BỘ GIAÁ DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH ẾT THAÀH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA SAU ĐẠI HỌC
CHUYÊN ĐỀ
Học viên: Võ Thị Minh Thơ
Lớp cao học: K17- Ngân hàng ngày 1
GVHD: TS. Lại Tiến Dĩnh
Thành phố Hồ Chí Minh -2009
1
cho khách hàng và hướng hoạt động ngân hàng cho phù hợp với lợi ích chung của
quốc gia . 2
1.1.1- Khái niệm về Ngân hàng thương mại :
Theo Pháp lệnh Ngân hàng, Hợp tác xã tín dụng và Công ty tài chính (24-5-
1990 ) : " Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh mà hoạt động chủ yếu và
thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng
số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh
toán"
- Theo Điều 20 khoản 2 và 7 Luật các Tổ chức tín dụng đã được Quốc hội
nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khóa X kỳ họp thứ hai thông qua ngày
12 tháng 12 năm 1997 định nghĩa Ngân hàng thương mại như sau : " Ngân hàng
thương mại là một tổ chức tín dụng thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các
hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh
doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung chủ yếu và thường xuyên là nhận
tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán "
Tóm lại, Ngân hàng thương mại là một loại hình tổ chức tài chính cung cấp
một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạnh nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và
dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ
chức kinh doanh nào trong nền kinh tế. Từ những định nghĩa trên và nhận thức của
bản thân cho phép kết luận : Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp hoạt động
kinh doanh tiền tệ, trong đó có hai nghiệp vụ cơ bản :
- Nhận tiền gửi của khách hàng - nghĩa là các Ngân hàng thương mại sẽ nhận
những khoản ký thác của các doanh nghiệp, cá nhân, các tổ chức dưới các hình thức
họ chưa có được các khoản thu. Nói khác đi, ngân hàng thực hiện việc cấp tín dụng
cho khách hàng với cam kết của khách hàng là khách hàng sẽ hoàn trả cho ngân
hàng toàn bộ số vốn vay và một khoản tiền lãi kèm theo vào một thời hạn cụ thể.
Tín dụng là một nghiệp vụ mà ngày nay đã trở thành nghiệp vụ được các Ngân
hàng thương mại quan tâm nhất do nó mang lại cho Ngân hàng thương mại nhiều
doanh thu hơn tất cả các nghiệp vụ khác.
1.1.2.3. Chức năng thanh toán.
Khi Ngân hàng thương mại trở thành người thủ quỹ của xã hội thì việc thanh
toán giữa các thành viên xã hội có thể thực hiện bằng cách là ngân hàng sẽ đứng ra
làm trung gian nhận sự ủy quyền của cả hai bên để thực hiện việc thanh toán đó một
cách nhanh chóng và dễ dàng.
Việc thanh toán đó có thể thực hiện bằng cách là ngân hàng thay mặt chủ tài
khoản trích tiền ký thác của con nợ, chuyển vào tài khoản của chủ nợ, hoặc trích
tiền ký thác của con nợ để giao cho chủ nợ bằng tiền mặt tùy theo ý muốn của chủ
nợ. Chức năng thanh toán của ngân hàng đã làm cho ngân hàng khác hẳn các định
chế tài chính khác, vì chỉ có làm chức năng thanh toán và sử dụng số dư tiền gửi
thanh toán của khách hàng để tạo ra tín dụng mà ngân hàng là định chế tài chính
duy nhất có khả năng tạo ra thêm phương tiện lưu thông trực tiếp cho nền kinh tế.
1.2. Các nghiệp vụ của Ngân hàng thương mại :
Ngày nay, trong hệ thống ngân hàng trung gian thì Ngân hàng thương mại
thực hiện đầy đủ nhất các nghiệp vụ ngân hàng, còn các định chế tài chính phi ngân
hàng khác chỉ thực hiện một hoặc một số nghiệp vụ ngân hàng. Về cơ bản, Ngân
hàng thương mại thực hiện ba loại nghiệp vụ chính : Nghiệp vụ tạo nguồn vốn,
4
nghiệp vụ sử dụng vốn và dịch vụ tài chính – ngân hàng khác.
- Tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm :
1.2.1.3- Nguồn vốn vay :
Ngoài việc huy động tiền gửi theo các hình thức truyền thống, Ngân hàng
5
thương mại có thể bổ sung vốn hoạt động của mình bằng cách :
- Vay từ các tổ chức và các tầng lớp dân cư thông qua phát hành trái phiếu
hoặc kỳ phiếu ngân hàng sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận.
- Vay các Ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác :
Nguồn vốn này được hình thành bởi mối quan hệ giữa các tổ chức tín dụng
với nhau trong quá trình hoạt động kinh doanh.
- Vay Ngân hàng Trung ương :
Các Ngân hàng thương mại có thể vay Ngân hàng Trung ương khi gặp khó
khăn ( chủ yếu là trong thanh toán ), thông qua chính sách tái cấp vốn mà chủ yếu là
tái chiết khấu. Ngân hàng Trung ương với tư cách là ngân hàng của các ngân hàng
nên luôn đóng vai trò là người chủ nợ và là " Người cho vay cuối cùng " đối với các
Ngân hàng thương mại .
1.2.1.4- Nguồn vốn tiếp nhận :
Ngân hàng nhận ủy thác từ khách hàng để quản trị các tài sản ủy thác. Có thể
phân loại tài sản ủy thác : tiền và hiện vật.
1.2.1.5- Các nguồn vốn khác :
Nguồn vốn khác bao gồm các khoản nguồn vốn phát sinh trong hoạt động
ngân hàng làm nghiệp vụ trung gian .
- Vốn trong thanh toán
- Nguồn vốn phát sinh từ nghiệp vụ đại lý
1.2.2- Nghiệp vụ tài sản có - Nghiệp vụ sử dụng vốn :
- Bảo lãnh của ngân hàng
- Nghiệp vụ tín dụng chứng từ
1.2.3-Các nghiệp vụ kinh doanh khác của Ngân hàng thương mại:
- Nghiệp vụ thu, chi và chuyển tiền : Nghiệp vụ thu ( thu hộ ) Nghiệp vụ chi
( chi hộ ), nghiệp vụ chuyển tiền
- Góp vốn, mua cổ phần
- Tham gia thị trường tiền tệ
Ngân hàng thương mại được tham gia thị trường tiền tệ do Ngân hàng Nhà
nước tổ chức, bao gồm thị trường đấu giá tín phiếu kho bạc, thị trường nội tệ và
ngoại tệ liên ngân hàng, thị trường giấy tờ có giá ngắn hạn khác theo quy định của
Ngân hàng Nhà nước.
- Một số nghiệp vụ về ngoại hối và vàng
- Nghiệp vụ ủy thác và đại lý
- Kinh doanh và dịch vụ bảo hiểm
- Dịch vụ tư vấn 7
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG
MẠI VIỆT NAM
2.1. Đặc điểm của Các Ngân hàng thương mại ở Việt Nam :
2 1.1. Vốn điều lệ hay vốn pháp định :
Bất cứ một Ngân hàng thương mại nào dù quốc doanh hay cổ phần, nếu
9.55%
NHTMNN & NHCSXH NHTMCP, Phi NH & Quỹ tín dụng Nh nước ngoài và liên doanh
DƯ N CHO VAY VND ĐẾN 30/11/2008
55.80%
3.10%
0.83%
2.17%
38.10%
NHTM Nhà nước NHTM Cổ phần NH liên doanh NH nước ngoài TCTD Phi ngân hàng
Nguồn: Ngân hàng nhà nước 9
CHƯƠNG III
MỘT SỐ BIỆN PHÁP CƠ BẢN NHẰM NÂNG CAO
HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
Hệ thống Ngân hàng thương mại Việt nam hết sức non trẻ và được hình
thành từ những điều kiện, hoàn cảnh khác nhau.
Tuy nhiên, để Ngân hàng thương mại có thể đóng vai trò và có vị trí ngày
càng quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước, chúng ta cần tiếp
tục tổng kết, từng bước bổ sung và điều chỉnh các chủ trương, biện pháp trong lĩnh
vực vĩ mô, vi mô và các giải pháp khác từ phía các cấp quản lý cũng như từ sự nỗ
trong việc xây dựng bước đi phù hợp và hiệu quả .
3.1.2. Vốn huy động :
Với phương châm “ Đi vay để cho vay ”, các Ngân hàng thương mại, đặc
biệt là các Ngân hàng thương mại cổ phần đã tích cực chủ động triển khai thực hiện
theo hướng đa dạng hóa các loại hình huy động vốn.
Hiện nay, ngoài các hình thức huy động truyền thống, các Ngân hàng thương
mại đang nâng dần chất lượng các dịch vụ cũng như bước đầu nghiên cứu hoặc thử
nghiệm các loại tài khoản để thu hút lượng tiền gửi của dân cư, đồng thời tạo thói
quen cho người dân sử dụng các dịch vụ ngân hàng, thói quen sử dụng chuyển
khoản trong chi tiêu. Tất nhiên dịch vụ này sẽ ngày càng phát triển theo nhịp độ
phát triển kinh tế của đất nước, phát triển của dân trí và thu nhập của dân cư.
3.1. 2.1- Chiến lược thu hút và giữ khách hàng :
Mỗi khách hàng là một giọt sữa để nuôi sống ngân hàng. Nội dung trên lại
càng có ý nghĩa khi kinh doanh trong môi trường cạnh tranh diễn ra ngày càng
quyết liệt.
- Xây dựng quan hệ bình đẳng và giải quyết hài hòa quyền lợi giữa khách
hàng và ngân hàng :
Quan điểm này cần xuyên suốt từ lãnh đạo đến nhân viên và từ đó đề ra
những quy chế, các biện pháp nghiệp vụ phù hợp. Nội dung bao trùm là trong tư
tưởng, tác phong, thái độ và hành động của cấp lãnh đạo và nhân viên ngân hàng
phải thật sự tôn trọng và lắng nghe khách hàng. Cần thường xuyên thu lượm ý kiến
khách hàng thông qua tiếp xúc trực tiếp hoặc trong các cuộc họp định kỳ với khách
hàng, thu nhặt thông tin qua trung gian để tổng hợp, phân tích, xử lý.
Khách hàng và ngân hàng cần có sự tin tưởng nhau, cung cấp cho nhau
những thông tin cần thiết, chính xác kịp thời, đưa ra các biện pháp giúp đỡ nhau.
- Áp dụng nhiều hình thức thưởng :
Việc nghiên cứu, vận dụng nhiều hình thức thưởng vật chất dưới các dạng
như tham gia xổ số trúng thưởng, vé đi du lịch, tặng quà, lịch đối từng loại hình
hoạt động của ngân hàng là cần thiết để hấp dẫn khách hàng. Tuy nhiên cần phải có
hình thức thưởng tương đương với sự đóng góp của khách hàng vào lợi nhuận của
3.1.3.2. Vay Ngân hàng Nhà nước :
Ngân hàng Nhà nước thực hiện tái cấp vốn nhằm cung ứng tín dụng ngắn
hạn và phương tiện thanh toán cho nền kinh tế. Tuy nhiên, trên thực tế thì nghiệp vụ
này chưa được áp dụng rộng rãi, còn nhiều hạn chế. Để giúp các Ngân hàng thương
mại bảo đảm an toàn khả năng thanh toán và mở rộng hoạt động tín dụng, xin kiến
nghị Ngân hàng Nhà nước xem xét triển khai thực hiện hình thức tái cấp vốn như đề
nghị ở phần môi trường vĩ mô - Mục 3.1.3.1.
3. 1.3.3.Tranh thủ các nguồn vốn tài trợ từ các tổ chức tài chính quốc tế:
Các Ngân hàng thương mại có thể tìm kiếm những nguồn vốn từ việc tài trợ
cho các dự án đầu tư như : tài trợ cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, dự án phát triển
nông thôn, các công trình khoa học, viện trợ nhân đạo , của các tổ chức tài chính
quốc tế, Ngân hàng thế giới ( WB ), thông qua vụ quan hệ quốc tế của Ngân hàng
Nhà nước hoặc các hình thức khác. Việc tận dụng được các nguồn tài trợ trên sẽ
12
giúp cho các Ngân hàng thương mại hoạt động có hiệu quả cao và tăng uy tín trong
quan hệ quốc tế.
3.2- Nâng cao hiệu quả trong nghiệp vụ sử dụng vốn ( tài sản có ) :
Hiện nay cũng như trong nhiều năm tới nguồn thu nhập chủ yếu của các
Ngân hàng thương mại là từ hoạt động tín dụng. Vì vậy, việc nghiên cứu nâng cao
chất lượng hoạt động của Ngân hàng thương mại, đặc biệt, trong lĩnh vực tín dụng
có ý nghĩa rất quan trọng, nếu không muốn nói là có tính quyết định đến sự tồn tại
và phát triển của Tổ chức tín dụng đó. Do vậy để nâng cao hiệu quả tín dụng cần
phải :
3.2. 1 - Thực hiện cơ chế sàn lọc và giám sát :
Do yêu cầu nghiệp vụ, việc lập lý lịch doanh nghiệp và phân loại khách
thương mại hiện nay cũng như về sau. Ngoài việc từng Tổ chức tín dụng phải có
quy chế cho vay và phổ biến cho từng thành viên làm công tác tín dụng nắm chắc,
cần phải thật sự quan tâm giải quyết một số vấn đề sau đây.
- Thường xuyên rà soát lại từng khoản cho vay :
+ Định kỳ thường xuyên hoặc đột xuất phải tổ chức xem xét tại chỗ tình
hình sản xuất, kinh doanh của khách hàng.
+ Rà soát, kiểm kê, kiểm tra hồ sơ pháp lý, tài sản thế chấp, cầm cố. Cần
phát hiện sớm những sơ xuất, thiếu sót trong việc thế chấp, cầm cố và kiên quyết có
biện pháp phù hợp, xử lý ngay, không để chậm trễ.
- Xây dựng quy trình xét duyệt cho vay.
Để hạn chế tổn thất rủi ro, khi xét duyệt dự án cho vay, Hội đồng tín
dụng cần đặc biệt quan tâm :
+ Kế hoạch kinh doanh có hiệu quả, doanh nghiệp hoạt động ổn định, lành
mạnh.
+ Thị trường sản phẩm đầu tư phải ổn định.
+ Ban điều hành có đạo đức, trách nhiệm và năng lực điều hành.
3. 3. Nâng cao chất lượng nghiệp vụ - Dịch vụ Ngân hàng :
Ngoài nghiệp vụ tín dụng đã trình bày ở trên, muốn nâng cao hiệu quả trong
nghiệp vụ sử dụng vốn ( tài sản có ) thì cần phải quan tâm đến các nghiệp vụ khác
như : Nghiệp vụ ngân quỹ, nghiệp vụ đầu tư góp vốn, liên doanh, mua cổ phần,
tham gia thị trường tiền tệ, thị trường chứng khoán, ủy thác và đại lý, kinh doanh và
dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ tư vấn, kinh doanh vàng và ngoại tệ, là những nghiệp
vụ góp phần đáng kể trong việc đem lại lợi nhuận cho các Ngân hàng thương mại và
ít rủi ro hơn nghiệp vụ tín dụng. Do đó, các Ngân hàng thương mại cần phải bỏ
công, sức đầu tư đúng mức, đúng thời cơ, nhận định và đánh giá đúng tinh hình, có
khả năng dự đoán trong tương lai và quyết đoán có hiệu quả.