Nghiên cứu tình hình viêm da tiếp xúc ở công nhân xây dựng tại một số công trường thuộc huyện hương thuỷ và phú vang, thừa thiên huế - Pdf 19


TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH VIÊM DA TIẾP XÚC Ở
CÔNG NHÂN XÂY DỰNG TẠI MỘT SỐ
CÔNG TRƯỜNG THUỘC HUYỆN HƯƠNG THUỶ
VÀ PHÚ VANG, THỪA THIÊN HUẾ
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP BÁC SỸ Y KHOA

1. Khảo sát tỉ lệ viêm da tiếp xúc với xi măng ở quần thể công nhân xây
dựng tại một số công trường thuộc hai huyện Phú Vang và Hương Thuỷ, tỉnh
Thừa Thiên Huế.
2. Tìm hiểu các yếu tố liên quan đến viêm da tiếp xúc với xi măng ở
quần thể công nhân xây dựng tại đây nhằm có biện pháp điều trị và dự phòng
một cách có hiệu quả và làm cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo.

3
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Lịch sử viêm da tiếp xúc với xi măng
Đứng về mặt lịch sử, nguyên nhân quan trọng nhất của viêm da tiếp xúc
(VDTX) với xi măng chính là VDTX với crom(Cr), một thành phần kim loại
tồn tại dưới dạng hợp chất có trong xi măng. Chỉ ở trạng thái oxid hoá của Cr

giảm lượng Crom hoá trị 6 hoà tan trong nước, và như thế sẽ làm giảm tính
kích ứng VDTX của xi măng [16].
Năm 1981 sulfate sắt đã thật sự được cho vào xi măng bởi Aalborg
Portland, Denmark và như vậy đã làm giảm lượng Cr hoá trị 6 hoà tan trong
nước xuống dưới 2 phần triệu và đã thực sự làm giảm nguy cơ viêm da tiếp
xúc với xi măng đối với công nhân xây dựng.
Năm 1983 đạo luật này đã được áp dụng tại Đan Mạch và từ đó tần suất
viêm da dị ứng với Crom ở công nhân xây dựng ở Đan Mạch đã giảm một
cách đáng kể [13].
Ngày 17 tháng 1 năm 2005 Hiệp Hội Châu Âu đã cấm tiếp thị và sử dụng
xi măng có chứa Crom hoá trị 6 hoà tan trong nước trên 2 phần triệu. Quyết
định này chắc chắn sẽ có ý nghĩa tích cực trong việc giảm tỉ lệ VDTX với xi
măng trong tương lai đối với công nhân xây dựng [15], [18].
Hiện nay VDTX chiếm từ 15 đến 20% dân số toàn dân. Sự mẫn cảm
được gây nên bởi da tiếp xúc với một hapten có trọng lượng phân tử thấp.
Yếu tố nguy cơ bao gồm sự nhạy cảm tiềm tàng cố hữu của dị nguyên, nồng
độ dị nguyên cao (liều lượng trên một đơn vị da), tần suất tiếp xúc cao, khả
năng thấm, thời gian tiếp xúc kéo dài, sự hiện diện của yếu tố kích ứng sự
xâm nhập và chức năng hàng rào của da bị thay đổi. Yếu tố gene hình như
đóng vai trò thứ yếu [12].
Người nhạy cảm trở nên phơi bày đối với một nồng độ dị nguyên vượt

5
ngưỡng sẽ dẫn đến viêm da tiếp xúc dị ứng. Mặt khác sự kích ứng VDTX còn
phụ thuộc vào thời gian và tần suất tiếp xúc, vùng tiếp xúc và sự hiện diện của
các yếu tố kích thích [18].
Đã có một số công trình nghiên cứu xác định sự nhạy cảm của dị nguyên
đối với công nhân đang làm việc trong ngành xây dựng ở Brazil từ năm 2000
đến 2005 và họ nhận thấy rằng 4 dị nguyên thường gặp nhất ở những công
nhân xây dựng là: potassium dichromate (57%), carba-mix (34.9%), cobalt

Type III tương ứng với các thương tổn mô gây nên bởi tác động của kháng
thể và bổ thể, đặc biệt thương tổn do lắng đọng phức hợp miễn dịch lên thành
mạch.
Các phản ứng Type I, II và III có thể truyền được cho người nhận bằng
KT của người cho đã mẫn cảm [2] Phản ứng quá mẫn Type IV (quá mẫn

7
muộn) chỉ có thể truyền được bởi tế bào Lympho T của người cho đã được
mẫn cảm và sự thu được chỉ dương tính nếu cơ thể cho và nhận có chung một
hoặc nhiều phân tử của MHC có khả năng trình diện peptide đối với các tế
bào lymphop T đặc hiệu KN. Sự truyền này được bảo đảm bởi lympho TCD4
tương tác với peptide phối hợp các phân tử lớp II của MHC. Chỉ những
lympho Th1 sản xuất IFN( là có liên quan. Viêm da tiếp xúc với xi măng là
một phản ứng quá mẫn muộn tiếp xúc thuộc quá mẫn Type IV.
1.2.2. Định nghĩa quá mẫn muộn
Quá mẫn muộn hay quá mẫn Type IV là do sự sản xuất các cytokine
bởi lympho T đặc hiệu kháng nguyên mà gây nên sự di trú, hoạt hóa và gia
tăng tại chỗ các bạch cầu đơn nhân.
1.2.3. Quá mẫn muộn tiếp xúc
Dạng quá mẫn tiếp xúc được định nghĩa về mặt lâm sàng bởi một phản
ứng chàm ở vị trí tiếp xúc với kháng nguyên, rất thường xảy ra trong dân
chúng. Dạng quá mẫn này thường do các hapten như các kim loại nặng
(chrome, nikel ) và các chất hóa học tự nhiên (cao su) hoặc các chất tổng hợp.
Hapten xâm nhập qua da dưới dạng liên kết ổn định protein của màng
tế bào, đặc biệt ngay ở những tế bào langerhans của biểu bì. Thường nhất
phân tử cảm ứng này là một tiền hapten chuyển hóa thành hapten trong những
tế bào biểu bì. Trong thời kỳ mẫn cảm này những tế bào langerhans di trú đến
da, rồi đến hạch lympho và cuối cùng trở thành tế bào liên ngón trình diện
kháng nguyên để kích ứng sự bành trứng dòng của những tế bào T nhận diện
phức hợp hapten- peptide(đó là một peptide nội sinh hoặc những phân tử của

nhất định sẽ bị bỏng, chứ không thể một người nào đó lại không bị được.
1.3.2. Viêm da tiếp xúc dị ứng (Allergic Contact Dermatitis)
Mặc dù ít xảy ra hơn với viêm da tiếp xúc kích ứng, song viêm da tiếp
xúc dị ứng vẫn là nguyên nhân quan trọng gây rắc rối cho nhiều người. Tuỳ

9
tính chất nghề nghiệp mà con người phải chịu đựng trực tiếp hoặc gián tiếp
tiếp xúc với các tác nhân dị ứng khác nhau. Những nghiên cứu gần đây người
ta nhận thấy rằng các dị nguyên thường gặp nhất ở những công nhân xây
dựng là: potassium dichromate (57%), carba-mix (34.9%), cobalt chloride
(30.2%) và thiuram-mix (27.9%) [18].
Chàm xi măng dị ứng chủ yếu tập trung ở bàn tay và ngón tay, đôi khi
ở bàn chân, cẳng tay, thân hình. Nắng và ấm làm nặng thêm bệnh chàm xi
măng dị ứng. Hiện tượng này đã được cắt nghĩa bởi sự ra mồ hôi nhiều và có
thể dẫn đến làm tăng sự lọc của crom qua da.

10
Bệnh chàm xi măng là bệnh da phổ biến thường gặp và điển hình trong
ngành xây dựng. Mối liên quan giữa chàm xi măng và sự quá mẫn của crom
đã được biết từ năm 1950. Sự nhạy cảm phụ thuộc vào nồng độ crom hóa trị 6
hòa tan trong xi măng, trên 2p.p.m muối crom hòa tan có thể gây mẫn cảm.
Hầu hết người mẫn cảm với crom bị chàm ở tay do dây dính tiếp xúc
với hợp chất của crom và do ảnh hưởng của những kích thích ban đầu như
chất kiềm, chất ăn mòn, xây xước trong quá trình lao động.
Dị ứng crom ở những bệnh nhân chàm xi măng xuất hiện một phản ứng
quá mẫn tiếp xúc thể muộn, hợp chất crom 6 có tính cảm thụ mạnh nhưng bản
thân crom kim loại lại không gây quá mẫn.
Nồng độ của crom trong bê tông và vữa thấp hơn trong xi măng khô 4-
5 lần, bởi vì ở đó có sự khác biệt lớn trong cấu trúc thành phẩm, nồng độ
crom trong xi măng khô nguyên thủy được dùng ở đây như yếu tố phụ gia với

- Các thương tổn dị ứng: Thương tổn cơ bản là các sẩn, mụn nước,
ngứa xuất tiết trên nền đỏ của viêm da, chàm tiếp xúc.
1.4.3. Về cận lâm sàng
- Test da: Viêm da tiếp xúc sẽ được thăm dò bằng cách sử dụng hapten hoặc
KN dưới dạng miếng vá (Patch test) để tìm ban đỏ, ngạnh cứng da, nốt phồng
- Nghiên cứu tế bào và miễn dịch.
- Các test in vitro: Nuôi cấy in vitro tế bào lympho của người quá mẫn
muộn có hiện diện KN để quan sát sự chuyển lymphoblast và sự tăng sinh của
nó. Test ức chế sự di trú bạch cầu để thấy sự hoạt hóa của tế bào T bởi KN
đặc hiệu trình diện bởi các monocyte và sự chế tiết các cytokine ức chế sự di
trú bạch cầu (LIF) [29], [30].

12
CHƢƠNG 2
ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tƣợng nghiên cứu
2.1.1. Đối tượng
Gồm 229 công nhân xây dựng đang lao động tại một số công trường
xây dựng thuộc hai huyện Phú Vang và Hương Thuỷ, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Các đối tượng này được chọn ngẫu nhiên, không phân biệt về giới, có
tuổi đời lớn hơn hoặc bằng 17, có thời gian làm trong nghề xây dựng ít nhất là
3 tuần, có tiếp xúc trực tiếp với xi măng và những sản phẩm từ xi măng để
điều tra và nghiên cứu.
2.1.2. Tiêu chuẩn
Đối tượng được chọn vào nhóm nghiên cứu phải là những công nhân có
tuổi đời lớn hơn hoặc bằng 17, đang lao động tại một số công trường xây
dựng thuộc hai huyện Phú Vang và Hương Thuỷ, tỉnh Thừa Thiên Huế, có
thời gian lao động trong nghề xây dựng ít nhất là ba tuần trở lên.
2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu

+ Cân đánh giá trọng lượng: Bằng cân đo lường có độ chính xác cao,
được cân chỉnh, so sánh với nhiều cân khám sức khoẻ ở nhiều trung tâm chăm
sóc sức khoẻ khác nhau để chọn lựa.
+ Phương pháp cân: Đặt cân ở vị trí cân bằng, đối tượng được cân
không mang bất cứ vật gì như đồng hồ, giầy dép, mũ nón, không mặc áo
khoát Bước lên bàn cân nhẹ nhàng ngay giữa bàn cân. Kết quả được đọc khi
kim báo trọng lượng đã hoàn toàn đứng yên.
+ Đơn vị trọng lượng được tính bằng kg.
2.2.2. Phỏng vấn:
Được thực hiện ngay khi khám và điều tra tại các công trình xây dựng theo
biểu mẫu nghiên cứu. Thời gian phỏng vấn mỗi người khoảng 10 đến 15 phút.
Những mẫu nghiên cứu nào không bảo đảm đầy đủ các thông tin trong biểu

14
mẫu nghiên cứu thì sẽ không được chọn vào nhóm nghiên cứu.
2.2.3. Chẩn đoán
Dựa vào các yếu tố:
- Yếu tố tiếp xúc: Có tiếp xúc trực tiếp với xi măng và những sản phẩm
của xi măng.
- Dựa vào lâm sàng:
( Các thương tổn do kích thích: Có cảm giác ngứa ngáy, bỏng rát hoặc
đau nhức. Thương tổn loét hoặc để lại những di chứng loét (thủng vách ngăn
mũi ) [9].
( Các thương tổn dị ứng: Thương tổn cơ bản là các sẩn, mụn nước,
ngứa xuất tiết trên nền đỏ của viêm da. Nứt rạn da hoặc sừng hóa, thậm chí
có bội nhiễm và lỡ loét.
2.3. Xử lý số liệu
Xử lý số liệu bằng toán học thống kê của phần mềm EPI-INFO phiên bản
6.04 của Trung tâm kiểm soát bệnh tật CDC, Alanta, Hoa Kỳ và EXCEL 7.0.
Tiến hành:

1
1

+ Phương pháp so sánh 2 tỷ lệ bằng Z test:
 
 











21
0
21
11
1
nn
pp
pp
Z
o

n: cỡ mẫu


SLượng
Tỉ lệ
H.Thuỷ
P.Vang
Khác
229
35,4
202
88,21
27
11,79
54
102
73
Nhận xét: Hầu hết công nhân xây dựng tại các công trường thuộc hai huyện
Phú Vang và Hương Thuỷ là nam giới, có độ tuổi trung bình là 35,4 tuổi, lớn
nhất là 56 tuổi, nhỏ nhất là 17 tuổi. Gần 50% công nhân sống ở Phú Vang,
25% sống ở Hương Thuỷ và còn lại sống ven thành phố Huế.

16
3.1.2. Tỉ lệ mắc bệnh chung và theo giới
Bảng 3.2. Tỉ lệ mắc bệnh chung và theo giới
Số CN điều tra
CN nam
CN nữ
SL
VDTX
Tỉ lệ%
SL
VDTX

Khác
229
10,86
60
50
119
Nhận xét: Thời gian lao động trung bình trong lĩnh vực xây dựng của nhóm
nghiên cứu là 10,86 năm. Trong đó nghề nông, nghề làm thuê và học sinh là
ba nghề chính trước khi họ bước vào làm nghề xây dựng.
3.1.4. Tỉ lệ mắc bệnh theo tuổi
Bảng 3.4. Tỉ lệ mắc bệnh theo tuổi

18
Độ tuổi (năm)
Số lượng
Tỉ lệ %
Viêm da tiếp xúc
Số lượng
Tỉ lệ %
17-35
108
47,2
23
21,30
36-45
83
36,2
11
13,25
46-56

cơ thể trung bình trước lúc vào nghề giữa hai nhóm có VDTX và không
VDTX khá tương đương nhau nhưng sau một thời gian lao động trung bình
khoảng 10 năm trong lĩnh vực xây dựng trọng lượng cơ thể trung bình của
nhóm VDTX kém hơn nhóm không VDTX khoảng 1,3 kg.
3.1.6. Tỉ lệ VDTX theo thời gian kích ứng và tình trạng xây xước
Bảng 3.6. Tỉ lệ VDTX theo thời gian kích ứng và tình trạng xây xước
Th.g khởi phát VDTX
Số BN
Tỉ lệ %
Số BN có xây
xước
Tỉ lệ %
( 3 tuần
26
59,09
24
92,30
3 tuần - 1 năm
15
34,09
10
66,70

19
( 1 năm
3
6,82
1
33,30
Tổng cộng

9
8,74
Tổng cộng
229
44
19,21
Nhận xét: Tình trạng xây xước càng nhiều thì tỉ lệ VDTX càng cao. Xây xước
nhiều tỉ lệ VDTX khoảng 39%, xây xước ít tỉ lệ VDTX khoảng 26%. Tuy
nhiên không xây xước tỉ lệ VDTX vẫn còn khoảng 9%.
3.1.8. Tỉ lệ VDTX và nghề nhiệp trước đó
Bảng 3.8. Tỉ lệ VDTX và nghề nghiệp trước đó
Nghề trước đây
Viêm da tiếp xúc
Số lượng
Tỉ lệ %
Nông (n(60)
17
28,30

20
Khác (n(169)
27
15,98
Nhận xét:
28,3% bệnh nhân VDTX có nghề trước khi vào làm công nhân xây
dựng là làm nông và khoảng 16% bệnh nhân VDTX là làm thuê, lái xe ôm,
học sinh
3.1.9. Mối liên hệ giữa VDTX và bảo hộ lao động bằng găng tay
Bảng 3.9. Mối liên hệ giữa VDTX và bảo hộ lao động bằng găng tay
VDTX

VDTX
TSgđ có bệnh QM type I
TSgđ không có bệnh QM type I

Số lượng
Tỉ lệ %
Số lượng
Tỉ lệ %

4
9,10
40
90,90
44
Không
5
2,70
180
97,30
185

9

220

229
Nhận xét: Chưa thấy có mối liên quan giữa VDTX với tiền sử gia đình có mắc
các bệnh quá mẫn type I với p ( 0,01.

21

3.3. Vị trí và các triệu chứng thƣờng gặp của VDTX với xi măng
3.3.1. Vị trí thường gặp của VDTX với xi măng

Bảng 3.13. Vị trí thường gặp của VDTX với xi măng
Vị trí
Số lượng BN(n(44)
Tỉ lệ %
Đầu các ngón tay và gan tay
44
100
Mu tay
16
36,40
Cẳng tay
8
18,20
Bàn chân
6
13,60

Nhận xét:
VDTX tập trung ở đầu các ngón tay và gan tay là chủ yếu, chiếm 100 %
các trường hợp. Tiếp đến là sự phối hợp giữa đầu các ngón tay, gan tay và mu
tay chiếm 36,4%. Ít hơn là sự phối hợp với cẳng tay hoặc bàn chân, chiếm tỉ
lệ từ 13,6 đến 18,2%. 22

Biểu đồ 3.3: Các vị trí thường gặp của VDTX xi măng

3.4. VDTX và yếu tố làm dễ, yếu tố kích ứng
3.4.1. VDTX và yếu tố làm dễ
Bảng 3.15. VDTX và yếu tố làm dễ
VDTX
Ánh nắng
Xây xước
Số lượng
Tỉ lệ %
Số lượng
Tỉ lệ %
44
12
27,30
35
79,50
Nhận xét: Khoảng 27% bệnh nhân VDTX có sự kích ứng của ánh sáng và
80% bệnh nhân có xây xước trong quá trình lao động.

24
3.4.2. VDTX và yếu tố kích ứng
Bảng 3.16. Loại xi măng đã tiếp xúc và cảm thấy kích ứng VDTX với xi măng
Loại xi măng
Số CN VDDƯ đã tiếp xúc
Số CN VDDƯ nhận thấy rõ
loại xi măng kích ứng VDTX
Số lượng
Tỉ lệ %
Số lượng
Tỉ lệ %
Kim Đỉnh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status