Tổng quan
hệ thống
NHTM và
hoạt động
của NHTM
Tổng quan hệ thống NHTM và hoạt động của NHTM
GVHD: TS.Lại Tiến Dĩnh HVTH: Nguyễn Việt Trung
1
TỔNG QUAN HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ HOẠT
ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1. Các vấn đề cơ bản về ngân hàng thương mại (NHTM)
1.1 Định nghĩa NHTM
Luật các tổ chức tín dụng do Quốc hội khoá X thông qua vào ngày 12 tháng 12
năm 1997, định nghĩa: NHTM là một loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn
bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan. Luật này còn định nghĩa :
Tổ chức tín dụng là loại hình doanh nghiệp đuợc thành lập theo quy định của Luật này
và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân
hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng và cung ứng các
dịch vụ thanh toán.
Luật tổ chức tín dụng không có định nghĩa hoạt động ngân hàng vì khái niệm
này đã được định nghĩa trong luật Ngân hàng Nhà nước (NHNN), cũng do Quốc hội
khoá X thông qua cùng ngày. Luật NHNN định nghĩa: Hoạt động ngân hàng là hoạt
Gọi U
1
là số tiền gửi đầu tiên cảu một khách hàng, số tiền gửi tổng cộng được
tạo ra là S
n
và được tính bằng công thức sau:
S
n
= U
1
/ (1- q)
Trong đó: q là công bội cấp số nhân; 1 - q là tỷ lệ dự trữ bắt buộc.
- Chức năng “sản xuất”:
Chức năng sản xuất của NHTM được hiểu là việc huy động các nguồn lực để sử
dụng tạo ra các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng cung cấp cho nền kinh tế. Tuy nhiên,
chữ sản xuất ở đây nên hiểu theo nghĩa trong ngoặc kép, vì có thể còn nhiều tranh cãi
chưa thống nhất.
Mục đích nhấn mạnh “chức năng sản xuất” để cho các nhà quản trị NHTM
cũng giống như các doanh nghiệp sản xuất và điều này có thể làm thay đổi sâu sắc
trong nhận thức chiến lược và quản trị NHTM. Vì có sản xuất mới có sản phẩm và vì
có sản phẩm nên phải chú ý những điểm quan trọng sau đây trong quản trị NHTM:
Thứ nhất, NHTM muốn tồn tại và phát triển thì phải tiêu thụ được sản phẩm
của mình, do vậy cần chú ý đến tiếp thị, bán hàng. Khuyến mãi,và thậm chí đến cả
dịch vụ hậu mãi nữa.
Thứ hai, NHTM phải chú ý đến nghiên cứu phát triển sản phẩm mới và thiết kế
sản phẩm sao cho thỏa mãn tối đa nhu cầu và thị hiếu của khách hàng.
Tổng quan hệ thống NHTM và hoạt động của NHTM
GVHD: TS.Lại Tiến Dĩnh HVTH: Nguyễn Việt Trung
3
Tổng quan hệ thống NHTM và hoạt động của NHTM
GVHD: TS.Lại Tiến Dĩnh HVTH: Nguyễn Việt Trung
4
cho quá trình trao đổi và lưu thông hàng hoá trong nền kinh tế phát triển, thúc đẩy sản
xuất phát triển.
Thông qua nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối với các nghiệp vụ kinh doanh mua
bán ngoại tệ; thanh toán quốc tế; chuyển tiền; và các nghiệp vụ mang tính kỹ thuật
khác có liên quan nhằm hạn chế rủi ro về tỷ giá như: mua bán kỳ hạn; hoán đổi ngoại
tệ; option ngoại tệ đã đáp ứng tốt nhất nhu cầu ngoại tệ và các nhu cầu dịch vụ ngoại
hối khác cho các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh trong lĩnh vực xuất nhập khẩu,
những thành tựu mà hoạt động xuất nhập khẩu; hoạt động thương mại, du lịch.
Bên cạnh đó, hệ thống NHTM còn là công cụ để Nhà nước thực hiện các chương
trình mục tiêu trọng điểm trong việc phát triển kinh tế-xã hội. Hiện nay, trong nền kinh
tế thị trường bên cạnh việc góp phần tích cực vào tăng trưởng kinh tế hiện đại, NHTM
còn đóng vai trò rất lớn trong việc thực thi có hiệu quả các cơ chế chính sách của Nhà
nước góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô với tư cách là trung gian để
truyền dẫn tác động chính sách tiền tệ của NHNN.
Cơ cấu của hệ thống NHTM ngày càng đa dạng và phát triển, tạo điều kiện thúc
đẩy cạnh tranh trong việc đa dạng hóa dịch vụ cung cấp nhiều tiện ích cho khách hàng.
Sự phát triển mạnh mẽ của các dịch vụ tài chính ngân hàng trên địa bàn thành phố đã
góp phần thúc đẩy kinh tế tăng trưởng và phát triển cao, bền vững và hiệu quả, góp
phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng dịch vụ, đảm bảo nâng cao
năng lực cạnh tranh cho nền kinh tế. Với mức độ ứng dụng công nghệ thông tin hiện
đại ngày càng cao, đã cho phép các NHTM trên địa bàn phát triển các hoạt động dịch
vụ ngân hàng ngày càng mở rộng.
1.4 Phân loại NHTM:
- Căn cứ vào hình thức sở hữu:
+ NHTM Nhà nước: là NHTM do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức
- Vay vốn của Ngân hàng Nhà nước,
- Các hoạt động huy động vốn khác theo quy định của NHNN.
1.5.2 Hoạt động cấp tín dụng:
- Cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn cho các tổ chức, cá nhân vay vốn đáp
ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh, dịch vù và đời sống,
Tổng quan hệ thống NHTM và hoạt động của NHTM
GVHD: TS.Lại Tiến Dĩnh HVTH: Nguyễn Việt Trung
6
- Bảo lãnh,
- Chiết khấu,
- Cho thuê tài chính,
- Bao thanh toán,
- Tài trợ xuất nhập khẩu,
- Cho vay thấu chi,
- Cho vay theo hạn mức tín dụng và hạn mức tín dụng dự phòng.
1.5.3 Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ:
- Cung cấp các phương tiện thanh toán,
- Thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước và các dịch vụ thanh toán khác
theo quy định của NHNN,
- Thực hiện các dịch vụ thanh toán quốc tế khi được NHNN cho phép,
1.5.4 Các hoạt động khác:
- Góp vốn và mua cổ phần,
- Tham gia thị trường tiền tệ,
- Kinh doanh ngoại tệ,
- Ủy thác và nhận ủy thác,
- Cung cấp dịch vụ bảo hiểm,
- Tư vấn tài chính,
- Bảo quản vật quý giá.
I Hệ thống NHTMQD 113
111
87
1 NH Nông nghiệp & PTNT 74
74
48
2 NH Đầu tư & PT 7
7
7
3 NH Công thương 17
17
18
4 NH Ngoại thương 13
11
11
Tổng quan hệ thống NHTM và hoạt động của NHTM
GVHD: TS.Lại Tiến Dĩnh HVTH: Nguyễn Việt Trung
8
Hiện nay trên địa bàn thành phố mạng lưới hệ thống Ngân hàng Thương mại
đang hoạt động bao gồm:
- Ngân hàng Thương mại Nhà nước: 01 Hội sở chính, 03 văn phòng đại diện, 03
hội sở giao dịch, 87 chi nhánh, 206 phòng giao dịch. Trong đó Ngân hàng nông nghiệp
và phát triển nông thôn 48 chi nhánh, Ngân hàng Đầu tư và phát triển 7 chi nhánh,
ngân hàng công thương 18 chi nhánh, ngân hàng ngoại thương 11 chi nhánh, ngân
hàng phát triển nhà 3 chi nhánh. Số lượng chi nhánh của hệ thống NHTMNN có xu
hướng giảm. Thực trạng này gắn liến với hiệu lực thi hành cùa Quyết định
888/2005/QĐ-NHNN theo đó các NHTM phải đảm bảo số vốn là 20 tỷ đối với việc
mở chi nhánh và việc chuyển chi nhánh cấp 2 thành cấp 1 hoặc phòng giao dịch nên số
lượng mạng lưới chi nhánh có xu hướng giảm.
- Ngân hàng Thương mại cổ phần: 18 hội sở chính, 8 sở giao dịch, 192 chi
nhánh, 659 phòng giao dịch. Số lượng mạng lưới chi nhánh của hệ thống NHTMCP có
xu hướng tăng lên. Điều này gắn liến với sự phát triển của hệ thống NHTMCP, đặc
biệt là các NHTMCP mới thành lập nên chú trọng vào việc phát triển mạng lưới chi
nhánh để nâng cao khả năng cạnh tranh và thu hút khách hàng.
- Ngân hàng liên doanh với nước ngoài: 3 hội sở chính, 6 chi nhánh, 01 phòng
giao dịch.
- Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài: 30 chi nhánh.
- Văn phòng đại diện Ngân hàng nước ngoài : 26 văn phòng đại diện.
Nhìn chung, tồng số lượng mạng lưới chi nhánh của hệ thống NHTM có tốc độ
tăng nhanh, cụ thể: từ 269 vào năm 2004 chi nhánh lên tới 315 chi nhánh vào năm
2008, tăng 48 chi nhánh, tốc độ tăng trung bình hàng năm khoảng 15% trong giai
đoạn 2004-2008. Đặc biệt số lượng mạng lưới chi nhánh của hệ thống NHTMCP tăng
đột biến (gần 4 lần) từ 41 chi nhánh năm 2004 lên 154 chi nhánh năm 2005.
đủ điều kiện niêm yết giao dịch cổ phiếu sẽ góp phần đẩy mạnh hoạt động của thị
trường chứng khoán, đã có những đóng góp tích cực đối với tăng trưởng kinh tế của
TP.HCM
2.3 Huy động vốn và cho vay
2.3.1 Huy động vốn
Bảng: Cơ cấu huy động vốn
Năm 2006 2007 2008
Theo hình thái giá trị 285.503
442.530
561.500
Tốc độ tăng (%) 51,2
55,0
26,9
Tổng quan hệ thống NHTM và hoạt động của NHTM
GVHD: TS.Lại Tiến Dĩnh HVTH: Nguyễn Việt Trung
10
VND 197.554
327.792
397.500
Theo tính chất tiền gửi 285.503
442.530
561.500
TCKT & CN 147.258
245.965
269,350
TKDC 113.529
169.298
244,253
GTCG 24.716
27.267
47,897
Theo thời hạn 285.503
442.530
561.500
các hoạt động dịch vụ hiện đại và thanh toán trên địa bàn đã và đang phát triển rất
Tổng quan hệ thống NHTM và hoạt động của NHTM
GVHD: TS.Lại Tiến Dĩnh HVTH: Nguyễn Việt Trung
11
mạnh và có hiệu quả, đó là một trong các yếu tố quan trọng để thu hút nguồn tiền gửi
này.
- Xét về thời hạn của nguồn vốn thì nguồn vốn ngắn hạn luôn chiếm tỷ trọng
cao khoảng 80% trên tổng nguồn vốn. Nguồn vốn trung và dài hạn hiện nay khoảng
20%, các Ngân hàng Thương mại hiện đang có nhu cầu rất lớn về nguồn vốn trung, dài
hạn nên đã đề ra nhiều chính sách để thu hút nguồn vốn này như tăng lãi suất, phát
hành kỳ phiếu, trái phiếu. Tuy nhiên do tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu
đã tác động tới nền kinh tế thế giới và tình hình lạm phát trong nước. Hiện nay, trên thị
trường hiện nay còn có nhiều hình thức đầu tư sinh lời khác như: đầu tư bất động sản,
đầu tư chứng khoán, vàng… Ngoài ra còn do yếu tố về thói quen, tâm lý của người
dân trong việc tích lũy và gửi vốn dài hạn vào Ngân hàng. Chính vì những lý do đó mà
các Ngân hàng Thương mại gặp khó khăn trong huy động vốn dài hạn từ các thành
phần dân cư.
2.3.2 Về cho vay vốn
Bảng: Cơ cấu cho vay vốn
Năm 2006 2007 2008
Tổng dư nợ
Theo thời hạn 229.747 406.353 490.000
Tốc độ tăng (%) 30,7 76,9 20,6
Ngắn hạn 139.651 212.487 289.100
Tỷ trọng (%) 60,8 52,3 59,0
Tốc độ tăng (%) 36,2 52,2 36,1
Trung dài hạn 90.096 193.866 200.900
2006 – 2007. Do lãi suất ngoại tệ thấp hơn lãi suất VND nên đối với hoạt động cho
vay và tỷ giá cũng tương đối ổn định cùng với các nghiệp vụ bảo hiểm tỷ giá và đối
tượng vay ngoại tệ được mở rộng nên đã kích thích khách hàng vay ngoại tệ, dẫn đến
tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay ngoại tệ tăng cao. Diễn biến của sự gia tăng nguồn
vốn đầu tư nước ngoài đã làm cho nguồn vốn cho vay bằng ngoại tệ, chịu tác động bởi
các yếu tố thị trường đặc biệt là diễn biến của tình hình lãi suất ngoại tệ trên thị trường
trong nước và quốc tế.
- Qua bảng, cơ cấu của vốn vay VND luôn chiếm tỷ trọng trên 60% trong tổng
dư nợ cho vay nhưng lại có xu hướng giảm dần qua các năm trong khi đó dư nợ vay
bằng ngoại tệ lại có xu hướng tăng dần. Điều này cũng phù hợp bởi vì lãi suất cho vay
ngoại tệ mặc dù có tăng theo lãi suất của thị trường nhưng vẫn thấp hơn so với lãi suất
Tổng quan hệ thống NHTM và hoạt động của NHTM
GVHD: TS.Lại Tiến Dĩnh HVTH: Nguyễn Việt Trung
13
cho vay VND nên khách hàng thích vay bằng ngoại tệ hơn, trong giai đoạn này tỷ giá
lại ở mức ổn định vì vậy vay bằng ngoại tệ sẽ có lợi hơn.
- Nếu xét theo thời gian thì tỷ trọng giữa dư nợ cho vay ngắn hạn và dài hạn là
60% và 40%. Điều này chứng tỏ nhu cầu về vốn trung, dài hạn trên địa bàn là rất cao,
nhằm để phục vụ cho việc đầu tư về cơ sở hạ tầng kỹ thuật và các dự án trọng điểm
của Nhà nước. Tuy nhiên, điều này cũng nói lên rằng tỷ lệ rủi ro cũng rất cao do có sự
chênh lệch về nguồn vốn và sử dụng vốn trung, dài hạn cho dù tỷ lệ này chưa vượt quá
giới hạn được phép và càng rủi ro hơn nếu việc sử dụng vốn không có hiệu quả.
- Trong thời gian qua, cơ cấu tín dụng có những thay đổi về đối tượng cho vay.
Tỷ lệ cho vay các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có
gia tăng đã tạo môi trường bình đẳng giữa các loại hình doanh nghiệp trong vấn đề
tiếp cận với vốn vay Ngân hàng, đặc biệt trong giai đoạn 2005- nay các đối tượng này
càng được chú trọng phát triển khi các NHTMCP phát triển mạnh (mô hình ngân hàng
bán lẻ). Tỷ trọng cho vay các doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện nay chiếm khoảng từ 43-
100,0
100,0 Thị phần cho vay
Năm 2006 2007 2008
NHTM NN 36,3
30,8
26,5
NHTM CP 38,8
46,8
48,7
NH LD 3,4
2,9
2,8
NHNNg 21,5
19,5
22,0
dùng tiền mặt qua Ngân hàng.
Hệ thống mạng lưới máy ATM và cổng POS ngày càng mở rộng: năm 2005 số
lượng máy ATM được lắp đặt là: 125 máy; số máy POS (máy đọc thẻ) được phát triển
là 2.456 máy . Tổng số máy ATM được lắp đặt trong năm 2006 trên địa bàn là 114
máy phát triển trong năm 2006 đưa tổng số máy ATM trên địa bàn hiện nay đạt: 543
máy; tổng số điểm chấp nhận thanh toán thẻ (cổng POS) trên địa bàn hiện nay là đạt
8.306 điểm. Đến cuối năm 2007 tổng số lượng máy ATM trên địa bàn là 942 máy và
cổng POS là 10.252. Như vậy tính chung cả máy ATM và máy POS thì hệ thống điểm
thanh toán thẻ ATM và chấp nhận thanh toán thẻ trên địa bàn hiện nay đạt 11.194
điểm.
Tổng quan hệ thống NHTM và hoạt động của NHTM
GVHD: TS.Lại Tiến Dĩnh HVTH: Nguyễn Việt Trung
15
Dịch vụ thẻ đặc biệt là thẻ ATM trong 2006 tiếp tục sự phát triển với tốc độ
cao. Đến tháng 10/2007 tổng số thẻ ATM đạt 2.526.996 thẻ. Trong đó riêng năm 2006
các TCTD trên địa bàn đã phát hành 680.477 thẻ, tăng 1,14 lần so với năm 2005 (tổng
số thẻ ATM phát hành trong năm 2005 là: 598.372 thẻ). Tổng doanh số thẻ ATM năm
2006 đạt 17.057 tỷ, gấp 1,34 lần so với năm 2005 đến cuối năm 2007 tổng doanh số
hoạt động của thẻ đạt 76.500 tỷ đồng.
Trong xu thế phát triển nhanh và hiệu quả của hoạt động thanh toán trên địa bàn
TP.HCM có thể thấy hoạt động dịch vụ thanh toán thẻ, mà đặc biệt là dịch vụ thẻ
ATM đã phát triển rất nhanh với số thẻ lũy kế từ 114.411 thẻ vào năm 2005 tăng lên
2.525.996 thẻ vào năm 2007. Cùng với việc tăng số lượng thẻ, doanh số thanh toán
qua thẻ cũng tăng rất nhanh từ 204 tỷ đồng năm 2001 lên 25.745 tỷ đồng vào năm
2005 và 76.500 tỷ đồng vào năm 2007. Như vậy có thể thấy sự phát triển của số lượng
thẻ cũng như doanh số thanh toán qua thẻ có tốc độ tăng rất nhanh, với tốc độ phát
triển như thế sẽ góp phần thúc đẩy hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt qua ngân
hàng phát triển.
5.246
3. NHLD 153
180
437
4. NHNNg 868
1406
1.788
Tổng cộng 6.452 10.627 10.647
Tốc độ tăng (%) 26,20 64,7 0.19
Qua bảng ta thấy chênh lệch thu nhập - chi phí của các NHTM có tốc độ tăng
trưởng rất cao và liên tục qua các năm: đến cuối tháng 9/2006 tổng lợi nhuận (trước
thuế) của các TCTD trên địa bàn đạt 5.621, tăng 9% so với năm 2005. Kết quả kinh
doanh năm 2007 đạt 10.627 tỷ đồng, tăng 64,7% so năm 2006, trong đó NHTMNN
chiếm 34,2%, NHTMCP chiếm 48,1%, NHNNg chiếm 14,2, NHLD chiếm 3,5% tổng
lợi nhuận.
Qua bảng số liệu trên ta thấy lợi nhuận của khối NHTMCP có tốc độ tăng trưởng
cao và có xu hướng tăng nhanh về thị phần lợi nhuận, trong khi đó thị phần lợi nhuận
của khối NHTMNN có khuynh hướng giảm. Điều này gắn liền với sự phát triển của
khối NHTMCP cả về số lượng và chất lượng hoạt động.
2.7 Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của tồn tại và hạn chế
2.7.1. Khả năng cạnh tranh còn thấp:
2.7.2 Hiệu quả hoạt động chưa cao: thu nhập từ hoạt động tín dụng vẫn chiếm
tỷ trọng lớn trong tổng thu nhập (số liệu thiếu), trong khi đó đây là hoạt động luôn
tiềm ẩn mức độ rủi ro cao, có ảnh hưởng rất nhiều đến tính ổn định của sự tăng trưởng,
chất lượng tăng trưởng. Điều này thể hiện rõ trong bảng sau:
STT Loại hình dịch vụ ngân hàng xếp theo thứ tự ưu tiên %
1 Dịch vụ tín dụng 40
2 Dịch vụ thanh toán 20
3 Dịch vụ huy động vốn 15
4 Dịch vụ ngoại hối 10
5 Dịch vụ thẻ 8
6 Dịch vụ phái sinh, tư vấn đầu tư, dịch vụ khác 7
- Mặt khác chất lượng tín dụng của NHTM trên địa bàn chưa cao, khoản nợ xấu
(bao gồm nợ quá hạn, khoản nợ chờ xử lý, nợ liên quan đến vụ án, nợ khoanh còn
chiếm tỷ lệ khá cao trong tổng dư nợ cho vay của hệ thống NHTM trên địa bàn thành
phố. Trong giai đoạn 2005-2007 do thị trường bất động sản và thị trường chứng khoán
Tổng quan hệ thống NHTM và hoạt động của NHTM
GVHD: TS.Lại Tiến Dĩnh HVTH: Nguyễn Việt Trung
18
tăng trưởng nóng đã tạo động lực cho các NHTMCP (những NHTMCP quy mô nhỏ,
mới được thành lập) đẩy mạnh cho vay vào các lĩnh vực này. Đặc biệt những tháng
cuối năm 2007 và đầu năm 2008 khi các NHTM thực hiện Chỉ thị số 03/2007/CT-
NHNN ngày về việc đưa tổng dư nợ cho vay đầu tư kinh doanh chứng khoán/tổng dư
nợ xuống dưới 3% thì các NHTM tiếp tục đẩy mạnh dư nợ cho vay bất động sản. Do
đó trong hai năm 2007-2008 tỷ lệ nợ xấu của các NHTM có xu hướng tăng khi thị
trường chứng khoán suy giảm và thị trường bất động sản đóng băng. Mặc dù tỷ lệ Nợ
quá hạn/Tổng dư nợ vẫn nằm trong giới hạn theo thông lệ quốc tế (có thể chấp nhận
được ở mức từ 3%-5%) nhưng điều này cho thấy ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng
tăng trưởng, đến hiệu quả của sự phát triển.
hoạt động của các TCTD, đến thị trường tiền tệ. Mặt khác sự thiếu phối hợp trong các
hoạt động dịch vụ, đặc biệt trong dịch vụ thẻ đã ảnh hưởng đến hiệu quả vốn đầu tư
cũng như hạn chế tính tiện ích, tiện lợi của khách hàng sử dụng thẻ. Đây là những hạn
chế mà các TCTD trên địa bàn cần đặc biệt quan tâm để có giải pháp phát triển.
2.7.7 Hạn chế của các NHTM sau khi gia nhập WTO
+ Bối cảnh giai đoạn 2006- những tháng đầu năm 2008
Nguồn vốn nước ngoài vào Việt Nam nhiều làm tăng tổng phương tiện thanh
toán trong khi các biện pháp trung hòa của NHNN chưa phát huy hết hiệu quả nên tạo
áp lực tới lạm phát.
Chính sách tài khóa nới lỏng và tình trạng thâm hụt NSNN diễn ra nhiều năm
liên tục ở mức 5%GDP đã tạo áp lực cho Chính phủ vay nợ nước ngoài để bù đắp
thâm hụt; đầu tư dàn trải trong khi hiệu quả sử dụng vốn đầu tư thấp.
Chính sách tiền tệ nới lỏng làm cho tốc độ tín dụng tăng cao hơn rất nhiều so
với GDP trong nhiều năm liên tục.
Lạm phát thế giới tăng cao trong điều kiện nền kinh tế mở
Làm cho tỷ lệ lạm phát tại việt Nam tăng rất cao trong hai năm 2007-2008
+ Khi tình hình kinh tế vĩ mô có dấu hiệu tiêu cực và Chính phủ, NHNN áp
dụng những biện pháp để kiềm chế lạm phát thì hệ thống NHTM đã bộc lộ một số yếu
điểm sau:
- Tốc độ tăng trưởng tín dụng trong năm 2007 lên tới 53,7% so với năm 2006
khi nhu cầu tín dụng tăng cao, đặc biệt là nhu cầu cho vay đầu tư kinh doanh chứng
khoán và bất động sản. Tăng trưởng tín dụng nhanh khiến cho rủi ro của ngân hàng
Tổng quan hệ thống NHTM và hoạt động của NHTM
GVHD: TS.Lại Tiến Dĩnh HVTH: Nguyễn Việt Trung
20
tăng lên trong đó rủi ro thanh khoản (tỷ lệ dư nợ/huy động ở mức cao). Điều này bộc
lộ rõ trong những tháng cuối năm 2007 và đầu năm 2008 khi thị trường có sự biến
động và rất nhiều các NHTM lâm vào tình trạng khó khăn về thanh khoản.
3.1.1 Tiếp tục cơ cấu lại toàn diện các NHTM theo Đề án cơ cấu lại các
NHTMNN và củng cố, và Đề án chấn chỉnh các NHTMCP
+ Tăng cường năng lực thể chế (cơ cấu lại tổ chức và hoạt động)
Sắp xếp lại tổ chức bộ máy của các NHTM từ trung ương đến chi nhánh. Đổi
mới tổ chức bộ máy quản lý, kinh doanh ở hội sở chính phù hợp với thông lệ quốc tế.
Mở rộng quan hệ đại lý, hợp tác kinh doanh, phát triển sản phẩm, ứng dụng và chuyển
giao công nghệ với các tổ chức tài chính nước ngoài. Xúc tiến hiện diện thương mại của
các NHTM Việt Nam tại các thị trường tài chính khu vực và quốc tế.
Mở rộng quy mô hoạt động đi đôi với tăng cường năng lực tự kiểm tra, quản lý
rủi ro, bảo đảm an toàn và hiệu quả kinh doanh. Bảo đảm để cơ quan kiểm toán nội bộ,
hệ thống kiểm soát nội bộ hoạt động độc lập và chuyên nghiệp. Phát triển hệ thống
thông tin tập trung và quản lý rủi ro độc lập, tập trung toàn hệ thống
+ Tăng cường năng lực tài chính (cơ cấu lại tài chính)
Lành mạnh hoá và nâng cao một cách nhanh chóng và căn bản năng lực tài chính
của các NHTM để bảo đảm các NHTM có đủ năng lực tài chính (về quy mô và chất
lượng). Tiếp tục tăng quy mô vốn điều lệ, tài sản có đi đôi với nâng cao chất lượng và
khả năng sinh lời của tài sản có; giảm tỷ trọng tài sản có rủi ro trong tổng tài sản có.
Các TCTD được thực sự tự chủ (về tài chính, hoạt động, quản trị điều hành, tổ
chức bộ máy, nhân sự), hoàn toàn chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh và được hoạt
động trong khuôn khổ pháp lý minh bạch, công khai, bình đẳng.
3.1.2 Định hướng chiến lược phát triển các tổ chức tín dụng nước ngoài
hoạt động tại Việt Nam
Tuân thủ các quy định của Hiệp định thương mại Việt - Mỹ, các thỏa thuận
song phương khác với Nhật Bản, EU, các quy định của WTO (khi Việt Nam gia nhập)
và cam kết quốc tế về mở cửa thị trường dịch vụ tài chính - ngân hàng. Tiếp tục chủ
Tổng quan hệ thống NHTM và hoạt động của NHTM
GVHD: TS.Lại Tiến Dĩnh HVTH: Nguyễn Việt Trung
22
GVHD: TS.Lại Tiến Dĩnh HVTH: Nguyễn Việt Trung
23
NHTM phải tiếp tục nâng cao mức vốn tự có thông qua nhiều hình thức khác nhau
như:
Đối với các NHTMNN:
- Nhà nước cấp vốn cho các NHTMNN.
- Cho phép các NHTMNN giữ lại các khoản thuế phải nộp hoặc quy định một
mức thuế phải nộp cố định trong một khoảng thời gian để tăng vốn tự có.
- Đẩy mạnh việc xử lý các khoản nợ tồn đọng, nợ khoanh để tăng vốn tự có.
- Cổ phần hóa các NHTMNN theo phương thức phát hành cổ phiếu mới để tăng
vốn tự có và phát hành cổ phiếu ưu đãi với lãi suất hấp dẫn. Thu hút nguồn vốn từ các
nhà đầu tư nước ngoài, Nhà nước có thể cho phép các nhà đầu tư nước ngoài mua cổ
phần của NHTMQD với lượng cổ phần tối đa không được vượt quá một tỷ lệ qui định,
nhằm tránh tình trạng bị thâu tóm bởi các tập đoàn tư bản nước ngòai
- Khuyến khích phát hành các giấy nợ thứ cấp với thời hạn dài.
Đối với các NHTMCP:
- Thực hiện đúng lộ trình tăng vốn theo quy định của Chính phủ
- Nguồn từ bên trong: nâng cao năng lực hoạt động nhằm tăng nguồn vốn tự có
thông qua việc trích lập các quỹ, tỷ lệ lợi nhuận giữ lại…việc tăng vốn phải đảm bảo
được yêu cầu gắn liền với tăng cường hiệu quả sử dụng vốn, nâng cao quy mô và chất
lượng tài sản có.
- Nguồn vốn từ bên ngoài: kêu gọi vốn từ các nhà đầu tư bên ngoài, phát hành
cổ phiếu, trái phiếu…Trong đó đặc biệt chú trọng tới các hình thức phát hành cổ phiếu
ra công chúng thông qua thị trường chứng khoán, gọi vốn từ các tổ chức tài chính,
NHNNg…
- Tiến hành sáp nhập, hợp nhất đối với những NHTMCP có quy mô nhỏ, năng
lực tài chính thấp, khả năng cạnh tranh kém, hiệu quả hoạt động không cao…vào các
NHTMCP lớn, có khả năng cạnh tranh tốt và hiệu quả hoạt động cao.
cao chất lượng dịch vụ và tiện ích, an toàn cho khách hàng; tăng cường liên kết và hợp
tác của các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, phát triển hệ thống giao dịch tập
trung, giao dịch trực tuyến, giao dịch tự động…; hiện đại hóa hạ tầng công nghệ và hệ
thống thanh toán an toàn, nhanh chóng, hiệu quả, chính xác.