Chöông I
Nguyeân lieäu
I. Bắp cải
1. Đặc tính sinh học
Tên tiếng Anh: Head cabbage
Tên khoa học: Brassica oleracea L.var. capitata
Giới (regnum): Plantae
Ngành (divisio): Magnoliophita
Lớp (class): Magnoliopsida
Bộ (ordo): Brassicales Hình : Bắp cải
Họ thập tự: Crucifereae
Cải bắp là loại rau chủ lực trong họ Thập tự, trồng trong vụ Đông Xuân ở
các tỉnh phía Bắc, miền Trung và Tây Nguyên.
Cải bắp là cây hai năm: năm thứ nhất sinh trưởng thân lá, năm sau qua giai
đoạn xuân hóa, sau đó mới ra hoa, kết quả. Cải bắp được sử dụng làm thực phẩm
khi ở giai đoạn sinh trưởng thân lá.
Hình :
Các loại
bắp cải
Cải bắp thuộc nhóm rau có nguồn gốc ôn đới tây bắc Châu Âu, nhiệt độ
xuân hóa (nhiệt độ cần thiết để phân hóa mầm hoa) là 1-10
o
C trong khoảng 15-
30 ngày. Do vậy, trong quá trình sinh trưởng, khi gặp điều kiện này, cây sẽ ra hoa
kết quả ngay ở năm đầu.
Cải bắp có chỉ số diện tích lá cao, hệ số sử dụng nước rất lớn nhưng có bộ
rễ chùm phát triển nên chòu hạn và chòu nước hơn su hào và su lơ.
Đặc biệt ở cải bắp, khả năng phục hồi lá khá cao. Khi cắt 25% diện tích bề
mặt lá ở giai đoạn trước cuốn bắp, năng suất vẫn đạt 97-98% so với không cắt.
Ở nước ta, cải bắp được du nhập và được trồng từ thời Pháp thuộc và ngày
càng được mở rộng diện tích do nhập nhiều giống đã được nhiệt đới hóa (chòu
+ Vụ muộn: gieo tháng 11, trồng vào giữa tháng 12 để thu hoạch vào tháng
2-3 năm sau.
Tuổi cây giống từ 20 - 30 ngày (4 đến 6 lá thật) là thời điểm trồng tốt nhất.
c/ Làm đất, bón phân lót:
Luống cải bắp rộng từ 1 - 1,2 m, cao 15-20 cm, rãnh luống 20 - 25 cm. Vụ
sớm lên luống mai rùa cao đề phòng mưa; vụ chính và vụ muộn, làm luống
phẳng.
Bón lót cho 1 ha 20-39 tấn phân chuồng hoai mục (thời gian ủ trước khi bón
ít nhất 3 tháng; mỗi tấn phân tươi khi ủ rắc thêm 20kg vôi bột và 25kg supe lân).
Nếu có lân hữu cơ vi sinh, cần bón 250 - 300 kg/ha. Với lượng này có thể rút
lượng phân chuồng còn 15 - 20 tấn/ha.
Để đạt năng suất cao và giữ hàm lượng nitrat dưới 500 mg/kg, cần bón mỗi
ha 120-150 kg Nitơ trong vụ sớm (260-325 kg urê), 150-180 kg Nitơ trong vụ
chính và vụ muộn 260-390 kg urê.
Nếu sử dụng lân hữu cơ vi sinh, cần bón thêm 60kg P
2
O
5
(300kg lân),
ngược lại bón 90kg P
2
O
5
(hay 180kg lân).
Lượng Kali cần thiết cho mỗi ha là 120 kg K
2
O. Tốt nhất nên dùng dạng
kali sulfat.
Cách bón:
Bón lót toàn bộ phân chuồng, lân hữu cơ vi sinh, 1/2 Kali, 1/4 đạm. Có hai
xen cà chua với tỷ lệ: cứ 2 luống cải bắp lại trồng 1 luống cà chua. Hình thức này
làm giảm rõ rệt mật độ sâu tơ.
e/ Bảo vệ thực vật:
Cải bắp thường bò các loại sâu như sâu tơ, sâu xám, rệp rau, bọ nhảy phá
hoại suốt từ lúc còn ở vườn ươm cho đến khi thu hoạch.
Những bệnh hay gặp ở cải bắp là bệnh chết thắt cổ rễ cây giống, bệnh vi
khuẩn hại bó mạch dẫn, bệnh thối nõn khi cải vào chắc.
Phòng trừ bệnh bằng cách vệ sinh đồng ruộng, cày lật đất sớm để tiêu diệt
nguồn sâu non, nhộng của sâu khoang, sâu xám, sâu xanh, … Luân canh với lúa
nước ở vùng rau: 2 vụ lúa + 1 vụ rau, với hành, tỏi, đậu tương ở vùng chuyên canh
rau màu.
Thường xuyên quan sát đồng ruộng, phát hiện, bắt giết sâu xám đầu vụ,
ngắt ổ trứng và ổ sâu non của sâu khoang, nhổ bỏ kòp thời cây bò héo, nhũn. Chỉ
phun thuốc khi mật độ sâu non lên trung bình 2 con/cây ở giai đoạn 2 – 3 tuần sau
trồng, 3 con trở lên ở giai đoạn 4 – 7 tuần sau khi trồng. Không phun thuốc đặc
hiệu trò sâu tơ khi sâu chưa xuất hiện ở các ngưỡng trên.
Phun luân phiên thay đổi thuốc thuộc các nhóm hoạt chất khác nhau và
không dùng bất cứ loại thuốc nào quá 2 lần trong một tháng.
Giai đoạn sớm trước 50 ngày sau khi trồng dùng chủ yếu thuốc nội hấp lưu
dẫn. Giai đoạn sau dùng các loại có tác dụng xông hơi, tiếp xúc nhanh phân giải
và thuốc vi sinh.
Ngưng phun thuốc ít nhất 20 ngày trước khi thu hoạch.
Sử dụng thuốc phải đúng liều lượng khuyến cáo, phun kỹ, ướt đều 2 mặt lá.
Xử lý hạt bằng nước nóng 50
o
C trong 15-20 phút, ở ngoài đồng có thể bón
thuốc hạt Oncol 50G vào gốc cây để tiêu diệt sâu gốc, dùng dung dòch boocdo
1/120 - 1/150 để phun lên cây.
Phòng trừ một số bệnh chính: (dùng cho bình 8 lít nước)
+ Bệnh đốm cháy lá và thối nhũn vi khuẩn: phun Funguran 20g, Score
có chứa glycoside là chất gây vò đắng. Đây là chất kháng sinh giúp cây chống
chòu với sâu bệnh, cũng là chất tạo ra goitrogen gây phình to tuyến giáp hay bệnh
bướu cổ. Goitrogen có thể bò mất khi chần, nấu.
Bảng 1: Thành phần dinh dưỡng của cải bắp
Cải bắp trắng Cải bắp đỏ
Tỉ lệ thải bỏ (%)
Năng lượng (kcal)
10
29
90
1.8
-
5.4
1.6
1.2
48
31
1.1
-
280
0.06
0.05
0.4
30
22
45
84
1.9
0.2
9.0
Bảng 2: Hàm lượng các chất khoáng và vi khoáng trong bắp cải
Thành phần Cải bắp trắng Cải bắp đỏ
Chất khoáng (mg/100g)
Na 48,2 11
K 560,5 269
Ca 48 83
P 31 42
Mg 13 12
Fe 1,1 0,5
Zn
Co
0,32
-
0,43
-
Cu 0,03 0,09
Mn 0,23 0,24
S 54 57
I (mcg/100g) 2.0 < 1
Se (mcg/100g) 2.3 1
Bảng 3: Hàm lượng các acid amin trong 100g bắp cải
II.
Thành phần Cải bắp trắng (mg) Cải bắp đỏ (mg)
Lysin 53 59
Methionin 18 20
Tryptophan 18 20
Phenylalanin 51 57
Threonin 64 71
Valin 72 80
Leucin 90 101
Trước đây, các giống cải bẹ truyền thống ở nước ta phần lớn được gieo
trồng trong vụ đông. Điều đó làm cho giá trò thương phẩm chưa cao do sản phẩm
thu hoạch rộ nhiều trong cùng thời gian. Việc chọn tạo giống cải bẹ có thể gieo
trồng trong điều kiện xuân hè vừa làm tăng chủng loại rau trái vụ, vừa tạo điều
kiện mở rộng diện tích ra các tỉnh phía nam vốn rất thiếu rau lại tăng giá trò
thương phẩm của sản phẩm rau xanh.
Từ quần thể cải bẹ nhập từ Vân Nam - Trung Quốc, Viện nghiên cứu rau
quả đã tiến hành chọn lọc theo phương pháp "chọn hỗn hợp" tại khu thí nghiệm,
trên đất phù sa cổ trong đê không được bồi hàng năm. Qua thực nghiệm đạt kế
hoạch tốt tại viện và các tỉnh: Hà Tây, Vónh Phúc, Bắc Giang cùng một loạt các
thí nghiệm khác nhằm hoàn thiện thêm quy trình kỹ thuật sản xuất để tạo ra
những giống cải mới có thể trồng được quanh năm.
b. Cách chăm sóc:
- Thời vụ gieo trồng cải bẹ: Cải bẹ là cây rau ăn lá ngắn ngày nên có thể
trồng quanh năm, nhưng thời gian trồng tốt nhất là vào vụ Đông Xuân và vụ Hè
Thu. Gieo hạt vào tháng 8, tháng 9, tháng 10. Trồng ra ruộng vào tháng 9, 10 và
11. Tuổi cây giống (cây con) khoảng 30-35 ngày (có 4-5 lá thật). Để trồng 1ha
cần 350-400g hạt. Mỗi mét vuông vườn ươm gieo khoảng 2-2,5g hạt giống.
- Làm đất, bón lót và trồng: Trồng trên đất cát pha với pH từ 5,5 – 6,8,
làm luống rộng 1,2-1,5m; trồng 3 hàng kiểu nanh sấu trên luống. Trồng theo hốc.
Bổ hốc trồng trên mặt luống sâu 12-15cm và cách nhau 40-50cm một hốc để có
khoảng 32-45 ngàn cây trên 1 hecta (1.152-1.620 cây/sào Bắc Bộ).
Bón lót cho 1 ha cải bẹ như sau:
Phân chuồng: 15-20 tấn
Phân đạm urê: 20-25kg
Phân lân supe: 120-150kg
Phân kali: 30kg
Tất cả các loại phân này được trộn đều và bón trực tiếp vào hốc, đảo
đều đất rồi đặt cây giống vào. Chú ý đặt cây giống nằm ở thế tự nhiên, sau đó lấp
đất, ấn nhẹ đất quanh gốc rồi san bằng mặt luống.
) dẫn dụ bọ nhảy rồi phun thuốc tiêu diệt.
Sử dụng giống chống chòu:sử dụng các giống có khả năng chống chòu với
các bênh hại nguy hiểm như bânhj vàng lá vi khuẩn, bệnh sương mai, héo vàng,
thối nhũn…
Biện pháp thủ công: ngắt ổ trứng chưa hoặc mới nở của sâu khoang, sâu
róm…Sử dụng bẫy dính màu vàng, bẫy Pheromone để dẫn dụ và tiêu diệt sâu tơ,
sâu khoang, bọ nhảy, rệp, sâu xanh, bướm trắng.
Biện pháp sinh học: bảo vệ thiên đòch của sâu hại rau, điển hình như ong
ký sinh sâu tơ Cotesia plutellae, dòi ăn rệp Episyrphus balteatus, bọ cánh cứng
cánh ngắn Paderus tamelus ăn sâu tư, bọ rùa đỏ Micraspis discolor ăn rệp và sâu
tơ…Nhân nuôi và thả những loại ký sinh nhằm điều hòa số lượng sâu hại nguy
hiểm như ong ký sinh Diadegma semiclausum trên sâu tơ…Sử dụng thuốctrwf sâu
bệnh có nguồn gốc sinh học và thuốc thảo mộc ở thời kỳ đầu vụ như Bt( var.
kurstaki, var. aizawai…) Azadirachtin 9 từ cây Neem) Retonone (từ cây Derris sp)
…được dùng phòng trừ, xua đuổi và gây ngán nhiều loại sâu hại trên rau thập tự,
dặc biệt là sâu tơ.
Biện pháp hóa học: xử lý cây con, hạt giống trước khi gieo trồng để hạn
chế một số sâu bệnh ngay từ đầu vụ (Oxolinic acid + metalaxyl + Fipronil + phụ
gia hoặc nhúng phần thân lá cây con rau thập tự trong dung dòch Bt + Fipronil
trong 5 giây, để khô trước khi trồng). Chỉ phun thuốc khi sâu đạt đến ngưỡng kinh
tế. tăng cường sử dụng các loại thuốc sinh học, thảo mộc, thuốc có nguồn gốc tự
nhiên. Luân chuyển các thuốc có cơ chế tác động khác nhau: trừ sâu tơ
(SpinosadAbamectin)/Fipronil/Bt/Diafenthiuron/Indoxacarb/