Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 1b-2007
97
Tìm hiểu phạm trù "Đạo"của Lo Tử
Nguyễn Trờng Sơn
(a)Tóm tắt. Trong lịch sử triết học Trung Quốc, "Đạo" là một trong những phạm trù
trung tâm - nhất là phạm trù Đạo của Lão Tử. Bài báo tập trung vào các nội dung: Đạo
là bản nguyên tạo ra thế giới; Đạo là quy luật vận động và phát triển của thế giới; Đạo là
"vô vi". Nghiên cứu nó một cách kĩ lỡng có ý nghĩa rất lớn không chỉ về học thuật mà
còn là t liệu quý để sinh viên chuyên ngành Giáo dục Chính trị tham khảo.
ão Tử (sống ở thế kỷ thứ V
tr.CN) là một hiện tợng đặc
biệt trong lịch sử triết học Trung Quốc
nói riêng cũng nh triết học nhân loại
nói chung. Đến nay chúng ta cha biết
chắc chắn về cuộc đời, sự nghiệp của
ông, về tác phẩm bất hủ mang tên ông
thế nhng t tởng triết học thì vô tiền
khoáng hậu. Vô tiền khoáng hậu ở chỗ
triết học của Lão Tử là hệ thống khái
cùng trừu tợng. Ông nói: "Có một vật
hỗn độn mà thành trớc cả trời đất. Nó
yên lặng (vô thanh), trống không (vô
hình), đứng một mình mà không thay
đổi (vĩnh viễn bất biến), vận hành khắp
vũ trụ mà không ngừng, có thể coi nó là
mẹ của vạn vật trong thiên hạ" [1, tr.
202]. Cái bản nguyên đó vô sắc, vô
thanh, vô hình nên không thể giảng
đợc, gọi tên đợc nhng nó tràn ngập
vũ trụ; là nguồn gốc của vạn vật. ở
chơng 14 ông viết: "Nhìn không thấy
gọi là di, nghe không thấy gọi là hi,
nắm không đợc gọi là vi, truy cứu đến
cùng cũng không biết đợc gì chỉ thấy
trộn lộn làm một.
ở
trên không sáng, ở
dới không tối, thâm viễn bất tuyệt,
không thể gọi tên, nó lại trở về cõi vô
vật, cho nên bảo là cái trạng không có
hình trạng, cái tợng không có
Nhận bài ngày 24/10/2006. Sửa chữa xong 23/11/2006.
L
Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXIV, số 3b-2005
mệnh trời chi phối toàn bộ. Khổng Tử
đã từng nói không hiểu mệnh trời
không phải là ngời quân tử. Làm việc
gì (dù là ai) đã mắc tội với trời thì có
cầu đảo cũng vô ích. Mặc Tử đa ra học
thuyết "Phi mệnh", lên án gắt gao t
tởng thiên mệnh của Nho gia, đề cao
sự nỗ lực của con ngời. Ông nói ngời
nào dựa vào sự nỗ lực của mình thì
sống, không dựa vào sự nỗ lực của mình
thì không sống. Ông còn cho rằng
những ngời đi tuyên truyền, gieo rắc
t tởng thiên mệnh là những ngời
không có lòng nhân ái, chẳng qua cũng
chỉ là những tên cớp ngày mà thôi.
Thế nhng ông lại đa ra t tởng
"Minh quỷ" để bắt buộc mọi ngời phải
tuân theo học thuyết "Kiêm ái". Đó là
một bớc thụt lùi trong t tởng của
Mặc Tử. Với Lão Tử, ông phủ nhận hết
thảy mọi Đấng sáng tạo và kết luận tất
cả mọi sự vật hiện tợng đều do đạo
sinh ra, và hơn thế đạo còn có trớc và
sinh ra Thợng đế. Trong Chơng 4 ông
viết: "Ta không biết nó là con ai; có lẽ
nó có trớc cả đế" [1, tr. 169]. Theo học
giả Nguyễn Hiến Lê thì t tởng của
Lão Tử là "một học thuyết vô thần" [1,
tr. 67]. Với luận cứ: "Cả bộ Đạo đức
kinh, chơng 4 là nhắc tới "đế" nhng
99
cái kia. Trong đó cái vô là cái có trớc
và sinh ra hữu, quyết định cái hữu:
"Đạo sinh nhất, nhất sinh nhị, nhị sinh
tam, tam sinh vạn vật". Với mệnh đề
này theo chúng tôi, đạo của Lão Tử duy
tâm một trăm phần trăm.
Đạo không chỉ là bản nguyên khởi
thủy mà còn mang tính vĩnh hằng
(thờng). Trong vũ trụ không có cái gì
là không do đạo sinh ra. Chúng là hiện
thân của đạo và khi chết đi lại quay trở
về với đạo. Theo ông, "Vạn vật phồn
thịnh đều trở về căn nguyên của chúng
(tức đạo). Trở về căn nguyên thì tĩnh,
(tĩnh là bản tính của mọi vật), cho nên
trở về căn nguyên gọi là "trở về mệnh".
Trở về mệnh là luật bất biến (thờng)
của vật. Biết luật bất biến thì sáng
suốt, không biết luật bất biến thì vọng
động mà gây hoạ" [1, tr. 188].
2. Đạo không chỉ là bản nguyên sinh
ra thế giới mà còn mang tính quy luật.
Tất cả các sự vật hiện tợng trên thế
giới sinh thành, tồn tại và biến hóa đều
tuân theo quy luật của đạo: "Trong vũ
trụ có bốn cái lớn mà ngời là một.
Ngời bắt chớc đất, đất bắt chớc trời,
trời bắt chớc đạo, đạo bắt chớc tự
nhiên" [1, tr. 202]. Nội dung của quy
phúc họa luôn luôn chuyển hóa lẫn
nhau. Có kết hợp với không thì sinh
tồn; khó kết hợp với dễ thì thành đạt;
dài kết hợp với ngắn; cao kết hợp với
thấp thì sẽ không nghiêng lệch; âm kết
hợp với thanh thì hài hòa; trớc kết hợp
với sau thì thuận theo" [3, tr. 84]. Có
hay không, khó hay dễ, dài hay ngắn,
mạnh hay yếu, cao hay thấp, tiền với
hậu, họa với phúc tất cả đều chuyển
hóa lẫn nhau. Những vận động cơng
nhu, vinh nhục, thắng thua, tiến
thoái đều nh thế cả. Hơn thế, trong
từng mặt đối lập đã chứa đựng mầm
mống của mặt đối lập với chính nó và
còn là chỗ dựa của chính nó: "Họa hề
phúc chi sở ỷ, phúc hề họa chi sở phục"
(Họa là chỗ dựa của phúc, phúc là chỗ
ngầm chứa của họa). Sự chuyển hóa đó
cũng tuân theo quy luật: "Tổn hữu d
nhi bổ bất túc" [1, tr. 271] (Bớt chỗ d
Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXIV, số 3b-2005
100
thừa bù vào chỗ thiếu). Quá trình biến
nhờ cái bễ đó mọi vật mới vận động,
biến hoá: "Khoảng giữa trời đất nh ống
bễ, h không mà không kiệt, càng
chuyển động hơi lại càng ra" [1, tr. 171].
T tởng thiên về nhợc của ông
biểu hiện rất rõ ràng: trên thế gian này
cái gì mềm mại thì sống và cờng thịnh.
"Con ngời ta khi sinh ra thì mềm yếu
mà khi chết thì cứng đơ. Thảo mộc sinh
ra thì mềm yếu mà khi chết đi thì khô
cứng. Cho nên cứng mạnh là cùng loài
với chết, mềm yếu là cùng loại với sống"
[1, tr. 113]. Ông còn cho rằng: "Mộc
cờng tắc chiết, binh cờng tắc diệt"
(một cây gỗ mau lớn thì bị chặt, một
nớc binh cờng thì sớm bị tiêu diệt).
Trên thế gian này không có cái gì mềm
hơn nớc nhng cũng không có cái gì
mạnh hơn nớc: "Trong thiên hạ cái cực
mềm (là nớc) chế ngự đợc cái cực
cứng (đá), (vì nớc xói mòn đá)" [1, tr.
113]. Nớc biết chỗ cao thì tránh, biết
chỗ thấp thì vào; nó điều hoà làm cho
mọi vật tơi tốt. Hơn thế nớc còn biết
nhờng nhịn, không tranh giành với ai,
mà không tranh giành thì không bao
giờ lầm lỗi. "Nớc khéo làm lợi cho vạn
vật mà không tranh với vật nào, ở chỗ
mọi ngời ghét (chỗ thấp) cho nên gần
với đạo" [1, tr. 176). Từ đó ông đi tới kết
khôi sơ nhi bất thất" (lới trời lồng lộng
tha mà không lọt) [1, tr. 266].
3. Đạo là vô vi. Vô vi không phải là
không làm mà là không làm gì trái với
tự nhiên. Trừ những cái không trái với
tự nhiên thì con ngời phải làm và làm
đợc tất cả. Trong chơng 37 ông viết:
"Đạo thờng vô vi nhi vô bất vi" (đạo
vĩnh hằng thì không làm gì nhng lại
làm tất cả). Đặc trng của đạo là tự
nhiên, vô vi (thuận theo lẽ tự nhiên,
không làm gì cả). Hữu vi là những sáng
tạo của con ngời. Vô vi và hữu vi hoàn
toàn trái ngợc nhau. Ông chủ trơng
con ngời hãy thuận theo lẽ tự nhiên
của đạo, vứt bỏ mọi cái hữu vi thì tất cả
đâu sẽ vào đấy: "Tuyệt học vô u"
(chơng 20: bỏ cái học đi thì không lo
sợ) và: "Tri bất tri thợng" (chơng 71:
biết cái không biết là hơn hết). "Học bất
học" nghĩa là lấy sự không học làm học.
Nếu làm đợc nh vậy thì: "Không cần
ra khỏi cửa mà biết đợc (sự lí trong)
thiên hạ; không dòm ra cửa mà biết
đợc đạo trời. Càng đi xa thì càng biết
đợc ít (vì chỉ biết đợc những hiện
tợng trớc mắt thôi, biết đợc phần tử
không biết đợc toàn thể). Cho nên
thánh nhân không đi mà biết, không
nhìn mà thấy rõ, không làm mà nên" [1,
muốn để lòng dân không loạn. Cho nên
chính trị của thánh nhân là làm cho
dân lòng thì h tĩnh, bụng thì no, tâm
chí thì yếu (không ham muốn, không
tranh giành), xơng cốt thì mạnh.
Khiến cho dân không biết, không muốn
mà bọn trí xảo không hành động. Theo
chính sách "vô vi" thì mọi việc đều trị"
[1, tr. 168]; "Dùng đạo mà trị thiên hạ
thì quỷ không linh; chẳng những quỷ
không linh mà thần cũng không làm
hại đợc ngời; chẳng những thần
không làm hại ngời mà thánh nhân
cũng không làm hại ngời. Hai bên
(một bên là quỷ, thần, thánh nhân một
bên là ngời) không làm hại nhau, cho
nên đức quy cả về dân" (chơng 60).
Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXIV, số 3b-2005
102
Nếu trị quốc theo đạo tự nhiên vô vi,
con ngời không can thiệp vào mà chỉ
theo lẽ tự nhiên; đồng thời ruồng bỏ
những bậc tài cao học rộng trở lại trạng
thái ít, nớc nhỏ dân hèn; đa xã hội
Summary
A study on Lao Tus TAO category
In the history of Chinese philosophy, TAO is a central category, especially, Lao
Tu TAO category. The following main contents are focused in the article: TAO is the
origin of creating a universe; TAO is the universes law of motion and development;
TAO is inaction (wu-wei).
Making a thorough study on it has both theoretical and practical significance.
The result of the study is a good reference for the students of Politics-Law
Department.
(a)
Khoa Giáo Dục Chính Trị, Trờng Đại học Vinh