Thực trạng thiếu máu thiếu sắt và trầm cảm ở phụ nữ mang thai từ 6 tuần đến 16 tuần tại vùng nông thôn tỉnh hà nam - Pdf 19

1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Thiếu máu thiếu sắt (TMTS) ở phụ nữ mang thai là một vấn đề sức khỏe
cộng đồng được quan tâm hàng đầu trên thế giới, đặc biệt là ở các nước đang
phát triển. Năm 2008, theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), tỷ lệ
thiếu máu thiếu sắt ở phụ nữ mang thai là gần 42%, trong đó khoảng 56% phụ
nữ mang thai (PNMT) ở các nước đang phát triển bị thiếu máu và chỉ có 18%
ở những nước phát triển [65]. Tại Việt Nam, theo kết quả điều tra của Viện
Dinh dưỡng Quốc gia tiến hành năm 1988 - 1990 trên 2.471 phụ nữ tuổi sinh đẻ
thì tỉ lệ thiếu máu ở thai phụ vùng nông thôn là 49% (3 tháng cuối là 59%), và ở
Hà Nội là 41% (3 tháng cuối là 48%). Tỷ lệ thiếu máu ở thai phụ toàn quốc năm
2000 là 32,2%, ở vùng Đông Nam Bộ là 34,3% [27] .
Một trong các nguyên nhân gây thiếu máu thì thiếu sắt là nguyên nhân
chiếm hàng đầu trong các nguyên nhân gây thiếu máu. Ở những nước đang phát
triển ngoài nguyên nhân thiếu sắt trong khẩu phần ăn, TMTS còn do các bệnh ký
sinh trùng đường ruột và sốt rét. Tỷ lệ thiếu máu thiếu sắt ở những nước công
nghiệp phát triển đã giảm trong vài thập kỉ gần đây nhưng tỷ lệ thiếu máu thiếu
sắt chung trên toàn thế giới thay đổi rất ít. Khoảng 500 triệu người trên thế giới
bị thiếu máu thiếu sắt, thì tỷ lệ thiếu máu thiếu sắt chiếm 25% - 35% ở những
nước đang phát triển, trong khi chỉ chiếm khoảng 5% - 8% ở những nước công
nghiệp phát triển [7], [8], [11].
Thiếu máu thiếu sắt ở phụ nữ mang thai, đặc biệt là 3 tháng đầu của thai kỳ
gây ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe phụ nữ mang thai và thai nhi như: Làm tăng
nguy cơ chậm phát triển thai nhi ngay từ trong bụng mẹ, trẻ sinh ra bị nhẹ cân,
sinh non, suy dinh dưỡng, ảnh hưởng đến thể chất, tinh thần của cả mẹ và con
hoặc tử vong chu sinh mẹ và con [3], [37], [58], [59].
2
Mặt khác, hiện nay sức khỏe tâm thần đang là vấn đề bức thiết mà xã hội
cần quan tâm, đặc biệt là vấn đề sức khỏe tâm thần ở phụ nữ mang thai và trẻ
em. Theo Tổ chức Y tế thế giới thì ngày nay một phần tư nhân loại bị ảnh
hưởng về sức khỏe tâm thần do nhiều nguyên nhân khác nhau. Ngân hàng

lên; Nếu HGB < 10g/dl thì sẽ gây ra rối loạn hô hấp và tim làm cho người bệnh
thở nhanh, tim đập nhanh. Bên cạnh đó nhằm bù đắp sự giảm HBG cơ thể sẽ kích
thích tiết Erythropoietin (EPO) để tăng HBG, tăng sự tạo máu [8], [9], [10].
Thiếu máu dinh dưỡng được coi là “tình trạng bệnh lý xảy ra khi lượng
huyết cầu tố trong máu hạ xuống thấp hơn bình thường do thiếu một hay
nhiều chất dinh dưỡng trong quá trình tạo máu". Thiếu máu dinh dưỡng ở các
nước đang phát triển chủ yếu là do thiếu sắt. Bệnh hay gặp trẻ em 6 tháng đến
5 tuổi. Tình trạng thiếu máu do thiếu sắt đã ảnh hưởng xấu đến dinh dưỡng và
sức khoẻ của trẻ em tuổi vườn trẻ và mẫu giáo. Thông kê của Tổ chức Y tế
thế giới (WHO) và nhóm tư vấn Quốc Tế về thiếu máu dinh dưỡng (INACG:
International Nutritional Anemie Consultative Group), hiện nay có tới 1/3 dân
số trên thế giới bị thiếu máu, tỷ lệ người bị thiếu máu tập trung cao nhất ở các
nước đang phát triển (36%). Đối tượng có nguy cơ thiếu máu cao nhất là phụ
nữ có thai (51%), và trẻ em dưới 5 tuổi (43%), sau đó đến trẻ em tuổi học
đường 6-15 tuổi (37%), [20], [36], [43].
4
Thiếu máu do thiếu sắt là một hội chứng thiếu máu thường hay gặp, đây
là thiếu máu hồng cầu nhỏ nhược sắc. Hồng cầu là một tế bào sống không
nhân, thành phần hóa học chính trong nguyên sinh chất của hồng cầu chứa
nước và huyết sắc tố. Huyết sắc tố cấu tạo bởi Globin và Heme, trong đó
Heme là một chất protoporphyrin kết hợp với nguyên tử sắt có hóa trị 2 (Fe
+
+
). Sắt được sử dụng theo chu kỳ khép kín, quá trình tạo hồng cầu cần tiêu thụ
sắt từ 3 nguồn sắt được phóng thích từ quá trình tan máu sinh lý (nguồn
chính); sử dụng sắt dự trữ và sắt được hấp thu từ ruột non do bên ngoài đưa
vào. Tủy xương sử dụng khoảng 30mg sắt/ngày để tạo hồng cầu, chỉ cần độ
1mg - 2 mg từ thức ăn đưa vào, còn lại từ các kho dự trữ của cơ thể.
1.1.2. Phân loại thiếu máu
Có nhiều cách phân loại khác nhau tuỳ theo mục đích của các tác giả.

Do giảm chức năng tuỷ xương (giảm sinh sản hồng cầu), do hủy hồng
cầu hoặc do phối hợp cả hai.
+ Do giảm chức năng tủy xương:
- Thiếu máu tuyệt sinh, giảm sinh. Thiếu máu do loạn sản tủy, do thâm
nhiễm tủy
- Thiếu máu có hồng cầu khổng lồ: do thiếu vitamin B12, axit folic do
các thuốc hoặc do bẩm sinh.
6
- Thiếu máu nhược sắc:
+ Rối loạn chuyển hóa sắt.
+ Rối loạn tổng hợp hem.
+ Rối loạn tổng hợp globin.
+ Do hủy hồng cầu (thiếu máu huyết tán):
- Thiếu máu do sai sót nguyên phát trong cấu trúc màng hồng cầu: bệnh
hồng cầu nhỏ hình cầu di truyền, đái HGB kịch phát ban đêm
- Thiếu máu do sai sót thứ phát trong cấu trúc màng hồng cầu: huyết tán
ở mạch lớn, huyết tán ở mạch nhỏ.
- Thiếu máu tan huyết miễn dịch qua trung gian bổ thể: do kháng thể
IgM, do kháng thể IgG.
- Thiếu máu tan huyết do hồng cầu bị nhiễm ký sinh trùng sốt rét.
- Thiếu máu tan huyết do rối loạn chuyển hoá trong hồng cầu: Thiếu hụt
enzym G6PD.
- Thiếu máu tan huyết do hồng cầu chứa HGB bệnh lý: HbS, HbF.
- Thiếu máu do cường lách
1.1.3. Thiếu máu ở phụ nữ có thai
1.1.3.1. Định nghĩa về thiếu máu phụ nữ mang thai.
Định nghĩa chính xác thiếu máu ở phụ nữ mang thai rất phức tạp bởi một
số yếu tố như giá trị bình thường của HGB rất khác nhau giữa nam và nữ,
giữa phụ nữ có thai và không có thai. Các yếu tố về mức sống, tuổi, tình trạng
sinh lý, việc dùng thuốc, hoạt động của bệnh nhân trước khi xét nghiệm đều

thường.
Nếu mất từ trên 1,5 lít sẽ xảy ra trụy tim mạch, huyết áp động mạch
không đo được.
+ Hô hấp: khó thở, nhịp tim nhanh.
+ Thần kinh: Đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, thoáng ngất hoặc ngất.
+ Cơ và khớp: mỏi các cơ đi lại khó khăn.
* Thiếu máu mạn tính:
+ Da xanh xảy ra từ từ.
+ Niêm mạc môi, mắt, dưới lưỡi nhợt nhạt, lưỡi trơn hay nứt nẻ.
+ Móng tay khô, mất bóng, có khía dọc và dễ gẫy, có thể có móng tay khum.
+ Tim: nhịp tim nhanh, có thể có tiếng thổi tâm thu thiếu máu. Nếu thiếu
máu lâu ngày và nặng sẽ dẫn đến suy tim.
+ Hô hấp: khó thở khi gắng sức, nhịp thở nhanh.
+ Thần kinh: Nhức đầu, hoa mắt, chóng mặt, ù tai, thoáng ngất và ngất,
thường có buồn bã liên miên do thiếu oxy não.
+ Cơ xương khớp: mệt mỏi khi đi lại và làm việc.
+ Rối loạn tiêu hoá: ăn kém, ỉa lỏng hoặc táo bón, gầy, sút cân.
+ Thiếu máu nhẹ và trung bình:
Dấu hiệu lâm sàng nghèo nàn, chủ yếu dựa vào xét nghiệm.
- Cận lâm sàng:
Xét nghiệm huyết học để định lượng HBG, đếm số lượng hồng cầu,
Hematocrit [10].
9
Trên phụ nữ có thai bị thiếu máu sẽ có biểu hiện: HBG < 11 g/dl, có thể
thấy hồng cầu < 3,5 triệu/mm3, Hematocrit < 33%
1.1.3.3. Nguyên nhân thiếu máu ở phụ nữ có thai
Về mặt dịch tễ học, thiếu máu ở phụ nữ có thai là do thiếu sắt và axit
folic. Đó là thể thiếu vi chất dinh dưỡng phổ biến nhất trên thế giới hiện nay
[20], [52].
a, Thiếu máu do thiếu sắt

thu có thể là nguyên nhân thiếu sắt và thường do phẫu thuật dạ dầy. Một
nguyên nhân quan trọng nữa của TMTS là mất máu đặc biệt mất máu theo
đường dạ dày ruột, ở những vùng có tỷ lệ nhiễm giun móc/giun mỏ có thể là
nguyên nhân quan trọng, nếu trong 1 cơ thể người mang 500 con giun móc thì
hàng ngày có thể bị mất đi từ 50 - 80 ml máu [7].
Thiếu máu thiếu sắt chiếm đại đa số các trường hợp thiếu máu trong quá
trình mang thai. Theo Đào Văn Chinh thiếu máu do thiếu sắt chiếm 80% các
trường hợp thiếu máu khi có thai, 10% - 20% các phụ nữ có thai có chế độ ăn
đầy đủ bị thiếu máu do thiết sắt, tỷ lệ này tăng cao hơn nhiều ở những người
đẻ nhiều, đẻ dầy và cho con bú kéo dài [8].
Nghiên cứu trên 33 phụ nữ có thai bình thường ở 3 tháng cuối thai kỳ
đến khám thai tại khoa sản bệnh viện Thanh Nhàn - Hà Nội năm 1994, Hà
Huy Khôi và cộng sự cho thấy: dự trữ sắt bình thường ở thai phụ không thiếu
máu, dự trữ sắt giảm ở thai phụ bị thiếu máu, khi lượng HGB: 6-8 g/l dự trữ
sắt cạn kiệt, từ đó nhận định rằng thiếu sắt là nguyên nhân quan trọng dẫn tới
thiếu máu ở các đối tượng nghiên cứu [21].
11
Năm 1994 nghiên cứu ở Karachi-Pakistan cho thấy 63,5% PNCT bị
thiếu máu do thiếu sắt [54].
Fareh O.I và cộng sự nghiên cứu tại các tiểu vương quốc Arab thống
nhất cho thấy, tỷ lệ thiếu máu do thiếu sắt chiếm 91% trong quần thể PNCT bị
thiếu máu, bệnh thalassemine chiếm 8%, thiếu folate chiếm 1% [48].
Sukrat B. và Sirichotiyakul S. nghiên cứu năm 2006 trên 648 phụ nữ có
thai ở bệnh viện Maharaj Nakorn Chiang Mai, Thái Lan, kết quả cho thấy: tỷ
lệ thiếu máu là 20,1%; phân chia thiếu máu trong từng thai kỳ là 17,3%,
23,8% và 50% tương ứng với ba tháng đầu, ba tháng giữa và ba tháng cuối
của thai kỳ. Phụ nữ có thai bị bệnh Thalassemia và các bệnh khác là 56 trong
tổng số 102 phụ nữ có thai bị thiếu máu: 54,9%. Trong 58 thai phụ bị thiếu
máu, có 25 trường hợp TMTS. Các nguyên nhân khác gây thiếu máu là nhiễm
ký sinh trùng: 8,7%, thiếu máu do các bệnh mạn tính: 2,7% và 33% không

với sắt hem và thường bị ức chế bởi các chất ức chế như phytat và canxi.
Vitamin C và sắt dạng hem là những chất kích thích hấp thu sắt không hem.
Trong cơ thể người trưởng thành thì 95% nhu cầu sắt tham gia vào quá
trình tái tạo hồng cầu được lấy từ việc phá huỷ các hồng cầu già cỗi, chỉ 5%
lượng sắt dùng cho mục đích này được lấy từ thức ăn. Trong khi đó, ở trẻ nhỏ,
70% nhu cầu sắt sử dụng để tạo hồng cầu được lấy từ việc phá huỷ hồng cầu
cũ và 30% còn lại được lấy từ nguồn thức ăn.
Ở người trưởng thành, hàng ngày khoảng 1mg sắt bị mất đi qua các tế
bào niêm mạc. Ở phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ, cần có một lượng sắt bổ sung
thay thế cho lượng sắt mất đi do hành kinh (khoảng 0,3 - 0,5 mg/ngày).
Trong khi có thai lượng sắt cần để phát triển các tổ chức của thai nhi và
lượng sắt mất trong và sau sinh rất lớn (vào khoảng 3mg/ngày trong suốt 280
ngày mang thai). Trong trường hợp bệnh lý có chảy máu hệ thống đường tiêu
13
hóa như viêm loét dạ dày, ruột, nhiễm ký sinh trùng đường ruột nhất là giun
móc thì một lượng lớn sắt sẽ bị mất đi do chảy máu đường tiêu hóa.
* Vai trò của sắt:
Trung bình lượng sắt trong cơ thể là 3,8 gam ở nam và 2,3 gam ở nữ.
Trong cơ thể sắt được tồn tại chủ yếu dưới hai dạng: Sắt chức năng và sắt dự
trữ. Người ta ước tính khoảng 2/3 sắt chức năng - chủ yếu là dạng hem gắn
protein như hemoglobin, myoglobin và cytocromes. Hemoglobin có vai trò
quan trọng trong vận chuyển ôxy từ phổi đến các mô. Cấu trúc của hemoglobin
gồm 4 hem gắn với 4 chuỗi globin. Hemoglobin có khả năng oxy hoá trong
tuần hoàn phổi và khử ô xy ở mao mạch. Myoglobin gồm một hem gắn với
một chuỗi globin. Myoglobin chỉ có ở các cơ với chức năng vận chuyển, dự
trữ ô xy ở trong cơ và nhả ô xy cho các hoạt động co bóp cơ. Các Cytochrom
là các hợp chất có chứa hem tham gia vào chuyển hoá năng lượng và hô hấp
với vai trò vận chuyển điện tử ở ty lạp thể. Cytochrom a,b,c chủ yếu sản xuất
ra năng lượng tế bào dưới dạng adenosin triphosphat. Ngoài lượng sắt được
tồn tại dưới dạng chức năng, trong cơ thể sắt còn được dự trữ dưới dạng

cũng tương tự. Ở Thái Lan, những trẻ em có nồng độ HBG thấp có điểm
ngôn ngữ và toán không được cải thiện ngay cả khi được bổ sung sắt. Những
nữ sinh có chế độ ăn thiếu sắt thì khả năng học tập (độ tập trung) kém [20],
[36], [47], [64].
b, Thiếu máu do thiếu a xít folic
Các dẫn xuất của axit folic tham gia vào cơ chế chuyển hoá một số axit
amin cần thiết cho sự tổng hợp protein của cơ thể. Thiếu axit folic, quá trình
phân chia tế bào bị giảm sút vì axit folic tham gia tổng hợp baze Purin và
15
Pyrimidin của axit Nucleic.
Axit folic không được dự trữ trong cơ thể. Trong khi có thai, cơ thể phát
triển mạnh, phân bào mạnh đòi hỏi nhiều axit folic. Nếu không thoả mãn
được, thiếu axit folic sẽ là nguyên nhân thiếu máu ở người mẹ.
Nghiên cứu của Daniel tại Mỹ cho thấy, phụ nữ có thai cần ít nhất
500mg a xit folic mỗi ngày, Willoughby và Jewell thấy rằng 350 mg axit
folic mỗi ngày sẽ đảm bảo duy trì nồng độ axit folic trong huyết tương ở mức
độ bình thường của phụ nữ có thai [2], [63].
Nguyên nhân chính của thiếu máu hồng cầu to ở phụ nữ có thai là do
nhu cầu axit folic tăng lên một cách đáng kể. Tình trạng thiếu axit folic trong
khẩu phần ăn không phải là nguyên nhân chủ yếu gây lên thiếu máu hồng cầu
to, ngoài ra còn có các nguyên nhân khác như nôn nghén kéo dài, viêm dạ
dầy ruột kéo dài, kém hấp thu, chế độ ăn kiêng [63].
Ở Châu Âu, tỷ lệ bệnh là khoảng 2% ở phụ nữ có thai. Ở những nước
kinh tế đang phát triển, tỷ lệ mắc còn cao hơn, thường phối hợp nhiều nguyên
nhân: Thiếu chất, kém hấp thu do các bệnh đường ruột [8].
c, Các nguyên nhân hiếm gặp khác
- Thiếu máu ác tính do thiếu vitamin B12:
Bệnh hiếm gặp, hiếm xảy ra trong thời kỳ có thai. Nguyên nhân có thể
do rối loạn tiêu hoá, do cắt đoạn dạ dày gây mất yếu tố nội do vùng đáy dạ
dày tiết ra nên không hấp thu được vitamin B12 là yếu tố ngoại [56].

chất, tâm thần, tình cảm và xã hội trong đó cá nhân cảm nhận được năng lực
của mình, có thể đối phó được với những căng thẳng của cuộc sống, có thể làm
việc một cách năng suất và hiệu quả, và có khả năng đóng góp cho cộng đồng.
17
Định nghĩa đã nêu rõ sức khoẻ tâm thần là một thành phần cơ bản của
cuộc sống lành mạnh. Phụ nữ có thai cần một sức khoẻ tâm thần tốt để có
được sự phát triển bình thường về tâm thần và tình cảm, để phát triển tiềm
năng, để tạo dựng các mối quan hệ trọn vẹn và giải quyết các thách thức trong
cuộc sống hàng ngày.
Có một nhóm phụ nữ có thai ít có khả năng đối phó với sự sợ hãi do sự
thay đổi nhanh chóng trong chính con người họ và của môi trường sống, điều
này gây nên những vấn đề về sức khoẻ tâm thần. Các nhóm phụ nữ có thai
nguy cơ cao đặc trưng là những người sống trong nghèo khổ, những người
trải qua bạo lực, hay có những vấn đề về gia đình.
1.2.2. Khái niệm về trầm cảm và tỷ lệ mắc bệnh trầm cảm trên thế giới và
tại Việt Nam
1.2.2.1. Khái niệm bệnh trầm cảm
Hippocrate (460-377 trước công nguyên) dùng thuật ngữ trầm cảm hay
sầu uất “Mélancholie” để mô tả một số rối loạn tâm thần có biểu hiện rối loạn
khí sắc. Năm 1686 Bonet mô tả một bệnh tâm thần mà ông gọi là bệnh hưng
cảm- sầu uất “Maniaco- Mélancoliants”. Đến thế kỷ XVIII, Pinet mô tả trầm
uất là một trong bốn loại loạn thần. Sau đó E. Esquirol tách ra từ các bệnh
loạn thần bộ phận (Folies partielles) một thể trầm cảm và gọi là cơn hoang
tưởng (HT) buồn rầu. Thế kỷ XIX, một số thể rối loạn cảm xúc được mô tả
như những đơn vị bệnh lý độc lập: loạn thần có 2 thể (Folie à double forme)
(J. Baillarger 1854), loạn thần tuần hoàn (Folie circulaire) (J.B. Falret 1854).
Năm 1882, K. Kahlbaum dùng thuật ngữ “Cyclothymia” (Bệnh khí sắc chu
kỳ) mô tả hưng cảm, trầm cảm như các giai đoạn của cùng một bệnh.
E.Kraepelin (1899), dựa trên các biểu hiện lâm sàng và tính chất tiến triển của
các bệnh do các nhà tâm thần học Pháp và Đức mô tả trên, thống nhất lại

- Trầm cảm ẩn: Các triệu chứng cơ thể chiếm ưu thế nổi bật, trong khi đó các
triệu chứng ức chế cảm xúc, ức chế tư duy và ức chế vận động thì rất mờ nhạt.
- Trầm cảm paranoid: bệnh còn được gọi là trầm cảm của loạn thần, trầm
cảm có hoang tưởng, đây là thể nặng của trầm cảm.
- Trầm cảm ở người cao tuổi: Gặp ở người cao tuổi, rối loạn chú ý, trí
nhớ, tư duy.
- Trầm cảm ở vị thành niên: Trước đây người ta cho rằng trầm cảm ở
người vị thành niên là rất hiếm gặp, nhưng trong khoảng 20 năm trở lại đây,
tỷ lệ trầm cảm ở vị thành niên đang tăng lên nhanh chóng. Theo các nghiên
cứu gần đây, tỷ lệ trầm cảm ở vị thành niên là 6 - 8% thậm chí có nghiên cứu
cho rằng tỷ lệ này có thể lên đến 14% .
Trầm cảm không biệt định khác: Các rối loạn có các yếu tố trầm cảm
không thỏa mãn các tiêu chuẩn cho rối loạn trầm cảm chủ yếu hoặc rối loạn
có khí sắc pha trộn, trầm cảm kết hợp với lo âu.
1.2.2.3. Giai đoạn trầm cảm:
Trầm cảm có ba giai đoạn: nhẹ, vừa và nặng bệnh nhân thường có khí
sắc trầm, mất mọi quan tâm và thích thú giảm năng lượng rất đến tăng sự mệt
mỏi và giảm hoạt động. Phổ biến là mệt mỏi rõ rệt chỉ sau một cố gắng nhỏ.
Giai đoạn trầm cảm nhẹ: Khí sắc trầm, mất quan tâm và thích thú
thường được coi là những triệu chứng điển hình. Bệnh nhân thường buồn
chán, khó tiếp tục công việc thường ngày và hoạt động xã hội, nhưng có khả
năng không dừng hoạt động hoàn toàn.
Giai đoạn trầm cảm vừa: Bệnh nhân có ít nhất 2 trong 3 triệu chứng điển
hình nhất đặc trưng cho giai đoạn trầm cảm nhẹ và bệnh nhân thường có nhiều
khó khăn để tiếp tục hoạt động xã hội, nghề nghiệp hoặc cộng việc gia đình.
20
Giai đoạn trầm cảm nặng: Người bệnh thường biểu lộ buồn chán nặng
hoặc kích động, trừ khi biểu hiện chậm chạp rõ nét. Mất tự tin hoặc cảm thấy
vô dụng hoặc tội lỗi giường như chiếm ưu thế [14], [18] .
1.2.2.4. Tỷ lệ mắc bệnh trầm cảm trên thế giới và Việt Nam.

- Tình trạng kinh tế và văn hóa: Không có mối liên quan giữa tình trạng
kinh tế và trầm cảm chủ yếu. Nhưng điều ngạc nhiên là trầm cảm phổ biến
hơn ở vùng nông thôn so với vùng thành thị [18], [57].
1.2.2.3.Thang điểm đánh giá trầm cảm: Bộ câu hỏi Edinburgh Postnatal
Deprssion scale (EPDS):
Triệu chứng học trầm cảm được coi là một lĩnh vực, mà trong đó lâm
sàng và cận lâm sàng luôn tiếp cận để khảo sát nhận biết và kết luận. Song
song với lâm sàng nghiên cứu thống kê các triệu chứng trầm cảm, cận lâm
sàng (các test trầm cảm) đã tiếp cận thực tiễn, từ đó hình thành một "tình
trạng" với các triệu chứng trầm cảm, có cấu trúc hợp lý nhằm góp phần hỗ trợ
chẩn đoán lâm sàng các rối loạn trầm cảm.
Các test trầm cảm là những công cụ đã được tiêu chuẩn hoá, có tính quy
chuẩn về đánh giá các triệu chứng học, có độ nhạy cao, có tính hiệu lực trong
việc khảo sát các triệu chứng, cũng như cho kết quả thu được đáng tin cậy.
Ưu thế của test trầm cảm là tương đối đơn giản về thủ tục và trang bị,
thời gian làm test ngắn, ghi lại được trực tiếp các kết quả, có những tiêu
chuẩn đã được xác lập, có khả năng sử dụng đối với từng cá nhân và toàn bộ
nhóm cộng đồng.
22
Giá trị của test là giúp cho người thầy thuốc lâm sàng trong việc phát
hiện bệnh, kể cả bệnh ở mức độ kín đáo, có triệu chứng rất mở nhạt, không rõ
ràng. Test đã giúp lượng hoá đuợc các triệu chứng học tâm thần bệnh lý, giúp
xác định được mức độ tình trạng rối loạn trầm cảm, giúp xác định các yếu tố
nguy cơ để can thiệp sớm nhằm ngăn ngừa những tai biến. Thêm nữa, test
không những hỗ trợ cho chẩn đoán lâm sàng mà còn gợi mở hướng điều trị và
đánh giá hiệu quả các phương pháp điều trị.
Người thầy thuốc thực hành khi tiếp cận khám xét bệnh nhân, giá trị một
chẩn đoán có rối loạn trầm cảm sẽ cao hơn, nếu biết sử dụng đánh giá về mặt
lâm sàng có phối hợp với các test trầm cảm.[5], [34].
Bộ câu hỏi Edinburgh Postnatal Deprssion scale: Là bộ công cụ đã được

người vợ là đủ.
* Tiêu chuẩn loại trừ: Các trường hợp mang thai phức tạp (thai đôi, mẹ
bị bệnh tiểu đường hoặc các bệnh nặng khác)
2.1.2. Địa điểm nghiên cứu: Tại 05 huyện thuộc tỉnh Hà Nam
Huyện Bình Lục: xã Bình Nghĩa, xã Đồng Du, xã Bình Mỹ, xã Tiêu
Động, xã Trung Lương, xã Ngọc Lũ, xã Vũ Bản.
Huyện Lý Nhân: xã Chính Lý, xã Đức Lý, xã Bắc Lý, xã Nhân Khang,
xã Nhân Bình, xã Nhân Thịnh, xã Hòa Hậu.
24
Huyện Duy Tiên: xã Chuyên Ngoại, xã Châu Giang, xã Yên Nam, xã
Tiên Hải, thị trấn Đồng Văn.
Huyện Kim Bảng: xã Đại Cương, xã Lê Hồ, xã Thụy Lôi, xã Thanh Sơn,
xã Hoàng Tây, xã Đồng Hóa.
Huyện Thanh Liêm: xã Liêm Thuận, xã Thanh Lưu, xã Kiện Khê, xã
Thanh Nghị, xã Thanh Nguyên.
Tỉnh Hà Nam là một tỉnh đồng bằng sông Hồng với 05 huyện: Huyện
Bình Lục, Duy Tiên, Lý Nhân, Thanh Liêm, Kim Bảng và 01 thành phố Phủ
Lý. Diện tích toàn tỉnh khoảng 850 km
2
; dân số khoảng 790.000 người, dân trí
và trình độ văn hóa xã hội của dân cư phát triển khá cao. Tuy nhiên sự chênh
lệch giữa các vùng là rất lớn, giữa người dân lao động và tầng lớp trí thức,
giữa thành thị và nông thôn. Kinh tế của tỉnh chủ yếu từ sản xuất nông
nghiệp, chăn nuôi nhỏ lẻ; công nghiệp và dịch vụ đang phát triển.
Hệ thống y tế của tỉnh: Phòng Y tế với chức năng quản lý nhà nước tham
mưu cho UBND các huyện/thành phố về công tác y tế; Trung tâm Y tế, Bệnh
viện đa khoa các huyện/thành phố và Trung tâm dân số kế hoạch hoá gia đình
chịu sự quản lý trực tiếp của Sở Y tế, Trung tâm Y tế quản lý Trạm y tế
xã/phường/thị trấn; Bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh, huyện/thành phố làm
nhiệm vụ khám chữa bệnh; Trung tâm Dân số - Kế hoạch hoá gia đình. Trạm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status