quốc dân
đảng - là một cơng lĩnh cải cách.
Cơng lĩnh đó gồm những điều khoản
chống đế quốc và chống quân phiệt một
cách rõ rệt. Đảng đó lớn tiếng tuyên bố
đoàn kết với các dân tộc bị áp bức và các
nớc thuộc địa và với giai cấp vô sản.
Đảng đó đồng tình với cách mạng Nga,
chính vì thế mà ngày nay ngời ta đang
tìm cách thanh toán Tôn Dật Tiên và
Đảng của ông, cũng nh trớc đây
ngời ta tìm cách bóp chết nớc Nga
cách mạng vậy [2, tr. 283-284]. Đây là
những nhận định của Nguyễn
á
i Quốc
về cơng lĩnh của Quốc dân đảng và
chủ nghĩa Tam dân mới của Tôn
Trung Sơn. Nh vậy, Nguyễn
á
i Quốc
đánh giá cao những điểm tiến bộ trong
đờng lối của Quốc dân đảng và t
tởng mới của Tôn Trung Sơn với
những nội dung tích cực: Một là chống
đế quốc và chống quân phiệt; hai là
đoàn kết với các dân tộc bị áp bức vì
giai cấp vô sản quốc tế; ba là đồng tình
với cách mạng Nga.
Khi từ Matxcơva (Liên Xô) đến

Đồng thời trong quá trình nghiên
cứu nội dung chủ nghĩa Tam dân mới,
Nguyễn
á
i Quốc thấy sự giải thích, bổ
sung chủ nghĩa Tam dân của Tôn
Trung Sơn có nhiều điểm thích hợp với
cách mạng giải phóng Việt Nam. Ngời
đã tổng kết một cách khái quát chủ
nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn là:
Chủ nghĩa dân tộc: độc lập cho dân tộc;
chủ nghĩa dân quyền: tự do cho nhân
dân; chủ nghĩa dân sinh: hạnh phúc và
hởng thụ cho nhân dân. Đây là cái
Việt Nam cần. Đây là cái dân tộc Việt
Nam đòi hỏi. Đây là cái Nguyễn
á
i
Quốc tìm kiếm [8, tr. 17].
Năm 1925, Nguyễn
á
i Quốc thành
lập Việt Nam Cách mạng thanh niên, tổ
chức các lớp huấn luyện thanh niên
cách mạng. Những nội dung đợc giảng
dạy tại các lớp huấn luyện ở Quảng
Châu là thời cuộc thế giới, bao gồm: lịch
sử các cuộc cách mạng, Quốc tế III,
phong trào đấu tranh của các thuộc địa,
lịch sử Cách mạng Tháng Mời Nga,

á
i
Quốc (với bí danh Vơng Đạt Nhân) nói:
Chúng ta thấy rằng, tinh thần cách
mạng đã thâm nhập toàn bộ dân chúng,
đặc biệt là đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ hai này càng phát huy chủ
nghĩa vĩ đại, chính sách vĩ đại của Tôn
Tổng lý và cùng với các dân tộc bị áp
bức đấu tranh [10, tr. 259].
Ngày 12-3-1927, Nguyễn
á
i Quốc
viết bài Kỷ niệm lần thứ hai ngày Tôn
Dật Tiên qua đời, đăng ở báo LAn
Nam (một tờ báo hợp pháp ở Sài Gòn).
ở bài báo này, tên tuổi và công lao của
Tôn Trung Sơn một lần nữa đợc
Nguyễn
á
i Quốc đề cao: Con ngời làm
việc lột xác nớc Trung Hoa vĩ đai đã
cống hiến cả nghị lực và cuộc đời mình
cho thắng lợi cả dân tộc, là dân tộc siêu
việt [10, tr. 260-261].
Những năm hoạt động ở Trung
Quốc từ 1924-1927, Tôn Trung Sơn và
chủ nghĩa Tam dân đã có ảnh hởng
đến quá trình bổ sung, hoàn thiện lý
luận cách mạng của Nguyễn

mạng xã hội chủ nghĩa [6, tr. 27].
Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam
thành lập, nhất quán t tởng độc lập
dân tộc, Nguyễn
á
i Quốc xác định vấn
đề dân tộc là vấn đề quan trọng hàng
đầu, trung tâm của cách mạng Việt
Nam. Tại Hội nghị Trung ơng VIII (5-
1941), Ngời khẳng định: Trong lúc
này quyền lợi giải phóng dân tộc hơn
hết thảy, chúng ta phải đoàn kết lại
đánh đổ bọn đế quốc và Việt gian đặng
cứu giống nòi ra khỏi nớc sôi lửa bỏng
[4, tr. 198]. Cách mạng Tháng Tám
thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
quyết định chọn tiêu ngữ cho nớc Việt
Nam mới. Dới chữ Việt Nam Dân chủ
Cộng hoà là dòng Độc lập - Tự do -
Hạnh phúc. Đó là những chữ chứa
đựng nội dung cơ bản của chủ nghĩa
Tam dân, đồng thời là khát vọng, mục
tiêu đấu tranh của biết bao thế hệ
ngời Việt Nam.
Nh vậy, Nguyễn
á
i Quốc - Hồ Chí
Minh đã tiếp thu t tởng chính trị của
Tôn Trung Sơn và vận dụng vào hoạt
động cách mạng của mình. Tuy nhiên,

mạng t sản Trung Quốc do Tôn Trung
Sơn lãnh đạo có tầm lan toả mạnh mẽ
đến các thế hệ yêu nớc, cách mạng
Việt Nam, ảnh hởng đến phong trào
cách mạng dân chủ t sản và cách
mạng vô sản Việt Nam đầu thế kỷ XX.
Phan Bội Châu và Hồ Chí Minh là
những ngời tiêu biểu nhất cho sự tiếp
thu đó trong công cuộc giải phóng dân
tộc, nhng sự tiếp thu của hai nhân vật
này khác nhau về cách thức, mức độ và
hệ quả. Trong khi Phan Bội Châu thất
bại thì Hồ Chí Minh đã đa cách mạng
Việt Nam đi đến thắng lợi hoàn toàn.
Điều đó cho thấy tính chất thời đại của
con đờng cách mạng t sản lúc bấy giờ.
Có thể nói, đến lúc đó con đờng cách
mạng t sản không thể là cứu cánh cho
cả hai dân tộc Trung Quốc và Việt Nam.
Cho dù Tôn Trung Sơn đã biết chuyển
trờng Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 2B-2008 69
mình, Phan Bội Châu đã hết lòng vì
nớc, nhng đòi hỏi của dân tộc lại là
một con đờng mới, đúng đắn, đủ sức

movement led by Ton Trung Son on Phan Boi Chau and Nguyen Ai
Quoc - Ho Chi Minh

In this article we presented the influence of the Chinese capitalists
revolutionary movement led by Ton Trung Son on two persons who were symbols of
two tendencies to liberate Viet Nam in the early twentieth century (the capitalists
democracy trend and the proletarian revolution trend) those people are Phan Boi
Chau and Nguyen Ai Quoc - Ho Chi Minh. The influences on two those people are
different in mode, degree and consequence. The studying these problems also
inquires further into the realationshit between two countries Viet Nam and China
in history and it's the foundation of the current realationship between two countries
as well.

(a)
Khoa Lịch sử, trờng Đại học Vinh.


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status