TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA : SAU ĐẠI HỌC
LỚP : KTKT ĐÊM K20
**
ĐỀ TÀI: TỔN THẤT TÀI SẢN TÀI CHÍNH
Người hướng dẫn: TS.Nguyễn Thị Thu Hiền
Thực hiện: Nhóm 18
1. Nguyễn Thị Hiên
2. Trần Thị Thanh Huyền
3. Nguyễn An Nhiên
4. Hà Thị Phương Thảo
5. Phạm Đức Thắng
TP. Hồ Chí Minh, tháng 11 năm 2012
Trang 1
I. MỞ ĐẦU
Công cụ tài chính đã ra đời từ 3500 năm trước công nguyên và cho đến nay vẫn đang tiếp
tục phát triển.Các công cụ tài chính ngày càng đa dạng và có vai trò quan trọng trên thị
trường tài chính.Công cụ tài chính làm xuất hiện tài sản tài chính và nợ tài chính hoặc
công cụ vốn chủ sở hữu.
Tài sản tài chính cũng là tài sản.Khi trình bày tài sản trên báo cáo tài chính cần đảm bảo
giá trị tài sản phải trung thực và hợp lý, đặc biệt không được thổi phồng giá trị tài sản. Do
vậy mà tài sản tài chính phải được đánh giá đúng.
Tài sản tài chính cũng có khả năng bị giảm giá trị do không thu hồi được đầy đủ, lúc này
làm phát sinh tổn thất tài sản tài chính. Tổn thất tài sản tài chính nếu không được nhận
diện và đo lường hợp lý sẽ gây ảnh hưởng đến tính đúng đắn của thông tin trên báo cáo
tài chính, và như vậy sẽ ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng thông tin.
Bài viết nghiên cứu những lý thuyết liên quan tổn thất tài sản tài chính, qua đó tiếp tục
tìm hiểu các bài báo nghiên cứu các vấn đề thực tiễn về tổn thất tài sản tài chính.Vì tổn
thất tài sản tài chính có ảnh hưởng rất lớn đối với tình hình tài chính của các ngân hàng
thương mại, nên bài viết tập trung vào cách tính tổn thất tài sản tài chính và khoản dự
phòng tổn thất tài sản tài chính tại ngân hàng thương mại.
• BUS Model Test
• CF Test
2.1.3.Tổn thất tài sản tài chính
Trang 3
Một hoặc một nhóm tài sản tài chính đo lường theo amortised cost bị tổn thất khi và chỉ
khi:
-Có bằng chứng khách quan về tổn thất là kết quả của một hoặc nhiều hơn một sự kiện
xảy ra sau ghi nhận ban đầu; và
-Sự kiện tổn thất tác động đến các dòng tiền ước tính trong tương lai
IAS 39 yêu cầu các doanh nghiệp phải xem xét đến các bằng chứng khách quan có liên
quan đến tổn thất của tài sản tài chính hoặc một nhóm tài sản tài chính, bao gồm các nhân
tố như sau:
-Khó khăn tài chính nghiêm trọng của bên phát hành/bên nhận nợ
• Không có khả năng thực hiện hợp đồng hoặc vi phạm hợp đồng
• Bên cho vay đồng ý thỏa hiệp
- Khách hàng vay bị phá sản hoặc phải cơ cấu lại về tài chính
-Không có một thị trường hoạt động cho các tài sản liên quan
-Xác định được giá trị giảm của các dòng tiền ước tính trong tương lai
IFRS 9 dự định sẽ đưa thêm một số yêu cầu cho việc ghi nhận tổn thất cho TSTC đo
lường theo amortised cost và dự phòng rủi ro tài chính. Đây là giai đoạn II của dự án thay
thế IAS 39.
• Một số dự án nghiên cứu về tổn thất tài sản tài chính ở các ngân hàng:
• Dự án 1 – Chất lượng kiểm toán và đánh giá giá trị thị trường của các khoản
dự phòng của ngân hàng đối với các khoản vay
TÓM TẮT
Khoản mục vay là một trong những khoản mục dễ có nhiều kẻ hở nhất, chính vì vậy
trong việc kiểm toán báo cáo tài chính của các ngân hàng nó cũng là một khoản mục
quan trọng nhất. Một số findings gần đây cho thấy rằng dự phòng thua lỗ các khoản vay
Trang 4
là mấu chốt của việc dự báo tình trạng tài chính của ngân hàng. Khi chất lượng tín dụng
• a/ Phí kiểm toán càng cao thì càng đánh giá nhiều các yếu tố tự do hơn là các yếu tố
mang tính chất nguyện tắc trong việc lập dự phòng các khoản lỗ vay.
• b/ Phí các dịch vụ khác càng cao thì càng đánh giá nhiều các yếu tố tự do hơn là
các yếu tố mang tính chất nguyện tắc trong việc lập dự phòng các khoản lỗ vay.
1.2/ Mô hình kinh nghiệm
Chúng ta đưa ra phương pháp bao gồm 2 giai đoạn để đánh giá các giả thuyết.Ở giai đoạn
đầu chúng ta sẽ ước tính các nhân tố tự do trong bài toán lập dự phòng. Sau đó, liên kết
nhân tố này với các phương pháp khác nhau của kiểm toán trong giai đoạn 2.
Dự phòng cho khoản lỗ vay là một hàm số chạy hồi quy theo các biến:
+ Giá trị sổ sách của cổ phần thường
+ Tỷ lệ giữa vay và cổ phần thường
+ Tỷ lệ giữa tổng vay và cổ phần thường
+ Tỷ lệ giữa
+……
KẾT QUẢ
Trang 6
• Dự án 2 – Phương pháp tính tổn thất TSTC
1. Rối loạn thị trường tài chính ở các nước trong những năm của thập niên 80 và 90 khiến
các stakeholders bày tỏ quan ngại về vấn đề dự phòng rủi ro tín dụng của các ngân hàng
để bù đắp các tổn thất trong tương lai. Ở Mỹ, các nhà quản lý ngân hàng xem việc dự
phòng rủi ro tín dụng trên khía cạnh an toàn và lành mạnh trong hệ thống ngân hàng.
Trong khi ủy ban chứng khoán Mỹ (SEC) cho rằng đây có thể là công cụ giúp các ngân
hàng quản lý lợi nhuận. Cả hai nhà quản lý đều yêu cầu các Ngân hàng cần có những tính
toán chặt chẽ hơn để hỗ trợ cho việc ghi nhận kế toán. Ngoài ra FASB và IASB đã bày tỏ
quan ngại về sự thiếu hài hòa và thống nhất trong chuẩn mực. Một phân tích về tiêu
chuẩn đánh giá ở Mỹ, Canada, Nhật Bản, Anh và Úc cũng như các phân tích của Basel
of committee of banking supervision và IASB cho thấy một số mâu thuẩn về mục đích
của các khoản dự phòng:
• ISAB: Thúc đẩy sự hài hòa
• SEC: tăng tính minh bạch
Selected Loan Loss Allowance Methodology and Documentation Issues)
-Chuẩn mực kế toán Ban chấp hành - Accounting Standards Executive Committee
(AcSEC) AICPA ban hành ngày 15 Tháng Hai 2002 .
Canada
Năm 1992, các ngân hàng ở Canada báo cáo theo RAP vì không có GAAP cho các ngân
hàng ở Canada (Cockburn, 1992).
Đến năm 2002 AAP đã được yêu cầu cho các ngân hàng Canada (Ngân hàng Act, 1991,
đoạn 308 (4)).
Anh
Bank of England, 2001, AR7: Ngân Hàng Anh cung cấp một phân tích về tài sản và nợ
phải trả được đánh giá và tổn thất cho vay có thể bị ảnh hưởng bởi các sự kiện kinh tế vĩ
mô do đó ngầm tranh cãi cho một khoản dự phòng chung bao gồm các sự kiện và các
Trang 8
phép đo bên ngoài để danh mục cho vay của ngân hàng mặc dù quy định của 'rủi ro cho
vay thường được thực hiện chỉ sau khi đã xảy ra một sự kiện mặc định '
Ngân hàng Anh công nhận sự cần thiết của phân bổ chung trong khi lưu ý các quy ước kế
toán cần thêm quy định (một tiêu chuẩn rất hạn chế).
Nhật
Prompt Corrective Action’ tháng 4 năm 1998 (Ngân hàng Nhật Bản, 1998). Nhật Bản yêu
cầu các tổ chức cho vay tiến hành đánh giá đầy đủ tài sản của họ và tính toán thích hợp
dựa trên các quy tắc của riêng nội bộ của
Nhật Bản sử dụng RAP cho các ngân hàng theo quy định của Bộ Cho vay
Úc
Úc không có RAP riêng cho các ngân hàng, kết hợp thuyết minhcho các tổ chức cho vay
trong chuẩn mực kế toán áp dụng trong AASB
Quốc tế
- Các tuyên bố của Ủy ban Basel, lập .các nguyên tắc chung trong quản lý tín dụng Rủi
ro, bao gồm cả các ngân hàng thực hiện việc giám sát để duy trì 'đầy đủ dự phòng rủi ro
tín dụng Accord Basel - Basel II, cung cấp hướng dẫn chi tiết hơn về các quy định Ba
cách tiếp cận được:
chính phát sinh trong khu vực của sự linh hoạt trong việc xác định trợ cấp. Sự linh động
này được thể hiện thông qua việc tính toán phần tùy chọn.
Ví dụ về các thành phần trong phần chưa phân bổ bao gồm:
1. Các nhân tố chất lượng, "ví dụ ngành công nghiệp, yếu tố địa lý, kinh tế và chính trị '
2. Phân tích thống kê các khoản vay không cá nhân phân tích cho một dự trữ đặc biệt và
do đó không phải FAS 114.
Để dung hòa các mục tiêu của các bên liên quan, một phương pháp là cần thiết để
thúc đẩy hài hòa (IASB), tăng tính minh bạch (SEC), tăng cường an toàn
và lành mạnh (ngân hàng quản lý) và duy trì hợp lý linh hoạt trong hòa giải những khía
cạnh chủ quan trong việc xác định trợ cấp một khoản tiền thích hợp
5. PHƯƠNG PHÁP TÍNH CÁC TRỢ CẤP TỔN THẤT CHO VAY
5.1 Một phương pháp đề xuất được hưởng trợ cấp
Công thức:
ALLt = ALLt?1 + PROVt + RECOVt ? Cot
Trong đó
- ALL = trợ cấp cho khoản tổn thất
- PROV= dự phòng cho khoản tổn thất ( chi phí)
- RECOV= thu hồi số tiền gốc của khoản vay tính phí trong các kỳ trước
- CO = số tiền các khoản cho vay tính ra
- t = số ngày tính toán của khoản tổn thất
- t1=Ngày cuối của kỳ báo cáo trước đó
5.2 trợ cấp cho khoản tổn thất(ALL)
ALLt = ΑLL(GROSSLOANS)
Trong đó:
ALLt = Trợ cấp rủi ro cho vay tại thời điểm t
LLGROSSLOANS= tổn thất cho vay từ các khoản vay gộp
Để ước tính những thiệt hại trong tương lai cho một ngân hàng cá nhân lại sau
phương trình được đề xuất:
Trang 10
ALLt = 0 + 1PORTFOLIOt + 2OBSt + 3CONCENGt
này giả thiết có hai loại nhóm nhân tố rủi ro:
• Những nhân tố liên quan quyết định tổn thất: dẫn đến cần tái phân loại khoản cho
vay thành cho vay không thưc hiện (cho vay không thực hiện theo mong đợi ban đầu).
Ngân hàng sử dụng một số nhân tố để đánh giá nó như những khoản thanh toán quá hạn.
Những nhân tố như con nợ đang thua lỗ trên thị trường chứng khoán hay tình hình tài
chính của con nợ xấu đi giúp ngân hàng tái phân loại khoản cho vay có vấn đề thành
khoản cho vay không thực hiện (cho vay bị tổn thất)
Khi khách hàng có rủi ro tiềm tang không thanh toán nợ đúng hạn càng cao thì ngân hàng
sẽ tính thêm một phần chi phí rủi ro vào lãi suất của khách hàng đó. Do vậy mà lãi suất
cho vay cao hơn cũng là một dấu hiệu cho thấy tổn thất cho vay tương lai. Ngoài ra cho
vay bất động sản khả năng lỗ sẽ thấp hơn do đây là khoản vay được đảm bảo. Do đó, cho
vay phi bất động sản càng nhiều thì lỗ cho vay càng cao.
• Những nhân tố liên quan đo lường lỗ tổn thất gồm: dòng tiền tương lại từ khoản
cho vay và kinh nghiệm quá khứ của ngân hàng về lỗ cho vay. Chúng ta gỉa thiết rằng
thu hồi những khoản cho vay bị xóa sổ trước đây càng cao thì dự phòng lỗ cho vay cũng
càng cao. Chúng ta cũng giả thiết rằng kinh nghiệm quá khứ của ngân hàng về lỗ cho
vay cũng ảnh hưởng đến khoản dự phòng lỗ cho vay năm hiện tại. Nếu năm trước lỗ cho
vay càng nhiều, thì năm nay và tương lai cần lập dự phòng lỗ cho vay càng nhiều.
• Những hướng dẫn kế toán khác nhau cho lỗ cho vay và thực tế hiện tại của
ngân hàng
Việc lập báo cáo tài chính cung cấp ra bên ngoài của ngân hàng ở Mỹ do 2 nguồn quản
lý: chuẩn mực kế toán ban hành (RAP) và chuẩn mực kế toán được chấp nhận chung
(GAAP).
Trang 12
Hướng dẫn hiện hành về việc báo cáo dự phòng lỗ cho vay của ngân hàng nhấn mạnh
phải duy trì một khoản dự phòng lỗ cho vay đầy đủ. Hướng dẫn cung cấp khung đánh giá
thời gian và giá trị tổn thất cho vay.
Phát triển giả thiết
• Giả thiết H1:
Tỷ trọng cho vay không thực hiện trong tổng các khoản cho vay càng cao thì khả năng
được khoản nợ vay của khách hàng. Từ đó họ lập dự phòng cho tổn thất lỗ cho vay, làm
cho tài sản của ngân hàng được ghi nhận đúng với giá trị thật của nó hơn là bị thổi phồng.
Điều này rất hữu ích đối với những người sử dụng thông tin tài chính của ngân hàng để ra
quyết định. Không chỉ hữu ích cho ngân hàng, người sử dụng thông tin, nó cũng đóng vai
trò rất quan trọng trong việc giúp cho các kiểm toán viên có được hướng dẫn cụ thể khi
đánh giá khoản dự phòng lỗ cho vay đã phù hợp chưa. Điều này giúp nâng cao chất lượng
kiểm toán và giảm thấp rủi ro cho kiểm toán viên. Công cụ tài chính ngày càng trở nên
phức tạp hơn. Kéo theo đó là việc hạch toán chúng cũng trở nên rắc rối và khó khăn hơn.
Do vậy nên những nghiên cứu như trên sẽ rất hữu ích không chỉ trong hiện tại mà vẫn cần
tiếp tục được đầu tư trong tương lai.
Trang 14