Đề tài: Các giải pháp hoàn thiện công tác thẩm định dự án đầu tư trong quyết định cho vay trung, dài hạn tại
Ngân hàng quốc doanh (VIBank) chi nhánh Đồng Nai Lớp K17_NH ngày 1
GVHD: TS Lại Tiến Dĩnh Trang 1 HV thực hiện: Nguyễn Duy Tuyển
1. Cơ sở lý luận về thẩm định và quyết định cho vay trung và dài hạn:
1.1 Mục tiêu, đối tượng thẩm định tín dụng trung và dài hạn
Tín dụng trung hạn là những khoản tín dụng có thời hạn từ 1 cho đến 5 năm. Tín dụng dài
hạn là những khoản tín dụng có thời hạn trên 5 năm. Ngân hàng cấp các khoản tín dụng trung
hoặc dài hạn cho khách hàng nhằm mục đích tài trợ cho đầu tư vào tài sản cổ định hoặc đầu tư
vào các dự án đầu tư. Ngoài ra, ngân hàng cũng có thể cấp các khoản tín dụng trung hoặc dài hạn
để tài trợ cho tài sản lưu động thường xuyên của doanh nghiệp. Tuy nhiên, thực tế cho thấy đại đa
số các khoản tín dụng trung và dài hạn nhằm mục đích đầu tư vào các dự án đầu tư.
Khi có nhu cầu vay vốn trung hoặc dài hạn, khách hàng phải lập và nộp cho ngân hàng hồ
sơ dự án đầu tư vốn dài hạn, thay vì gửi cho ngân hàng phương án sản xuất kinh doanh hoặc kế
hoạch vay vốn như khi vay ngắn hạn. Dự án đầu tư là căn cứ quan trọng để ngân hàng xem xét và
quyết định có cho doanh nghiệp vay vốn trung và dài hạn hay không. Nhìn chung một dự án đầu
tư thường bao gồm các nội dung chính như sau:
+ Giới thiệu chung về khách hàng vay vốn và về dự án,
+ Phân tích sự cần thiết phải đầu tư dự án,
+ Phân tích sự khả thi về mặt tài chính của dự án,
+ Phân tích các yếu tố kinh tế xã hội của dự án.
Trong những nội dung trên, phân tích sự khả thi về tài chính của dự án cực kỳ quan trọng
vì dựa vào đây ngân hàng có thể phân tích và đánh giá khả năng trả nợ và lãi của khách hàng. Để
thấy được sự khả thi về tài chính của dự án, khách hàng phải nêu bật được những căn cứ sau:
+ Phân tích và đánh giá tình hình nhu cầu thị trường và giá cả tiêu thụ để làm căn cứ dự
báo doanh thu từ dự án.
+ Phân tích và đánh giá tình hình thị trường và giá cả chi phí để làm căn cứ dự báo chi phí
đầu tư ban đầu và chi phí trong suốt quá trình hoạt động của dự án.
+ Phân tích và dự báo dòng tiền ròng thu được từ dự án.
+ Xác định các chỉ tiêu (NPV, IRR, PP) dùng để đánh giá và quyết định sự khả thi về tài
chính của dự án.
+ Dự báo tỷ lệ lạm phát,
+ Dự báo tỷ giá hối đoái,
+ Dự báo kim ngạch xuất nhập khẩu,
+ Dự báo tốc độ tăng giá,
+ Dự báo nhu cầu thị trường về loại sản phẩm dự án sắp đầu tư,
+ Ước lượng thị phần của doanh nghiệp,
+ Ngoài ra, còn có nhiều loại thông số dự báo khác nữa tuỳ theo từng dự án, chẳng hạn
như công suất máy móc thiết bị, …
Nhìn chung, các loại thông số trên có thể chia thành các thông số có thể thu thập được từ
dự báo kinh tế vĩ mô và các thông số chỉ có thể thu thập từ kết quả nghiên cứu thị trường.
1.2.2 Thẩm định các thông số xác định chi phí:
Tương tự như dự báo thị trường và doanh thu, cũng có các thông số dung để làm căn cứ
dự báo chi phí hoạt động dự án, và nó cũng phụ thuộc vào đặc điểm của từng dự án. Thông
thường các thông số này do các chuyên gia kỹ thuật và chuyên gia kế toán quản trị ước lượng và
đưa ra. Các thông số dung để làm cơ sở xác định chi phí thường thấy bao gồm:
+ Công suất máy móc thiết bị,
Xác định dự án:
Tìm cơ hội và đưa ra đề
ngh
ị
đ
ầ
u t
ư
vào d
ự
án
Đánh
gi
nh
(NPV, IRR, PP)
Ra quyết định:
Chấp nhận hay từ chối dự án
Đề tài: Các giải pháp hoàn thiện công tác thẩm định dự án đầu tư trong quyết định cho vay trung, dài hạn tại
Ngân hàng quốc doanh (VIBank) chi nhánh Đồng Nai Lớp K17_NH ngày 1
GVHD: TS Lại Tiến Dĩnh Trang 3 HV thực hiện: Nguyễn Duy Tuyển
+ Định mức tiêu hao năng lượng, nguyên vật liệu, sử dụng lao động, …,
+ Đơn giá các loại chi phí như lao động, nguyên vật liệu, nhiên liệu, năng lượng, …,
+ Phương pháp khấu hao, tỷ lệ khấu hao,
+ Ngoài ra còn có nhiều loại thông số dự báo khác nữa tuỳ theo từng dự án.
Việc thẩm định mức độ tin cậy của các thông số này thật chẳng đơn giản. Để vượt qua
khó khăn này và hoàn thành tốt công việc thẩm định các thông số dùng để dự báo chi phí hoạt
động của dự án.
Để thẩm định thông số dự báo thị trường, doanh thu và xác định chi phí được tốt thì nhân
viên tín dụng nên làm những việc sau:
+ Nhận thẩm định dự án thuộc những ngành nào mà mình có kiến thức và am hiểu kỹ về
tình hình chi phí hoạt động của ngành đó,
+ Tổ chức tốt cơ sở dữ liệu lưu trữ những thông tin liên quan đến chi phí hoạt động của
ngành mà mình phụ trách,
+ Liên hệ các thông số của dự án đang thẩm định với các thông số tương ứng ở các dự án
đã triển khai hoặc cơ sở sản xuất tương tự đang hoạt động,
+ Viếng thăm, quan sát, thảo luận và trao đổi thêm với các bộ phận liên quan của doanh
nghiệp để có thêm thông tin, hình thành kỳ vọng hợp lý về các thông số đang thẩm định.
1.2.3 Thẩm định dòng tiền hay ngân lưu của dự án:
Ngân lưu hay dòng tiền tệ là bảng dự báo thu chi trong suốt thời gian tuổi thọ của dự án,
nó bao gồm những khoản thực thu hay dòng tiền vào (inflows) và thực chi hay dòng tiền ra
(outflows) của dự án tính theo từng năm.
vốn đó. Chi phí sử dụng vốn bộ phận bao gồm hai loại cơ bản: Chi phí sử dụng nợ và chi phí sử
dụng vốn của chủ sở hữu (vốn cổ phần ưu đãi và vốn cổ phần thường).
1.2.5 Thẩm định các chỉ tiêu đánh giá dự án và quyết định đầu tư:
- Thẩm định cách tính chỉ tiêu hiện giá ròng (NPV): đây là chỉ tiêu cơ bản dung để
đánh giá hiệu quả của một dự án đầu tư vì nó thể hiện giá trị tăng thêm mà dự án đem lại cho
công ty. Giá trị hiện tại ròng (NPV) là tổng hiện giá ngân lưu ròng của dự án với suất chiết khấu
thích hợp. Công thức xác định hiện giá ròng NPV như sau:
NCF
t
NPV
=
n
∑
t = 0
(1 + r)
t
trong đó NCF
t
là ngân lưu ròng năm t, r là suất chiết khấu của dự án, và n là tuổi thọ của dự án.
Ý nghĩa kinh tế của chi tiêu NPV như sau:
+ NPV > 0: Dự án có suất sinh lời cao hơn chi phí cơ hội của vốn.
+ NPV = 0: Dự án có suất sinh lời bằng với chi phí cơ hội của vốn.
+ NPV < 0: Dự án có suất sinh lời thấp hơn chi phí cơ hội của vốn.
- Thẩm định cách tính và sử dụng chỉ tiêu suất sinh lời nội bộ (IRR): suất sinh lời nội
bộ là suất chiết khấu để NPV của dự án bằng 0. Để xác định suất sinh lời nội bộ IRR, chúng ta
giải phương trình:
NCF
t
- Suất sinh lời bình quân trên giá trị sổ sách: được xác định dựa vào lợi nhuận ròng
bình quân hàng năm chia cho giá trị sổ sách ròng bình quân của vốn đầu tư.
- Tiêu chuẩn chỉ số lãi của đầu tư (PI): là tỷ số giữa tổng hiện giá của lợi ích ròng chia
cho tổng hiện giá của chi phí đầu tư ròng của dự án.
∑ PV
t
(1 + i)
- t
NPV
0
+ PV
0
PI =
∑ PV (Chi phí đầu tư ròng)
=
PV
0
2. Thực trạng công tác thẩm định dự án đầu tư trong quyết định cho vay trung - dài hạn
tại Ngân hàng quốc doanh (VIBank) chi nhánh Đồng Nai.
2.1 Giới thiệu về VIBank chi nhánh Đồng Nai và khách hàng tiềm năng của VIBank:
VIBank là một trong những định chế tài chính hàng đầu ở Việt Nam chuyên cung cấp
các dịch vụ ngân hàng doanh nghiệp, dịch vụ ngân hàng cá nhân và dịch vụ ngân hàng định chế.
Đứng thứ 4 trong số các ngân hàng thương mại cổ phần hàng đầu ở Việt Nam xét về phương
diện quy mô tổng tài sản tính đến 31/12/2007, tính đến 31/12/2007, vốn điều lệ của VIBank đạt
2.000 tỷ đồng, tổng tài sản đạt gần 40.000 tỷ đồng. Các cổ đông sáng lập bao gồm Ngân hàng
Ngoại thương Việt nam, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt nam, các cá
nhân và doanh nhân thành công ở trong và ngoài nước.
1/ Nguồn vốn 5.880
6.575
+11,82%
- Nội tệ 3.959
4.561
+15,2%
- Ngoại tệ quy đổi VND 1.921
2.014
+4,84%
2/ Dư nợ tín dụng 3.909
4.370
+11,8%
Dư nợ theo thời gian cho vay:
- Cho vay ngắn hạn 2.052
-11,12%
- Doanh nghiệp ngoài quốc doanh 1.845
2.078
+12,62%
- Hộ sản xuất, hộ gia đình, cá nhân 818
1.194
-46,0%
Trích lập dự phòng tín dụng 39,901
22,158
-44,5%
Xử lý rủi ro tín dụng 36,063
16,919
-53,08%
Thu hồi nợ đã xử lý rủi ro tín dụng 20,615
1,228
- Giải toả tài sản bảo đảm (nếu có)
* Cho vay là hoạt động kinh doanh chủ chốt để tạo ra lợi nhuận cho chi nhánh trong kinh
doanh tiền tệ, trên bảng số liệu cho thấy hoạt động cho vay luôn chiếm trên 80% tài sản có của
ngân hàng, dư nợ cho vay tăng dần với các loại hình cho vay cũng trở nên đa dạng (cho vay
từng lần, hạn mức, cho vay trả góp, cho vay dưới hình thức thẻ tín dụng, cho vay theo hạn mức
thấu chi, cho vay hợp vốn ) bởi chỉ có tiền lãi thu được từ cho vay mới bù nổi các chi phí trả
lãi tiền gửi, chi phí kinh doanh và quản lý, chi phí vốn trôi nổi, chi phí thuế các loại , chi phí rủi
ro đầu tư Tuy nhiên từ quy trình cho vay thể hiện những mặt đạt được cũng như các bất cập
trong quá trình thẩm định và phân tích hồ sơ vay vốn của chi nhánh.
Đề tài: Các giải pháp hoàn thiện công tác thẩm định dự án đầu tư trong quyết định cho vay trung, dài hạn tại
Ngân hàng quốc doanh (VIBank) chi nhánh Đồng Nai Lớp K17_NH ngày 1
GVHD: TS Lại Tiến Dĩnh Trang 8 HV thực hiện: Nguyễn Duy Tuyển
A/ Các mặt đạt được:
- Chi nhánh đã chấp hành tương đối tốt các quy định về việc cho vay khách hàng theo
các văn bản quy định hiện hành của ngân hàng quốc doanh (VIBank). Riêng các khoản cho vay
cầm cố giấy tờ có giá đều có đầy đủ vật cầm, mệnh giá các giấy tờ có giá đều đảm bảo cho
khoản vay, quy trình, thủ tục cầm cố thực hiện đúng theo quy định.
- Trong cho vay chú trọng đến đối tượng cho vay, chất lượng thẩm định dự án, phương
án sản xuất kinh doanh, kiểm tra trước, trong và sau khi cho vay, tuân thủ tốt các quy định về cơ
chế bảo đảm tiền vay, thực hệin bảo lãnh đúng theo quy trình và quy định.
- Thực hiện tốt việc phân loại nợ, trích lập dự phòng và xử lý rủi ro theo quy định tại
quyết định 493/QĐ; Quyết định số 18, số 636/QĐ-HĐQT-XLRR của hội đồng quản trị VIBank.
B/ Một số bất cập trong quá trình thẩm định và phân tích hồ sơ vay vốn :
b1/ Hồ sơ pháp lý:
- Theo quy trình cấp tín dụng hiện hành, khi thiết lập quan hệ tiền vay, cán bộ tín dụng
tiếp nhận hồ sơ phải đi thực tế đến tận nơi cư ngụ của khách hàng vay vốn để thu thập, tìm hiểu
về thân nhân, đánh giá uy tín, nguồn thu nhập chính, nhà xưởng, thiết bị, trình độ quản lý sản
xuất kinh doanh, khả năng tài chính, thực trạng tài sản bảo đảm và các thông tin khác nhằm
phân tích, đánh giá về khách hàng và hiệu quả của dự án xin vay vốn cảu khách hàng. vấn đề trở
không mua bảo hiểm…
b2/ Hồ sơ kinh tế:
- Chi nhánh luôn đặt tính hiệu quả của món vay lên hàng đầu và xem đó là điều kiện tiên
quyết để cán bộ tín dụng thẩm định trình duyệt cho vay vốn. tuy nhiên việc lấy dự án hay
phương án làm căn cứ cho vay vốn đã bộc lộ những khó khăn nhất định vì thời gian qua chi
nhánh đã gặp một số doanh nghiệp và cá nhân khi xây dựng phương án đã không trung thực,
thường đưa ra các con số ảo, số mà làm ngân hàng rất khó tính toán, xác định cho vay. Vì thế
chi nhánh ngoài việc xem xét phương án còn ràng buộc khách hàng vay vốn phải có thêm tài
sản đảm bảo. tài sản đảm bảo cho khoản vay có thể là của chính khách hàng vay vốn hoặc tài
sản hình thành trong tương lai hay tài sản do bên thứ ba đứng ra bảo lãnh. Tuy nhiên phương
pháp xác định giá trị tài sản để cho vay là một vấn đề khó. Trong nhiều năm nay ngân hàng
thường áp dụng giá đất thực tế, sau đó cho vay với mức tối đa không quá 70% giá đất thực tế
chuyển nhượng trên thị trường hiện tại chứ không dựa trên khung giá đất do UBND tỉnh Đồng
Nai quy định. Với cách tính này không có một khung giá cụ thể để áp giá , dễ gây cho cán bộ tín
dụng có những cách hiểu khác nhau, hiểu sai vấn đề hay lợi dụng cách đánh giá theo giá thị
trường để nâng cao giá đất thế chấp, gây rủi ro cho việc thu hồi vốn vay, nhất là việc vay thế
chấp bất động sản trong năm 2008 đã để lại tổn thất lớn cho chi nhánh. tại chi nhánh, nhiều hồ
sơ không có khả năng thu hồi nợ.
- Phần lớn các hồ sơ vay của khách hàng, công tác đánh giá các chỉ tiêu về khả năng tài
chính, tình hình sản xuất kinh doanh, mức độ tín nhiệm, xếp loại khách hàng, quy mô hoạt
động, tính chất sở hữu còn rất sơ sài và không chặt chẽ, chủ yếu là cán bộ tín dụng vẽ cùng
với khách hàng để đưa ra con số hợp lý, không sai với quy định cho vay của ngân hàng. Các
doanh nghiệp hay các hộ sản xuất thường không đưa ra kế hoạch cụ thể cho việc sản xuất kinh
doanh, điều này không thể xác định tiến độ thực hiện và kết quả đạt được của công việc kinh
doanh khách hàng. Trong quy trình cho vay , việc giải ngân chỉ được tiến hành khi khách hàng
chứng minh đầy đủ chứng từ, hoá đơn sử dụng vốn vay . tuy nhiên, hầu hết các khoản vay đều
phớt lờ điều này khiến cho vốn vay sử dụng vốn không đúng mục đích sử dụng, không phản ánh
tính lành mạnh cho khoản vay.
- Việc thực hiện không nghiêm túc các điều kiện quy định về biện pháp bảo đảm tiền vay
theo các quyết định VIBank đã quy định, nhất là trong trường hợp cho vay không có tài sản bảo
thái suy giảm về mặt tài chính, kinh doanh kém hiệu quả, nếu không tiếp tục được vay thì không
thể trả được nợ cũ nên kiếm cách trì hoãn gửi báo cáo tài chính bằng cách đánh bóng lại số liệu,
đôi khi có sự tiếp tay của cán bộ tín dụng.
- Tình trạng đặt nặng yếu tố tài sản để xem xét quyết định cho vay đã ảnh hưởng rất lớn
đến tâm lý người vay, nhất là khách hàng mới có quan hệ lần đầu, nhóm khách hàng chưa đủ
niềm tin trong quan hệ tín dụng, một số khách hàng là các công ty trách nhiệm hữu hạn, các
doanh nghiệp tư nhân, khiến họ cảm nhận sự rắc rối và nhiêu khê của đơn vị ngân hàng thương
mại nhà nước. Người cho vay đều thừa nhận tài sản bảo đảm là nguồn thu thứ hai nếu khách
hàng gặp rủi ro trong làm ăn, không còn khả năng thanh toán. Tuy nhiên tình trạng thiên về tài
sản bảo đảm, coi đây là yếu tố quan trọng cho vay đôi khi quá khắt khe mà không đặt hiệu của
dự án, phân tích đánh giá nguồn thu của khách hàng từ dự án cấp vốn sẽ gây không ít phiền
phức cho khách mà còn đánh mất cơ hội đầu tư, nhất là các nhóm khách hàng được đánh giá là
có dự án tốt nhưng bị từ chối trong thời gian qua như: các công ty có quy mô hoạt động lớn
Đề tài: Các giải pháp hoàn thiện công tác thẩm định dự án đầu tư trong quyết định cho vay trung, dài hạn tại
Ngân hàng quốc doanh (VIBank) chi nhánh Đồng Nai Lớp K17_NH ngày 1
GVHD: TS Lại Tiến Dĩnh Trang 11 HV thực hiện: Nguyễn Duy Tuyển
đang cần vốn mở rộng sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp nhà nước có lịch sử tài chính
trung bình đủ điều kiện vay không có bảo đảm bằng tài sản.
b3/ Chất lượng nguồn nhân lực hạn chế:
- Chất lượng nguồn nhân lực hiện nay nói chung và đội ngũ cán bộ tín dụng nói riêng vẫn
còn nhiều hạn chế. Việc phát triển nhanh về quy mô, mạng lưới hoạt động kéo theo nhu cầu về
nhân lực là rất lớn. Chính điều này cũng ảnh hưởng nhất định đến chất lượng đội ngũ cán bộ tín
dụng và ảnh hưởng đến chất lượng thẩm định tín dụng. Trong đó khả năng “ đọc” phương án sản
xuất kinh doanh. Đặc biệt là đối với các dự án cho vay trung dài hạn của cán bộ tín dụng là rất
hạn chế. Trong khi đó diễn biến phức tạp của thị trường, nhất là trong điều kiện hiện nay càng tạo
áp lực lớn đối với quá trình xét duyệt, quyết định cho vay đối với các dự án trung dài hạn.
- Ngoài ra chính phương thức bảo đảm tiền vay hiện nay, dựa chủ yếu vào tài sản thế
chấp, đặt nặng yêu cầu về TSBĐ nợ vay (là bất động sản) cũng làm hạn chế năng lực, khả năng
nghiên cứu và trình độ thẩm định của chính cán bộ tín dụng.
cho một dự án đầu tư thì việc lựa chọn, xem xét dự án đầu tư là bước đi đầu tiên và cũng là tiến
trình quan trọng nhất- nó quyết định toàn bộ quá trình đầu tư, cho vay của mỗi định chế tài
chính. Nói một cách đơn giản trước mỗi dự án đầu tư, mỗi một nhu cầu vay vốn, các định chế
tài chính trung gian phải trả lời được câu hỏi: “Cho vay hay không cho vay; đầu tư vào dự án
hay không đầu tư vào dự án?” Đây là câu hỏi lớn và trả lời cho câu hỏi này phụ thuộc vào công
tác thẩm định dự án của mỗi Ngân hàng hàng, vào chất lượng quản lý tín dụng của mỗi định chế
tài chính trung gian - Và đó cũng chính là quá trình lựa chọn dự án đầu tư của các trung gian tài
chính. Như vậy: việc thẩm định dự án của ngân hàng nhằm đánh giá hiệu quả của dự án, tính
khả thi của dự án và khả năng thu hồi vốn đầu tư. Trên cơ sở đó có quyết định tài trợ vốn hoặc
không tài trợ vốn cho dự án.
Về bản chất việc thẩm định dự án để quyết định tài trợ vốn cho dự án là nhằm mục đích
bảo vệ lợi ích của các bên liên quan đến dự án: dự án triển khai mang lại lợi ích gì? hiệu quả
như thế nào và tác động ra sao Trong đó đối với ngân hàng VIBank, mục tiêu cuối cùng là có
thu hồi được nợ (gốc và lãi) không khi tài trợ dự án và rõ ràng hiệu quả của dự án (hiệu quả
kinh tế&xã hội) sẽ là cơ sở quan trọng đảm bảo cho quyết định tài trợ cho dự án. Cụ thể:
Thứ nhất: thẩm định dự án một cách chính xác sẽ đảm bảo vốn của ngân hàng VIBank
nói chung và VIBank chi nhánh Đông Nai nói riêng được sử dụng hiệu quả, đảm bảo dự án triển
khai và hoạt động mang lại hiệu quả đúng theo kế hoạch và mục tiêu đề ra;
Thứ hai: thẩm định dự án cho phép loại bỏ các dự án không khả thi, tránh lãng phí và
hạn chế tối đa những hệ luỵ do những dự án không hiệu quả song vẫn được thực hiện.
Thứ ba: thẩm định đúng dự án sẽ đảm bảo vốn nói chung và vốn tín dụng nói riêng sử
dụng hiệu quả, đúng mục đích.
3.2 Giải pháp hoàn thiện công tác thẩm định dự án đầu tư trong quyết định cho vay trung
- dài hạn.
3.2.1 Nâng cao hiệu quả trong việc thu thập và sử dụng thông tin trên báo chí phục vụ
công tác thẩm định khách hàng vay vốn.
- Quán triệt đến tất cả cán bộ để mọi người nhận thấy được vai trò, tác dụng của những
thông tin trên báo chí liên quan đến hoạt động ngân hàng nói chung và khách hàng nói riêng.
- Việc thu thập, xử lý nguồn thông tin từ báo chí phải được thực hiện thường xuyên và có
sự sàng lọc kỹ càng.
3.2.2 Xây dựng hệ thống thông tin phục vụ đánh giá xếp loại khách hàng
Xây dựng một hệ thống thông tin đầy đủ về khách hàng như: lịch sử hình thành và
quá trình phát triển, năng lực tài chính, mức độ tín nhiệm, đội ngũ điều hành là cơ sở hết sức
quan trọng giúp cho việc thẩm định,xếp loại, lựa chọn khách hàng trong hoạt động của các
phòng giao dịch. Nếu hệ thống này không đầy đủ sẽ ảnh hưởng rất lớn đến khả năng đánh
giá, thẩm định khách hàng của các ngân hàng.
3.2.3 Xây dựng hệ thống thông tin phục vụ cho việc thẩm định dự án:
Ngoài hệ thống thông tin dùng để đánh giá khách hàng, khi thẩm định dự án, phương
án kinh doanh, các tổ chức tín dụng cần phải có hệ thống thông tín nhằm xác định, kiểm tra
các thông số đầu vào và đầu ra của dự án, nhất là các thông số về thị trường các nguyên liệu
đầu vào và thị trường đàu ra của sản phẩm…
3.2.4 Xây dựng hệ thống các tiêu chuẩn và kỹ thuật đánh giá khi có đủ các thông tin với độ
tin cậy cao, điều kiện cần thiết tiếp theo là phải có các tiêu chuẩn và kỹ thuật đánh giá phù
Đề tài: Các giải pháp hoàn thiện công tác thẩm định dự án đầu tư trong quyết định cho vay trung, dài hạn tại
Ngân hàng quốc doanh (VIBank) chi nhánh Đồng Nai Lớp K17_NH ngày 1
GVHD: TS Lại Tiến Dĩnh Trang 14 HV thực hiện: Nguyễn Duy Tuyển
hợp, cụ thể:
- Các tiêu chuẩn đánh giá năng lực khách hàng: Theo quy định đối với những người
điều hành doanh nghiệp đồi hỏi phải có một số tiêu chuẩn nhất định nào đó (về bằng cấp).
Nhưng thực tế những quy định này nặng về hình thức hơn. Những căn cứ, tiêu chuẩn để dựa
vào đó đánh giá khả năng điều hành của một doanh nghiệp, một tổ chức gần như không có.
- Các tiêu chuẩn phân tích báo cáo tài chính: Hai điều kiện cơ bản nhất để phân tích
báo cáo tài chính nhằm đưa ra các đánh giá, kết luận có độ tin cậy là phải có hệ thống thông
tin báo cáo tài chính đủ độ tin cậy và có hệ thông các chỉ tiêu, chuẩn mực đánh giá. Phần thứ
nhất đã được trình bày ở phần trên. Hiện nay chưa có các tiêu chuẩn, chuẩn mực được cho là
hiệu quả để so sánh đánh giá một báo cáo tài chính của một khách hàng là tốt hay không tốt, đủ
tiêu chuẩn hay chưa đủ tiêu chuẩn.
- Các tiêu chuẩn thẩm đinh dự án đầu tư: Đây là những thông số, nhưng tiêu chuẩn vô
cùng cần thiết như hệ số chiết khấu, mức độ rủi ro …Trong quá trình thẩm định một sự án, có
+ Có cơ chế kiểm tra, giám sát khoản vay hiệu quả (trong suốt quá trình cho vay: từ thẩm
định đến khi thu hồi nợ vay);
3.2.6 Nâng cao chất lượng hoạt động quản trị rủi ro tín dụng:
Đây là hoạt động có vai trò quan trọng đối với công tác thẩm định tín dụng. Mặc dù dứoi
góc độ quản lý, thẩm định tín dụng chỉ là một bộ phận của hoạt động tín dụng, do vậy về mặt tổ
chức nó thuộc phạm vi hoạt động của quản lý tín dụng, của công tác quản trị rủi ro tín dụng tại
mỗi phòng giao dịch. Tuy nhiên tại các phòng giao dịch có trình độ quản lý, quản trị rủi ro cao,
hiệu quả sẽ có tác động trực tiếp đến chất lượng công tác thẩm định, nhờ kết quả của quá trình
đánh giá, xác định và phân loại rủi ro; quá trình phân tích, đánh giá và định lượng rủi ro (các
loại rủi ro liên quan: lãi suất; tỷ giá; thị trường; pháp luật và rủi ro tài chính; hoạt động kinh
doanh của khách hàng ).
Đây là thông tin cần thiết đối với công tác thẩm định tín dụng. Là cơ sở để ngân hàng
đưa ra quyết định đúng trong quá trình xét duyệt cho vay; quá trình tài trợ vốn. Chính vì lẽ đó
một trong giải pháp cơ bản là các phòng giao dịch cần quan tâm nâng cao chất lượng của hoạt
động này.