Chính sách cơ giới hóa trong chăn nuôi bò sữa trên địa bàn TP.HCM - Pdf 19

I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong tiến trình hội nhập kinh tế như hiện nay, việc đẩy mạnh cơ giới hóa
sản xuất nông nghiệp vừa là nhu cầu, vừa là động lực để phát triển kinh tế, góp
phần thúc đẩy nhanh hơn nữa quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa sản xuất
nông nghiệp. Trên thực tế, cơ giới hóa góp phần giảm bớt công việc nặng nhọc và
tăng năng suất lao động không chỉ ở trong ngành trồng trọt mà cả trong ngành chăn
nuôi. Do đó, cơ giới hóa trong chăn nuôi đã trở thành một trong những nhiệm vụ
quan trọng từ lâu nay đã được các cấp chính quyền của Thành phố quan tâm tập
trung chỉ đạo.
Chăn nuôi bò sữa là ngành sản xuất nông nghiệp phát triển khá ổn định ở
Thành phố Hồ Chí Minh (Tp. HCM) với số lượng tổng đàn cao nhất cả nước nhờ
đầu ra của sản phẩm sữa được bao tiêu bởi các doanh nghiệp và sự quan tâm của
các cấp lãnh đạo trong việc ban hành các chính sách hỗ trợ khuyến khích phát triển.
Để đạt mục tiêu phát triển bò sữa theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bền
vững, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả, bên cạnh các giải pháp đầu tư
vào con giống, thú y, áp dụng những công nghệ kỹ thuật mới một cách đồng bộ đến
với người chăn nuôi, thì đầu tư đúng mức trang thiết bị cơ giới phục vụ trong các
công đoạn chăn nuôi bò sữa như máy vắt sữa, máy băm thái cỏ… là hết sức cần
thiết giúp khai thác hiệu quả tiềm năng của giống bò, giảm bớt chi phí lao động, cải
thiện chất lượng sữa, nâng cao khả năng sử dụng thức ăn, giúp nâng cao năng suất
sữa, tạo điều kiện để mở rộng qui mô sản xuất, góp phần tăng thu nhập cho nông
dân ngoại thành và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp, xây
dựng nông thôn mới.
Căn cứ theo Quyết định số 10/2008/QĐ-TTg ngày 16/01/2008 của Thủ
Tướng Chính Phủ về việc phê duyệt chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020,
trong đó, việc nghiên cứu và ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật tiên tiến về chuồng trại,
1
quy trình chăm sóc nuôi dưỡng,…theo phương thức chăn nuôi trang trại, công
nghiệp; xây dựng và chuyển giao các mô hình chăn nuôi tiên tiến phù hợp với từng
vùng sinh thái đã được Ủy Ban Nhân Dân (UBND) Tp. HCM quan tâm khai thác
trong việc phát triển đàn bò sữa của địa phương bằng việc ra quyết định số

với các đầu vào khác trong sản xuất nông nghiệp. Do đó, chính sách nông nghiệp
cần chú ý:
1. Máy móc và công cụ cơ giới là yếu tố đầu vào được đầu tư bằng vốn cố định:
- Máy móc đòi hỏi dịch vụ và duy tu để kéo dài thời gian sử dụng.
- Đóng góp vào đầu ra không chỉ phụ thuộc vào bản thân máy móc mà còn phụ
thuộc vào khả năng cung cấp các dịch vụ sửa chữa, nhập khẩu hay sản xuất trong
nước… Nếu như thị trường cung cấp không tốt thì sẽ ảnh hưởng đến đầu ra.
2. Tính không thể phân chia được trong việc sử dụng máy móc và công cụ cơ giới:
- Mỗi kích cỡ của máy móc đều có một công suất hoạt động nhất định. Chi phí cố
định cho một đơn vị công việc thực hiện giảm dần khi công suất sử dụng tăng.
3. Một số máy móc công cụ cơ giới cho phép tiết kiệm lao động:
- Đây là động lực đầu tiên thúc đẩy cơ giới hóa trong nông nghiệp ở những vùng
khan hiếm lao động.
- Nếu cơ giới hóa không làm tăng tổng sản lượng đầu ra đối với tổng chi phí
nguồn lực đã cho nhưng làm cho máy móc thay thế lao động =>cơ giới hóa thay
thế yếu tố. Thực hiện cơ giới hóa trong trường hợp =>quan điểm thay thế của
chính sách cơ giới hóa trong nông nghiệp. Trường hợp này xảy ra khi giá máy
móc có thể được giảm xuống một cách nhân tạo nhờ tín dụng tự cấp, máy móc
trợ cấp, tỷ giá hối đoái cao hơn giá trị của nó…
- Như vậy, cơ giới hóa tiết kiệm lao động xảy ra khi việc áp dụng các máy móc có
thể hoặc không làm thay tăng sản lượng đầu vào, nhưng tỷ lệ lao động trong tổng
giá trị sản lượng giảm so với tỷ lệ vốn hoặc giá của lao động và vốn giữ nguyên.
4. Lựa chọn chính sách cơ giới hóa phù hợp: Sự phù hợp về bước đi tuần tự trong
cơ giới hóa:
3
- Cần thực hiện mức độ cơ giới hóa tăng dần.
- Cần tách biệt các hoạt động nông nghiệp theo nhu cầu về máy móc khác nhau
III.1.1.3. Những thất bại của chính sách cơ giới hóa và những ảnh hưởng của chúng
trong thực tế
1. Những thất bại của chính sách cơ giới hóa

- Thiếu sự tham gia của đối tượng hưởng lợi trong chương trình giám sát sự
phát triển và triển khai thực hiện phát sinh từ dưới đánh giá kiến thức, khả
năng và sự nhạy cảm của người nông dân quy mô nhỏ.
- Sự chậm trễ giữa chi phí dự án và cung cấp ngân sách dẫn đến việc phân bổ
phụ tối ưu .
- Phân mảnh đất nông nghiệp thành đơn vị nhỏ và xa nhau.
- Hệ thống canh tác thường không phù hợp cho cơ giới hóa.
Chính sách cơ giới hóa chiến lược hỗ trợ nhằm tăng cường sự phát triển
của ngành nông nghiệp được áp dụng ở Nigeria như sau:
- Các chương trình cải cách và sở hữu đất để đảm bảo sẵn sàng tiếp cận cơ giới
hóa.
- Trợ cấp và hỗ trợ giá cho chủ sở hữu và quản lý máy kéo. Mặc dù chính sách
còn tồn tại trên máy kéo và thiết bị sử dụng được hướng tới việc thành lập
khu vực tư nhân. Trong thực tế , nó hiếm khi nhìn thấy các doanh nghiệp đi
nhanh chóng về phía trước để lấp đầy khoảng trống đặc biệt là trong tình
huống mà chính phủ đã tham gia rất nhiều . Sự phát triển của khu vực tư nhân
để duy trì những nỗ lực cơ giới hóa , do đó, đòi hỏi phải có các chương trình ,
chính sách ưu đãi và hỗ trợ chính phủ (Simalenga , 2000).
- Hỗ trợ kỹ thuật đặc biệt là trong phân loại và chuẩn hóa các công cụ , máy
móc, công nghệ để ngăn chặn việc nông dân mua sắm thiết bị không đáng tin
cậy .
- Hướng dẫn tiêu chuẩn an toàn cho máy kéo và thiết bị
- Chính sách hướng dẫn về thiết bị cơ giới hóa cho ngành chăn nuôi như thiết
bị thu gom và chế biến sữa, thu thập trứng và làm sạch…
- Công nghệ sau thu hoạch và hệ thống bảo quản nông sản.
5
- Thúc đẩy chính sách hỗ trợ nông nghiệp theo kinh doanh , đó là, phát triển
công nghiệp nông nghiệp quy mô vừa và nhỏ.
III.1.2.2.Chính sách cơ giới hóa ở Gana và Mali
Mali đã có tiến bộ đáng kể trong cơ giới hóa nông nghiệp chủ yếu là do tiềm

là do chính trị và về cơ bản do thay đổi quan điểm chính sách nông nghiệp. Nếu
không có một chính sách nông nghiệp rõ ràng rất khó để giải quyết trên một chiến
lược cơ giới hóa. Ngay cả như vậy, mặc dù không được thông qua nhưng chiến
lược vẫn là tài liệu tham khảo cơ sở là mối quan tâm về cơ giới hóa nông nghiệp ở
Mali.
Đã có hai chương trình được đề xuất trong AMS. Chương trình đầu tiên là để
hỗ trợ cung cấp cho các tổ chức Chính phủ phụ trách cơ giới hóa nông nghiệp.
Trong phản ứng này, một bộ phận được tạo ra và một hệ thống điều phối, giám sát
và đánh giá cơ giới hóa được đặt ra. Chương trình thứ hai là cải thiện việc cung cấp
thiết bị cho nông dân. Kết quả là, thiết bị nông nghiệp nhiều thông qua nhập khẩu
hoặc sản xuất trong nước. Một vấn đề vẫn còn thấp là sức mua của nông dân. Để
giải quyết những vấn đề này, một quỹ nông nghiệp đã được tạo ra để đảm bảo các
khoản vay cho nông dân, nhiều hệ thống tài chính đã được phân cấp. Do mục tiêu
giảm lao động nặng nhọc, dữ liệu có sẵn chứng minh rằng số lượng thiết bị nông
nghiệp tăng lên sau khi xây dựng AMS mặc dù không phải trên tất cả các loại thiết
bị . Có dấu hiệu cho thấy sự tiếp cận của nông dân để cơ giới hóa thiết bị ngày càng
tăng và do đó điều này có thể có tác động đến việc giảm cực nhọc trong nông
nghiệp. Dữ liệu mở rộng sản xuất nông nghiệp được cung cấp trong báo cáo, nhưng
ngoài một vài trường hợp ngoại lệ, không có lợi ích tổng thể chung từ các sự gia
tăng cơ giới hóa có thể được xác định. Trung bình tổng thể sản lượng ngũ cốc tăng
7
11% trong giai đoạn 2003-2007. Tăng cơ giới hóa được cho là đã góp phần vào sự
gia tăng này. Năng suất lao động tăng không đáng kể.
III.2. Phương pháp nghiên cứu
III.2.1. Phương pháp thu thập số liệu
Tiểu luận sử dụng số liệu thứ cấp được lấy từ Trung Tâm Khuyến Nông
Thành phố Hồ Chí Minh, internet và tham khảo các bài báo, đề án, luận văn chủ đề
về chăn nuôi công nghệ cao.
III.2.2. Phương pháp thống kê mô tả
Phương pháp thống kê mô tả là cách thức thu thập thông tin nhằm kiểm

Ngành chăn nuôi bò sữa trên địa bàn Tp. HCM đã có từ lâu đời và người dân
đã có nhiều kinh nghiệm trong chăn nuôi do thường xuyên được tập huấn công tác
khuyến nông. Đồng thời, sữa tươi là một trong 14 mặt hàng thuộc diện bình ổn giá
nên đầu ra luôn được đảm bảo.
Tuy nhiên, hiện nay quy mô chăn nuôi nông hộ còn nhỏ, đất trồng cỏ hạn
chế, chất lượng cơ giới hóa trong chăn nuôi thấp nên hiệu quả, năng suất chăn nuôi
không cao, chi phí sản xuất cao dẫn đến tình trạng tăng giá thành sản xuất, tình
trạng ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi chưa được cải thiện, tỷ lệ viêm vú tiềm
ẩn và nhiễm vi sinh trong sữa vẫn còn cao, giá các loại thức ăn không ổn định, luôn
trong tình trạng tăng cao kể cả chi phí vận chuyển…
 Cần thiết phải có một chính sách cơ giới hóa để hỗ trợ người nông dân chăn nuôi
bò sữa giúp nâng cao năng suất, chất lượng sữa, giảm tỷ lệ bệnh ở bò, xây dựng
vùng nguyên liệu chế biến tại chỗ nhằm giảm giá thành nhưng vẫn giúp người nông
dân giảm thiểu lao động chân tay và tăng quy mô chăn nuôi.
IV.2. Thực trạng phát triển ngành chăn nuôi bò sữa trên địa bàn Tp. HCM
9
IV.2.1. Hiện trạng chăn nuôi bò sữa
Theo số liệu thống kê hiện quy mô đàn bò sữa đến năm 2010 trên địa
bàn thành phố có 79.800 con, phân bổ theo quy mô như sau:
Quy mô
(con)
Năm
2006
Năm
2007
Năm
2008
Năm
2009
Năm

NSS/cái/năm
(kg)
4.570 4.923 4.950 5.403 5.787 + 6,13
(Nguồn: Báo cáo đánh giá kết quả chương trình phát triển bò sữa 2006 – 2010 và các
giải pháp phát triển bò sữa bền vững giai đoạn 2011 – 2015 tại TPHCM, 2011).
Nhờ đẩy mạnh chương trình bình tuyển giống, gieo tinh bò giống cao sản
và áp dụng tiến bộ kỹ thuật về chăm sóc nuôi dưỡng, chuồng trại, nên số lượng,
năng suất sữa của đàn bò sữa thành phố không ngừng tăng lên:
- Tổng đàn bò sữa từ 58.267 con năm 2006 tăng lên 79.800 con năm 2010 (tăng bình
quân 8,34%/năm), trong đó đàn cái vắt sữa từ 34.562 con năm 2006 tăng lên
41.057 con năm 2010 (tăng bình quân 4,53%/năm).
- Năng suất sữa từ 4.570 kg/cái/năm năm 2006 tăng lên 5.787 kg/cái/năm năm 2010
(tăng bình quân 6,13%/năm), trong đó năng suất 6.000 kg/cái/năm chiếm tỷ lệ 8,2%
tổng đàn cái vắt sữa.
- Quy mô bình quân đàn bò sữa tăng dần từ 6,57 con/hộ năm 2006 lên 9,13 con/hộ
năm 2010 (tăng bình quân 8,78%/năm). Số hộ chăn nuôi dưới 5 con/hộ có khuynh
hướng giảm dần, từ 4.403 hộ năm 2006 xuống còn 2.183 hộ năm 2010 (giảm bình
quân 15,75%/năm); quy mô 20 – 49 con/hộ tăng từ 211 hộ năm 2006 lên 610 hộ
năm 2010 (tăng bình quân 32,17%/năm); quy mô trên 100 con/hộ tăng từ 5 hộ năm
2006 lên 16 hộ năm 2010 (tăng bình quân 3,85%/năm). Điều này cho thấy, người
chăn nuôi bò sữa đang dần chuyển hướng chăn nuôi tập trung, tăng số con/hộ, giảm
số hộ nuôi, kết hợp thực hiện quy trình nuôi an toàn.
- Đã có mô hình áp dụng đồng bộ cơ giới hóa, các biện pháp về quản lý, chọn lọc,
cải tạo giống, dinh dưỡng, chăm sóc, chuồng trại, vắt sữa và bảo vệ môi trường
nhằm mục tiêu nâng cao năng suất con giống, chọn lọc những con năng suất cao
làm giống và sản xuất sữa, giảm chi phí, hạ giá thành, nâng cao lợi nhuận. Tuy
nhiên, số hộ chăn nuôi bò sữa ở quy mô nhỏ (dưới 10 con/hộ) theo kiểu lấy công
làm lời còn khá lớn (69,25%), điều này ảnh hưởng rất lớn đến kiểm soát dịch bệnh,
vệ sinh an toàn thực phẩm và khả năng áp dụng đồng bộ các công nghệ mới.
11

dụng
(%)
Có nhu
cầu đầu
tư (%)
1
Hệ thống làm mát chuồng trại
Quạt gió
Quạt phun sương trong
chuồng
Phun nước trên mái chuồng
Thiết bị theo dõi nhiệt độ, ẩm
độ chuồng nuôi
16,18
1,47
7,35
0,42
29,41
36,03
0
9,56
0
0
0,33
0
8,33
8,33
0
8,33
2 Máy chế biến thức ăn

(Nguồn: Báo cáo đánh giá kết quả chương trình phát triển bò sữa 2006 – 2010 và các
giải pháp phát triển bò sữa bền vững giai đoạn 2011 – 2015 tại TPHCM, 2011).
Qua kết quả khảo sát cho thấy, việc trang bị cơ giới hóa ở các nông hộ nuôi
bò sữa chiếm tỷ lệ rất thấp so với tổng đàn bò sữa hiện hữu trên địa bàn thành phố.
 Quy mô > 10 con/hộ; chủ yếu đầu tư:
 Máy vắt sữa (38,18%): giúp giảm chi phí công lao động, hạn chế nhiễm vi sinh
trong quá trình vắt sữa, đảm bảo chất lượng sữa và vệ sinh an toàn thực phẩm, nâng
sản lượng sữa từ 0,2 – 0,4 kg sữa/con/lần vắt, do máy hoạt động phù hợp với sinh
lý và thời gian tiết sữa của bò hạn chế bò bị viêm vú.
 Bình nhôm chứa sữa (29,35%): giúp bảo quản sữa tốt hơn bình nhựa, thuận tiện
cho việc vận chuyển và vệ sinh.
 Các trang thiết bị còn lại chưa được chú trọng đầu tư, cụ thể như hệ thống làm mát
chuồng trại, làm ảnh hưởng sức khỏe vật nuôi, nhất là khi nhiệt độ môi trường tăng
cao, bò dễ bị stress nhiệt; máy băm thái cỏ và máy trộn thức ăn TMR cũng chưa
được quan tâm đầu tư đúng mức làm lãng phí nguồn thức ăn xanh hiện đang khan
hiếm, giảm hiệu quả tiêu hóa thức ăn đồng thời ảnh hưởng đến năng suất, chất
lượng sữa và thể trạng của bò.
 Để duy trì và phát triển đàn bò, từng bước nâng tính chuyên nghiệp trong chăn nuôi
nhằm tăng năng suất và hạ giá thành sản phẩm, nhu cầu được hỗ trợ chi phí trang bị
cơ giới hóa ở các hộ chăn nuôi vẫn tập trung vào các hạng mục như máy băm thái
13
cỏ (34,56%), máy vắt sữa (30,15%), hệ thống làm mát chuồng trại, trong đó quạt
gió (29,41%), phun sương trong chuồng (36,03%).
 Quy mô < 9 con/hộ: do quy mô đàn thấp và thiếu vốn đầu tư nên các hộ chưa chú
trọng trang bị cơ giới hóa. Vì thế, chưa khai thác được tiềm năng giống bò cao sản
nên hiệu quả kinh tế đạt được chưa cao, nhu cầu được hỗ trợ chi phí trang thiết bị
để nâng cao chất lượng sữa, đáp ứng yêu cầu của nhà thu mua tập trung vào máy
vắt sữa (41,67%), máy rửa thiết bị vắt sữa (25%).
IV.3. Nội dung của chính sách
IV.3.1. Căn cứ pháp lý

theo hướng nông nghiệp đô thị trên địa bàn TPHCM giai đoạn 2011 – 2015.
IV.3.2. Mục tiêu
a. Mục tiêu chung
Nâng cao tỷ lệ ứng dụng các trang thiết bị cơ giới vừa đẩy nhanh tiến
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn giúp góp phần nâng
cao năng suất, giảm nhân công và nâng cao hiệu quả lao động trong chăn nuôi
bò sữa ở TPHCM, góp phần xây dựng nông thôn mới.
b. Mục tiêu cụ thể
- Phấn đấu đến năm 2013 :
 Trang bị 01 máy vắt sữa dạng hệ thống (1 con/ lần vắt), máy rửa
thiết bị vắt sữa và 5 bình nhôm chứa sữa cho mỗi hộ chăn nuôi bò sữa có quy
mô từ 20 con đến dưới 50 con/hộ (ước khoảng 700 hộ).
- Phấn đấu đến năm 2015 đạt :
 50% hộ có quy mô trên 20 con/hộ được trang bị hệ thống làm
mát chuồng trại và thiết bị theo dõi nhiệt độ, ẩm độ chuồng nuôi (ước khoảng
960 hộ).
 50% hộ có quy mô từ 20 con đến dưới 50 con/hộ và phải có
đồng cỏ thâm canh, được trang bị 01 máy băm thái cỏ có trục cuốn (ước
khoảng 700 hộ).
 30% hộ có quy mô trên 50 con/hộ và phải có đồng cỏ thâm
canh, được trang bị 01 máy trộn thức ăn TMR 3 pha (ước khoảng 120 hộ).
IV.3.3. Địa bàn thực hiện
15
Đề án được thực hiện tại các quận huyện có quy mô đàn bò sữa lớn gồm: Củ
Chi, Hóc Môn, Bình Chánh, quận 12 phù hợp với qui hoạch chăn nuôi giai đoạn
2011 - 2020.
IV.3.4. Đối tượng áp dụng
Nông dân, HTX, tổ hợp tác, doanh nghiệp tham gia chương trình là người
sản xuất chăn nuôi bò sữa ổn định, nhiệt tình, có quy mô đàn bò sữa từ 10 con/hộ
trở lên, có diện tích đồng cỏ thâm canh đáp ứng đủ nhu cầu quanh năm cho bò,

bò sữa quy mô > 20 con/ hộ tại TPHCM phân bổ ở các địa bàn áp dụng chính sách
cụ thể tại bảng:
Bảng: Các máy móc, thiết bị hiện đã có tại nông hộ có quy mô đàn > 20 con/hộ
S
T
T
Địa bàn
Số
hộ
Quy

Máy móc, thiết bị hiện có

y
vắt
sữa
đơn
Thiết
bị rửa
máy
vắt
sữa
Bình
nhô
m
chứa
sữa

y


15 Xã Tân Phú Trung 23 742 24 11 104 3 0 3
16 Xã Tân Thạnh Tây 40 1.205 31 12 202 0 0 4
17 Xã Trung Lập Hạ 4 84 5 3 17 0 0 1
18 Xã Phước Hiệp 13 481 18 13 55 0 0 3
19 Xã Phước Vĩnh An 12 726 25 6 42 2 0 2
20 Xã Hòa Phú 27 848 23 6 136 1 0 1
21 Xã Tân Thạnh Đông 200 6.247 177 45 814 4 1 27
Huyện Hóc Môn 291 9.309 172 47 1.242 5 0 8
1 Bà Điểm 10 322 7 4 42 0 0 1
2 Đông Thạnh 96 3.143 62 13 351 2 0 1
3 Tân Hiệp 10 284 8 2 22 3 0 1
4 Tân Thới Nhì 13 417 5 2 40 0 0 1
5 Tân Xuân 21 646 11 7 74 0 0 2
6 Thị trấn 3 220 2 0 27 0 0 0
7 Thới Tam Thôn 59 1.702 27 8 355 0 0 0
8 Trung Chánh 8 173 2 1 29 0 0 0
9 Xuân Thới Đông 13 342 5 1 25 0 0 0
10 Xuân Thới Sơn 8 191 7 3 40 0 0 0
11 Nhị Bình 16 618 18 1 125 0 0 0
12 Xuân Thới Thượng 36 1.251 18 5 112 0 0 2
18
Quận 12 95 3.010 62 6 387 1 0 12
1 P. An Phú Đông 1 77 2 0 10 0 0 0
2 P. Đông Hưng Thuận 4 126 1 0 20 0 0 0
3 P. Hiệp Thành 24 730 13 2 93 1 0 5
4 P. Tân Chánh Hiệp 38 1.294 30 0 155 0 0 3
5 P. Tân Thới Hiệp 5 172 3 0 35 0 0 0
6 P. Thạnh Lộc 1 40 2 0 10 0 0 0
7 P. Thạnh Xuân 4 126 3 3 11 0 0 3
8 P. Trung Mỹ Tây 2 47 0 0 10 0 0 0

nền nông nghiệp đô thị hiện nay, tiết kiệm chi phí sản xuất, công lao động, nâng
cao năng suất, chất lượng sữa, giảm thiểu ô nhiễm môi trường và mang lại hiệu quả
kinh tế trong chăn nuôi bò sữa góp phần xây dựng nông thôn mới và thúc đẩy
chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp trên địa bàn Tp.HCM. Cụ thể:
- Đối với thiết bị khai thác và bảo quản sữa gồm: máy vắt sữa, thiết bị rửa máy vắt
sữa và bình nhôm chứa sữa. Trong đó, việc áp dụng máy vắt sữa đã giúp giảm chi
phí công lao động, hạn chế nhiễm vi sinh trong quá trình vắt sữa, rút ngắn thời gian
vắt sữa từ 10 - 12 phút/con/lần vắt xuống còn 5 - 7 phút/con/lần vắt, nâng cao sản
lượng sữa bình quân từ 0,2 – 0,4 kg sữa/con/lần vắt, do máy hoạt động phù hợp với
sinh lý và thời gian tiết sữa của bò, chất lượng sữa đáp ứng yêu cầu của nhà thu
mua, bình quân vật chất khô 12%, béo trong sữa 3,5%. Bên cạnh đó, còn giúp cho
nông hộ chủ động trong việc quản lý quy trình khai thác sữa, đảm bảo vệ sinh an
toàn thực phẩm, giảm tỷ lệ bò bị viêm vú, nhất là viêm vú tiềm ẩn, hạn chế khả
năng lây nhiễm vi sinh từ môi trường vào sản phẩm sữa để bảo vệ sức khỏe cho
người chăn nuôi và người tiêu dùng qua việc khai thác và sử dụng nguồn sữa trong
20
môi trường chăn nuôi hợp vệ sinh, đảm bảo thời gian giao sữa đúng quy định của
nhà thu mua sữa.
- Đối với thiết bị chế biến thức ăn gồm: máy băm thái cỏ và máy trộn thức ăn TMR
giúp chế biến nguồn thức ăn tại chỗ cho bò, giảm chi phí công lao động và lao động
tay chân nặng nhọc.
- Đối với hệ thống làm mát chuồng trại: giúp cải thiện tiểu khí hậu chuồng nuôi phù
hợp với sinh lý của bò, giảm nhiệt độ bên trong chuồng từ 3
o
C – 5
o
C so với ngoài
trời, giảm stress nhiệt cho đàn bò sữa, hạn chế khí thải là một trong những nguyên
nhân ảnh hưởng đến biến đổi khí hậu, đảm bảo sức khỏe đàn bò kể cả khi nhiệt độ
môi trường tăng cao, góp phần giảm chi phí thuốc thú y, tăng sản lượng và chất

phẩm sữa từ 2 công ty Vinamilk và Friesland. Tuy nhiên, giá sản phẩm sữa bò tươi
khá bấp bênh, không ổn định.
- Chính sách tín dụng: Để đầu tư trang thiết bị chăn nuôi bò sữa, người nông dân
phải bỏ ra gần 50% kinh phí. Do đó, nhà nước cần phải có chính sách tín dụng hỗ
trợ đi kèm giups người nông dân có vốn để đầu tư sản xuất.
- Chính sách khuyến nông: Thường xuyên tập huấn khuyến nông về các phương
pháp chăn nuôi mới đạt hiệu quả cao, cách thức khai thác để tận dụng tối đa nguồn
lực tiềm năng của máy móc ứng dụng trong chăn nuôi.
- Chính sách quy hoạch, HTX: đối với những hộ nuôi nhỏ lẻ (dưới 10 con/hộ) không
được hỗ trợ để đầu tư cơ giới hóa trong chăn nuôi cần phải có quy hoạch tập trung
hợp lý giúp họ có thể được hỗ trợ để nâng cao hiệu quả sản xuất.
V. KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ
V.1. Kết luận
Sau 2 năm triển khai thực hiện, đề án: “Tăng cường trang thiết bị phục vụ
ngành chăn nuôi bò sữa tại TPHCM giai đoạn 2011 – 2015” bước đầu đã thể
hiện tính khả thi cao: giúp tăng sản lượng sữa thu hoạch, đảm bảo vệ sinh an toàn
22
thực phẩm và hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi bò sữa, tiết kiệm công lao động phù
hợp với vấn đề khan hiếm lao động trong nền nông nghiệp đô thị, đáp ứng phần
nào nhu cầu của người chăn nuôi bò sữa, tạo điều kiện thuận lợi để mở rộng quy
mô sản xuất, phù hợp với mục tiêu phát triển chăn nuôi bò sữa trên địa bàn thành
phố, đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
và thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn
2010 – 2020.
Tuy nhiên, chính sách vẫn chưa được áp dụng đồng bộ, vẫn còn một bộ phận
không nhỏ những người nông dân chăn nuôi nhỏ lẻ không đáp ứng được yêu cầu
của Trung Tâm để được hỗ trợ.
V.2. Kiến nghị
Chính sách áp dụng cơ giới hóa trong chăn nuôi bò sữa bước đầu đã mang lại
hiệu quả cao theo mục tiêu đã dặt ra của nhà hoạch định chính sách. Tuy nhiên, vẫn

Nam – Cơ hội và thách thức.
4. Ủy Ban Nhân Dân Tp. HCM, 2011, Chương trình phát triển
chăn nuôi bò sữa trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2011 –
2015.
5. R. O. Akinbamowo, Journal of Agricultural Extension and
Rural Development, 2013, Review : A review of government policy on
agricultural mechanization in Nigeria.
6. Mathias Fru Fonteh, FAO Consultant, 2010, Agricultural
mechanization in Mali and Ghana: Strategies, experiences and lessons for
sustained impacts.
7. Website:
http://www.sonongnghiep.hochiminhcity.gov.vn
http://sggp.org.vn/nongnghiepkt
http://agriviet.com
http://www.dairyvietnam.com/vn
http://vietpress.vn
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status