kiểu này được nhiều Công ty nhỏ và vừa ở Việt Nam áp dụng, để thích nghi với lĩnh
vực hoạt động của Công ty nhưng lại đem lại hiệu quả cao.
4. Những vấn đề đặc thù của Công ty .
Công ty XNK khoáng sản - MIMEXCO là một doanh nghiệp Nhà nước, hoạt động
theo sự chỉ đạo của Tổng Công ty XNK khoáng sản Việt Nam - Bộ Công Nghiệp.
Công ty hoạt động theo cơ chế hạch toán kinh doanh độc lập, có tư cách pháp nhân đầy
đủ, có tài khoản tại Ngân hàng và có con dấu riêng.
Một số vấn đề đặc biệt của Công ty MIMEXCO:
Một là. Công ty chuyên kinh doanh XNK hay nói cách khác là Công ty thương mại,
không trực tiếp sản xuất. Việc tổ chức quản lý điều hành trực tiếp các hoạt động kinh
doanh XNK là chức năng chính của Công ty. Giám đốc là người qủan lý điều hành
toàn bộ.
Hai là. Sản phẩm chính mà Công ty kinh doanh là những “khoáng sản Việt Nam’’ chủ
yếu là thiếc thỏi và quặng sắt, đây là những sản phẩm mang những đặc tính khác biệt
so với những sản phẩm thông thường ví dụ: chữ lượng có hạn không nhiều lại khó khai
thác và chế biến nên Công ty gặp phải khó khăn trong việc thu gom hàng trong nước,
mặt khác Công ty chịu sự chèn ép giá của các Công ty lớn nước ngoài
II. Thực trạng thị trường XNK của Công ty.
1. Đặc điểm mặt hàng kinh doanh
.Công ty XNK khoáng sản Việt Nam – MIMEXCO trải qua hơn 10 năm hoạt động đã
trưởng thành và phát triển, gặt hái được nhiều thành công đáng kể. Là Công ty kinh
doanh thương mại thuộc khối doanh nghiệp nhà nước, và chuyên kinh doanh XNK các
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.comloại khoáng sản, các loại máy móc, dây chuyền thiết bị phục vụ cho ngành khoáng sản
và kinh doanh một số mặt hàng khác ngoài ngành.
Bảng trên cho thấy kim ngạch XNK của Công ty thời kỳ này có sự giảm sút rõ rệt. Kim
ngạch xuất khẩu năm 1999 rất cao đạt 9.458.405 USD nhưng sang năm 2000, 2001,
nhau thuộc nhiều vùng khác nhau như: Ngệ An, Tây Nguyên, Lâm Đồng, Tĩnh Túc
(Cao Bằng)…ngoài ra còn ở Thanh Hoá, Quảng Nam, Đà Nẵng, Vĩnh Phúc , Đại Từ
(Thái Nguyên) cũng đã được khai thác từ năm 1964 đến nay, mỗi năm khai thác từ 400
- 700 tấn.
Angtimôn thỏi 99,6% Sb trước đây xuất khẩu mỗi năm đạt 200 tấn, đến nay do trữ
lượng giảm còn lại ít và một phần còn phải để phục vụ trong nước nên mỗi năm chỉ
xuất khẩu được 100 tấn.
Chì thỏi 99,9% và 99,96%: Loại khoáng sản sử dụng trong nước là chính phục vụ cho
việc sản xuất các sản phẩm như: ắc quy, chế tạo máy. . . và sản suất kim loại dạng thô
vì số lượng không đủ. Do đó đối với mặt hàng chì thỏi Công ty không còn tham gia
xuất khẩu như trước nữa.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.comQuặng kẽm. Tập trung chủ yếu ở Thái Nguyên , được tồn tại dưới hai dạng: Oxit (ZnO)
60% mỗi năm xuất khẩu từ 40 – 50 ngàn tấn nhưng ngày càng giảm đi. Loại hai là ZnS
52% chủ yếu được qua chế biến rồi xuất khẩu mỗi năm được 1000 tấn.
Quặng Vonamit : có quy mô nhỏ hơn vào năm 2001, 2002 Công ty mới tham gia xuất
khẩu mỗi năm đạt từ 40 - 60 tấn một năm. Vùng mỏ này nằm ở trên Tuyên Quang.
Quặng sắt: đây là một trong hai mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Công ty kể từ năm
2001 trở lại đây, mỗi năm đạt từ 180 – 200 ngàn tấn. Mặt hàng này chủ yếu được sang
Trung Quốc.
Quặng Cromit 42 - 46 % Cr2O3 tồn tại dưới dạng cát, mỗi năm xuất khẩu được 100 tấn
, chiếm một tỷ trọng tổng kim ngạch xuất khẩu, chủ yếu xuất khẩu sang Trung Quốc để
sử dụng trong công nghiệp hoá.
Ngoài ra, Công ty còn tham ra xuất khẩu một số mặt hàng khác như : quặng Mangan,
quặng fluospar . . . nhưng chiếm một tỷ trọng nhỏ trong kim ngạch xuất khẩu. Các mặt
hàng này đem lại doanh thu và lợi nhuận chính cho Công ty, đồng thời tạo ra công ăn
việc làm cho người lao động. Tuy nhiên một số mặt hàng mới chỉ dừng lại ở dạng xuất
khẩu thô chưa qua chế biến nên hiệu quả chưa cao
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.comkhẩu khai thác được lợi thế cạnh tranh từ đó trở thành bạn hàng chuyền thống đối với
các đối tác nước ngoài đồng thời ngày một mở rộng thị trường hơn nữa .
Tóm lại, các mặt hàng mà Công ty tham gia xuất khẩu chủ yếu dưới dạng thô chưa qua
chế biến, là những mặt hàng được xếp vào loại quý hiếm của Việt Nam.
Tình hình lượng khoáng sản xuất khẩu của Công ty giảm đi có thể quy vào một số
nguyên nhân sau :
Sau khi có QĐ57/CP của Chính Phủ mở rộng diện tích xuất khẩu hàng hoá cho các
doanh nghiệp trực tiếp sản xuất, do vây các đơn vị chế biến đều trực tiếp xuất khẩu
hàng hoá của mình mà không cần uỷ thác qua các Công ty thương mại XNK.
Tài nguyên khoáng sản tại các vùng mỏ trong nước ngày một cạn kiệt. Các vùng mỏ
khác chưa được đánh giá lượng chính xác cho nên dẫn đến ngây rủi ro trong đầu tư xây
dựng mỏ vì thế lượng khoáng sản của các mỏ sản xuất ra ngày càng ít đi.
Về giá quốc tế mặt hàng thiếc bắt đầu từ cuối năm 2000 giảm liên tục. Có thể tham
khảo thị trường thiếc LME Luân Don, là nơi quy định giá quốc tế về kim loại.
Từ các nguyên nhân trên đẫn đến tỷ trọng mặt hàng chính thiếc thỏi trong cơ cấu xuất
khẩu của Công ty giảm đi cả về số lượng và giá cho nên làm giảm kim ngạch cũng như
kết quả kinh doanh của Công ty trong các năm qua. Trên thị trường ngày càng xuất
hiện nhiều Công ty cũng tham gia xuất khẩu khoáng sản nện sự cạch tranh diễn ra gay
gắt, điều đó có nghĩa là mỗi bên phải chia xẻ một phần thị trường của mình. Chính vì
vậy lượng khoáng sản xuất khẩu đi nước ngoài của Việt Nam vẫn tăng nhưng qua
Công ty thì có giảm.
1.2 Mặt hàng nhập khẩu
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.comLà Công ty thương mại, MIMEXCO tham nhập khẩu tất cả các mặt hàng theo đơn đặt
hàng tất nhiên là các mặt hàng đó được Nhà nước cho phép, thực hiện quá trình công
Năm 1999
Do nhu cầu của người tiêu dùng cao nên Công ty nhập khẩu chủ yếu là xe máy Honda
chiếm 84.3% đáp ứng được một phần không nhỏ cho thị trường nội địa. Về các phụ
tùng máy móc thiết bị phục vụ cho việc khai thác các mặt hàng xuất khẩu đã không
được nhập trong năm 1999 có thể do nhu cầu chưa cần thiết và giá thành cao chi phí
quá lớn mà vốn Công ty có hạn nên đã không ngập khẩu.
Năm 2000
Sang năm nay hàng tiêu dùng vẫn được Công ty chú trọng nhập khẩu nhiều nhất nhưng
đã giảm tỷ trong so với năm trước và đạt 63,47%. Tuy nhiên một số mặt hàng phục vụ
cho khai thác khoáng sản cũng được nhập khẩu như thiết bị thuỷ điên đạt 24,97%, thiết
bị tuyển quặng 11,56%. Đây là một bước tiến của Công ty đã nhập được rất nhiều mặt
hàng .
Năm 2001.
Việc nhập khẩu thiết bị máy móc tăng lên rất nhiều đạt 81,3% co với năm 2000, và
phục vụ cho hàng tiêu dùng lại giảm xuống còn 18,7%. Trong năm nằy Công ty chú
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.comtrọng tới nhập khẩu các máy móc thiết bị phục vụ cho ngành khoáng sản, mặc dù tổng
giá trị nhập khẩu lại giảm xuống ( đạt 75019 USD) chỉ bằng 5,56 lần so với năm 1999.
Năm 2002
Vẫn ưu tiên nhập khẩu máy móc nhưng lại giảm chỉ chiếm ở mức 53,3%.
Qua các năm 1999 - 2002 Công ty nhập khẩu khá nhiều mặt hàng nhưng lại không
đồng đều qua các năm: như năm 1999, 2000 chủ yếu nhập khẩu mặt hàng phục vụ nhu
cầu tiêu dùng nhưng đến năm 2001, 2002 thì lại nhập nhiều hàng phục vụ khai thác các
sản phẩm xuất khẩu. Nguyên nhân do hai năm gần đây trong nước tự sản xuất được
nên thay thế mặt hàng nhập khẩu (với hàng tiêu dùng). Đất nước càng đẩy mạnh công
nghiệp hoá thì nhu cầu về thiết bị hiện đại để phục vụ công nghiệp hoá ngày càng tăng,
lắm bắt được tình hình đó Công ty đã quyết định chú trọng vào loại sản phẩm này, dựa
trên nguyên tắc nhập đúng chất lượng sản phẩm yêu cầu, chánh tình trạng nhập những
Dự án cung cấp thiêt bị vận tải và thiết bị thi công: tổng trị giá là 3,2 tỷ VNĐ. Lĩnh vực
vận tải và thi công mỏ với trị giá 2,5 tỷ VNĐ (cung cấp thiêt bị). Ngoài ra Công ty còn
làm dịch vụ cho nước ngoài (nhận làm đại lý). Công ty nhận thay mặt bên nước ngoài
kiểm tra chất lượng, giám sát quá trình thanh toán, giao nhận.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.comTuy nhiên, bước đầu tham gia vào đấu thầu gặp rất nhiều khó khăn nện lượng dự án
còn thấp, giá trị gói thầu không cao, sự hạn chế này không thể tránh khỏi do
MIMEXCO là một Công ty kinh doanh thương mại không có sản xuất nên việc tiếp
cận tìm hiểu công nghệ sản xuất cung cấp cho các dự án khá khó khăn. Bên cạnh đó
một số dự án đã không thể thực hiện được, hoặc triển khai chậm do chủ yếu là chủ đầu
tư không có năng lực tài chính, điều này đã gây tổn thất cho Công ty.
2. Thị trường xuất nhập khẩu
Đối với bất kỳ công ty kinh doanh XNK nào thì thị trường là yếu tố quyết định sự tồn
tại và phát triển của công ty. Nhận biết được tầm quan trọng của thị trường và cùng với
sự chuyển biến tích cực của hoạt động XNK Việt Nam, công ty MIMEXCO đã đa dạng
hoá, đa phương hoá các mối quan hệ làm ăn lâu dài với nhiều khách hàng trên nhiều
nước khác nhau. Ngoài các thị trường truyền thống, công ty đã chú trọng tìm hiểu và
mởi rộng thị trường mới ở hầu hết các nước trong khu vực và trên thế giới. Có thể kể
đến thị trường truyển thống của công ty là Malaixia, Trung Quốc, Nhật Bản Trong
tương lai công ty sẽ hướng ra và thâm nhập vào thị trường khu vực Châu á Thái Bình
Dương và khu vực ASEAN. Việc đa dạng hoá thị trường giúp công ty tránh được rủi ro
do yếu tố kinh tế chính trị văn hoá biến động đồng thời tận dụng được các thông tin
mới nhất về giá cả, thị trường, tăng khách hàng cho sản phẩm của mình.
2.1 Về thị trường xuất khẩu,
Bảng trên cho thấy, thị trường xuất khẩu của công ty tập trung chủ yếu ở khu vực Châu
á Thái Bình Dương. Đặc biệt tập trung ở hai thị trường Trung Quốc và Malaixia. Từ
năm 1999 đến 2002 hai thị trường này luôn chiếm tỷ trọng cao và tăng dần qua các
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.com
chiếm 25,58% bằng 26,38% so với năm 1999. Thị trường Trung Quốc tuy NK đều qua
các năm nhưng tỷ trọng biến động không đều, cao nhất là vào năm 2000 đạt được
36,53%.
Ngoài hai thị trường trên còn có thị trường Korea, Thái Lan là hai thị trường phát triển
có hệ thống công nghệ cao nên cùng là bạn hàng đối với công ty trong quan hệ đối tác
lâu dài vào năm 2002 xuất hiện thêm thị trường NK Nhật Bản chiếm tỷ trọng 53,33%
trong tổng kim ngạch NK. Đây là một bước phát triển lớn trong mối quan hệ bạn hàng
cũng chính vì điều đó mà tổng giá trị NK năm 2002 đã tăng lên rất nhiều so với năm
2000, 2001 cụ thể bằng 1,3 lần so với năm 2000; 8,6 lần so với năm 2001.
Bất kỳ Công ty kinh doanh nào thì yếu tố đầu ra là rất quan trọng, đó là thị trường nơi
diễn ra trao đổi mua bán tiêu thụ hàng hoá. Tuy mới thành lập nhưng phạm vi hoạt
động của Công ty rất rộng lớn do có sự tìm hiểu, phân tích thâm nhập thông qua thông
tin thu thập được và qua sự giới thiệu môi giới của các bạn hàng truyền thống. Thị
trường chủ yếu của Công ty là thị trường Châu á - Thái Bình Dương trong đó nổi bật là
một số thị trrường như: Malayxia, Trung Quốc, Lào, Nhật Bản, Thái Lan . Đó là thị
trường truyền thống có mức tiêu thụ khá cáo. Khách hàng ở thị trường này rất ổn định
và có độ tin cậy cao tạo nên sự ổn định trong hoạt động kinh doanh của Công ty. Trong
tương lai Công ty từng bước thâm nhập vào một số thị trường Châu Mỹ, EU để phân
tán rủi ro khi có sự khủng hoảng ở một thị rường nào đó, đây là bài học được rút ra từ
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - http://www.simpopdf.combài học của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu á - Thái Bình Dương, đồng thời
có sự lựa chọn đối tác thích hợp sao cho có hiệu quả nhất.
Có thể nói rằng thị trường tiêu thụ của Công ty khá rộng có mối quan hệ mật thiết với
hơn 10 Công ty ở các quốc gia khác nhau tạo thế vững chắc và ổn định cho việc xuất
khẩu hàng hoá, đồng thời có thể nhập khẩu từ thị trường đó những trang thiết bị hiện
đại phục vu cho công cuộc khai khoáng, xây dựng tiêu dùng trong nước.
Đối với thị trường xuất khẩu chủ yếu là Malayxia, Trung Quốc hàng năm xuất khẩu
sang thị trường này từ 500 - 800 MT thiếc thỏi và quặng sắt. ngoài ra còn có thị trường