GIÁO TRÌNH QUAN TRẮC VÀ KHẢO SÁT
PHẦN I
PHƯƠNG PHÁP LUẬN VỀ GIÁM SÁT (MONITORING)
CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG
CHƯƠNG 1. CHIẾN LƯỢC GIÁM SÁT MÔI TRƯỜNG
1.1. MỤC TIÊU GIÁM SÁT
Việc thu thập thông tin về sự tồn tại và nồng độ các chất trong môi trường phát
sinh ra từ nguồn thiên nhiên hay nhân tạo phải được thực hiện bằng đo lường các
chất đó. Nhưng các phép đo lường đơn (đo lường một lần) hoặc cách quãng thời
gian một chất nào đó thì chưa đủ giá trị để có thể đưa ra các phân bố không gian
và thời gian. Hơn thế nữa, sự giám sát (monitoring) các thông số môi trường cũng
tương tự như các phép đo trong một số ngành là sự đo đạc hay quan trắc nhắc lại
các phép đo thực hiện với mật độ mẫu đủ dày, về cả không gian và thời gian để từ
đó có thể thực hiện được đánh giá có hiệu quả các biến đổi và xu thế. Giám sát
môi trường là phức hợp các biện pháp khoa học công nghệ và tổ chức nhằm bảo
đảm thu nhận được các thông tin mức độ hiện trạng hay xu thế biến đổi các chất ô
nhiễm phát thải vào môi trường hay nhiễm vào các cơ thể sống của hệ sinh thái
trên mặt đất. Hay nói một cách khác giám sát được lập kế hoạch để kiểm soát môi
trường một cách có hệ thống trạng thái và xu thế phát triển của các quá trình tự
nhiên trong đó có bàn tay của con người. Do vậy, thuật ngữ giám sát chất lượng
môi trường, ở đây cần được hiểu là quan trắc, đo lường, ghi nhận một cách thường
xuyên, liên tục và đồng bộ chất lượng môi trường và các yếu tố có liên quan đến
chúng.
Theo UNEP, giám sát môi trường có thể được tiến hành để nhằm một số mục tiêu
sau đây:
(1) Để đánh giá các hậu quả ô nhiễm đến sức khỏe và môi trường sống của con
người, như vậy sẽ xác định được mối quan hệ nguyên nhân và hậu quả của nồng
độ chất ô nhiễm, ví dụ như giữa sức khỏe và biến đổi khí hậu.
(2) Để đảm bảo an toàn việc sử dụng tài nguyên (không khí, nước, đất, sinh thái
…) vào các mục đích kinh tế.
(3) Để thu được các số liệu hệ thống dưới dạng điều tra cơ bản (hay còn gọi là đo
Hình 1.1. Sơ đồ giới thiệu các bước thiết kế chương trình giám sát môi trường
Mục tiêu
Thông số giám sát
Phương pháp lấy mẫu
Lựa chọn thiết bị
Kỹ thuật phân tích
như tổ chức thực hiện chương trình giám sát liên quan đến nhân sự, trách nhiệm và
vấn đề tài chính v.v.
Tóm lại, một thiết kế chương trình giám sát phải bao gồm các tiêu đề sau:
(1) Chiến lược giám sát.
(2) Mạng lưới giám sát bao gồm cả hệ thống điểm đo, thông số đo và phân tích,
việc sử dụng các tiêu chuẩn v.v.
(3) Hình thức trình bày và thể hiện kết quả.
(4) Hệ thống tổ chức về nhân lực và vật lực của từng công đoạn trong toàn bộ hệ
thống.
(5) Kế hoạch chi phí – hiệu quả.
(6) Phân tích rủi ro (nếu có).
Quản lý môi trường
Yêu cầu về thông tin
Chiến lược giám sát
Thu thập mẫu
Phân tích trong phòng
thí nghiệm
Sử dụng thông tin
Thiết kế mạng lưới
Xử lý số liệu
Báo cáo
Phân tích số liệu
Hình 1.3. Sơ đồ giới thiệu các hoạt động của vòng giám sát và đánh giá
chất lượng môi trường
1.2. THỂ LOẠI GIÁM SÁT
Các nguồn gốc phát thải ô nhiễm có thể do hoạt động con người hoặc có thể do
nguyên tố có chu kỳ bán phân hủy lớn.
Mục tiêu giám sát chất lượng môi trường bao gồm sáu mục tiêu như đã trình bày ở
phần mục tiêu chiến lược giám sát môi trường. Nhưng mục đích các xem xét khi
thiết kế mạng lưới giám sát bao giờ cũng phải đảm bảo các kết quả đo lường đưa
ra chính xác. Có nghĩa là các mẫu phải là đại diện cho các điều kiện chủ đạo của
môi trường về thời gian và không gian. Như vậy, không chỉ không gian chọn đo
đạc mà còn cả vị trí lấy mẫu tại không gian đã lựa chọn cũng có tầm quan trọng.
Để phục vụ mục tiêu đã lựa chọn của cả hệ thống giám sát, sự lựa chọn một mạng
lưới vị trí đo đặc thù, việc xác định thể loại giám sát, sự xác định không gian địa lý
nơi sẽ đặt vị trí điểm đo và cuối cùng là vị trí sẽ lấy mẫu hoặc đo đạc đòi hỏi phải
được kiểm tra qua bốn bước:
(1) Xác định mục đích phục vụ hệ thống lưới trạm giám sát.
(2) Xác định thể loại giám sát tốt nhất để đáp ứng mục tiêu.
(3) Xác định vị trí tổng thể để đặt vị trí điểm đo.
(4) Xác định lưới giám sát cụ thể.
Như vậy, chọn số lượng vị trí điểm đo đạc trong một hệ thống trạm đo đạc phụ
thuộc rất nhiều vào các thông số đo đạc và vào mục tiêu đo đạc. Ví dụ, để đo đạc
được chất lượng không khí (cho thông số SO
2
và khói) tại Liên hiệp Anh, người ta
đã phải dùng một hệ thống bao gồm 1.200 trạm, mặc dù cho đến nay con số này đã
được giảm đi nhiều. Khi hệ thống trạm bao gồm quá ít số lượng trạm thì các vận
chuyển chất thải thông qua các điều kiện thủy văn và khí tượng xảy ra ở giữa các
trạm sẽ không được thể hiện ở dãy số liệu của hệ thống trạm và như vậy hệ thống
trạm đó sẽ không phục vụ được mục tiêu đặt ra là hệ thống giám sát chất lượng
môi trường.
1.2.2.1. Giám sát chất lượng không khí
Các vấn đề ô nhiễm không khí biến động rất lớn từ vùng này sang vùng khác và từ
chất thải khí này sang chất khác. Sự khác nhau về địa hình, khí hậu, đặc thù nguồn
thải, bản chất nguồn thải, các qui chế hành chính và luật pháp khiến cho chương
C. Hệ thống trạm giám sát phạm vi vùng và Quốc tế
Các trạm này được thiết lập với mục đích theo dõi dài hạn các biến đổi ô nhiễm
nền trong phạm vi Quốc tế. Loại trạm này được đặt ở vùng xa xôi hoặc vùng
không có ảnh hưởng trực tiếp của nguồn thải. Đại diện cho hạng trạm này là của
Hệ thóng trạm giám sát ô nhiễm nền không khí (Background Air Pollution
Monitoring Network – BAPMoN) và của Hệ thống trạm giám sát môi trường
không khí toàn cầu (Global Environmental Monitoring System/ Air –
GEMS/AIR).
1.2.2.2. Giám sát chất lượng nước
Các chất ô nhiễm trong môi trường nước luôn luôn biến đổi cả về chất lẫn về
lượng. Trong môi trường không khí chúng biến đổi chủ yếu là do hai quá trình cơ
học như ngưng tụ, lắng đọng và quá trình hóa học dưới tác động của các yếu tố vật
lý và hóa học như nhiệt độ, độ ẩm và bức xạ Mặt trời. Trong môi trường nước, quá
trình biến đổi của các chất phức tạp hơn nhiều. Ngoài các quá trình biến đổi dưới
tác dụng của các nhân tố vật lý và hóa học còn có biến đổi do các sinh vật gây ra
mà sự biến đổi này của các chất ô nhiễm lại phụ thuộc vào các yếu tố khác ví dụ
như nhiệt độ nước. Người ta thấy rằng, quá trình phân hủy dầu và các sản phẩm
dầu do sinh vật sẽ tăng cường độ lên khoảng hai lần khi nhiệt độ nước tăng lên
10
o
C. Quá trình biến đổi các chất trong môi trường nước có thể xảy ra theo hai
chiều ngược nhau tùy theo các điều kiện cụ thể.
Ô nhiễm nước bắt nguồn từ các chất ô nhiễm khí, ô nhiễm đất và trực tiếp từ các
nguồn thải lỏng (đô thị, công, nông nghiệp). Các hậu quả của ô nhiễm nước sẽ dẫn
đến:
Kích thích sự phát triển của thủy thực vật dẫn đến phú dưỡng mà hậu quả của
nó là dẫn đến sự phân hủy oxy sẽ mang lại sự thay đổi về sinh thái nước.
Các hậu quả trực tiếp hay gián tiếp về độc chất đến thủy sinh vật.
Làm biến mất giá trị thực tiễn của nước.
Giám sát chất lượng nước thiên nhiên có thể phục vụ cho mục đích sau:
LƯỢNG MÔI TRƯỜNG
1.3.1. Đặt vấn đề
Sự lựa chọn số lượng trạm (vị trí điểm đo) trong một chương trình giám sát phụ
thuộc chủ yếu vào mục tiêu của chiến lược giám sát và các thông số dự kiến đo
lường. Sự lựa chọn các mục tiêu phụ thuộc vào mục đích chức năng và nhiệm vụ
mà cơ quan quản lý trực tiếp yêu cầu và đòi hỏi mà bốn bước như đã liệt kê ở trên
là các bước căn bản để thiết kế một hệ thống giám sát.
Một trong những mục tiêu chính của hệ thống trạm giám sát chất lượng môi
trường là theo dõi xu thế dài hạn (theo mùa hoặc theo năm) chất lượng các thành
phần chủ yếu của môi trường (nước và không khí). Do đó, để đánh giá được xu thế
biến đổi dài hạn này, việc so sánh số liệu từ trạm này sang trạm khác là rất quan
trọng. Phục vụ tiêu chí số liệu hay kết quả đo lường này, kỹ thuật đo lường và vị
trí điểm đo đều mang tính quan trọng như nhau. Mặc dù rất khó khăn trong việc
tìm được đúng vị trí cần giám sát đáp ứng được mọi yêu cầu đảm bảo về kinh tế và
kỹ thuật, nhưng việc đưa ra một qui phạm hay còn gọi như là các tiêu chí để đặt vị
trí trạm là cần thiết.
1.3.2. Nguyên tắc chung để thiết lập một hệ thống giám sát chất lượng môi
trường
Giám sát chất lượng môi trường bao giờ cũng kéo theo nhiều chi phí về thời gian,
tiền của và nhân lực. Nhưng do tầm quan trọng của nó (vì đã xảy ra nhiều thảm
họa môi trường) nên việc giám sát cần phải được lập kế hoạch rất cẩn thận, trong
đó có hai vấn đề rất đáng quan tâm là thiết lập mục tiêu giám sát và kế hoạch sử
dụng số liệu giám sát.
Để có thể thiết lập một hệ thống giám sát, người ta cần phải giải đáp những vấn đề
lớn sau đây:
(1) Mục tiêu giám sát và kế hoạch sử dụng số liệu giám sát.
(2) Số lượng và vị trí mạng lưới đo đạc và lấy mẫu. Thể loại chất ô nhiễm cần phải
đo đạc và lấy mẫu. Xử lý số liệu đã đo đạc và phân tích (kết quả giám sát) bằng
giá trị nào (cực đại, trung bình hay cả hai) của từng vị trí đo đạc và lấy mẫu.
Tần suất, độ dài chu kỳ lấy mẫu.
(3) Khả năng về sự thành thạo của nhân viên.
(4) Lưu trữ số liệu.
1.3.3. Một số phân loại hệ thống giám sát chất lượng môi trường
Hệ thống giám sát chất lượng môi trường bao gổm vị trí giám sát, đo đạc, lấy mẫu
(mạng lưới trạm giám sát), các phương tiện kỹ thuật (nhà xưởng, máy móc thiết bị
đo đạc, phân tích và các phòng thí nghiệm) và nhân lực để vận hành, giám sát đo
đạc, xử lý, phân tích, thông tin và phục vụ báo cáo chất lượng môi trường. Nó là
công cụ cơ bản để kiểm soát chất lượng và ô nhiễm môi trường và là cơ sở để
quản lý và phát triển hệ thống giám sát môi trường.
Dựa vào qui mô không gian người ta phân các hệ thống trạm giám sát môi trường
thành các hệ thống sau:
Qui mô địa phương: có các hệ thống giám sát môi trường của một tỉnh, một
thành phố, thậm chí của một nhà máy hoặc khu công nghiệp (Local
Environmental Monitoring System).
Qui mô quốc gia: hệ thống giám sát môi trường Quốc gia (National
Environmental Monitoring System).
Qui mô khu vực (vùng): hệ thống giám sát môi trường cho một vùng có diện
tích rộng lớn ví dụ như mạng lưới lắng axit vùng Đông Á.
Qui mô toàn cầu: có hệ thống giám sát môi trường toàn cầu (Global
Environmental Monitoring System - GEMS).
Phổ biến nhất trên thế giới hiện nay là tổ chức hệ thống giám sát theo thành phần
của môi trường. Hệ thống GEMS thực hiện giám sát theo thành phần của môi
trường bao gồm:
Hệ thống giám sát chất lượng nước mặt.
Hệ thống giám sát chất lượng nước ngầm.
Hệ thống giám sát chất lượng đất.
Hệ thống giám sát chất lượng không khí.
Hệ thống giám sát môi trường biển.
Ngoài ra, dựa vào tính chất, qui mô của trang thiết bị người ta còn phân loại các
trạm giám sát môi trường thành các trạm liên tục hay gián đoạn, trạm cố định hay
- Tức thời.
1.4.2. Lấy mẫu nước
Đối với môi trường nước, không có hệ thống lấy mẫu đặc thù do mức độ quan tâm
về chất lượng môi trường nước rất khác nhau. Một qui định rất chung cho việc lấy
mẫu nước là sao cho thể tích mẫu phải đủ nhỏ để vận chuyển được và phải đủ lớn
để mẫu có thể đại diện cho khu vực lấy mẫu. Thông thường thể tích mẫu dao động
từ 500 – 1.000 ml là vừa. Trên một mặt cắt người ta có thể lấy mẫu theo chiều
rộng và chiều sâu. Đối với mẫu lấy theo chiều sâu việc lấy mẫu phức tạp hơn. Có
hai loại thiết bị để lấy mẫu, một loại thiết bị để lấy mẫu chất lượng nước và loại
thứ hai sử dụng để lấy mẫu cho các chất vết như kim loại nặng. Các bộ phận của
thiết bị được thiết kế sao cho mẫu lấy được không bị ảnh hưởng của các tầng nước
khác nhau và không bị ảnh hưởng của chính thiết bị lấy mẫu. Các thiết bị lấy mẫu
tầng sâu luôn phải kèm theo thiết bị đo áp lực nước. Ngoài các thiết bị lấy mẫu
đơn lẻ này ra còn có thiết bị lấy mẫu tự động theo trình tự đã được đặt trước (lấy
mẫu tự động).
1.5. ĐIỀU KIỆN TIÊN QUYẾT ĐỂ THIẾT KẾ CHƯƠNG TRÌNH GIÁM
SÁT CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG
Sau khi đã thiết lập mục tiêu và thể loại giám sát chất lượng môi trường, trong
thiết kế chương trình giám sát luôn phải xem xét các khía cạnh khác đặc biệt quan
trọng mà nó được xem như các điều kiện quyết định để lựa chọn vị trí cũng như
các thông số đo đạc. Đó là các điều kiện tự nhiên về địa hình, khí hậu, chế độ dòng
chảy cũng như các điều kiện kinh tế hay nói một cách khác là các nguồn thải gia
nhập là thay đổi chất lượng môi trường.
Một số vấn đề sau cần phải xem xét kỹ khi triển khai thiết kế hệ thổng trạm, bao
gồm:
(1) Thu thập và xử lý số liệu khí tượng, thủy hải văn có sẵn từ các trạm.
(2) Thu thập và xử lý các số liệu thải.
(3) Thu thập và phân tích điều kiện về cơ sở vật chất cho giám sát môi trường hiện
có.
(4) Dự kiến chất lượng môi trường sẽ giám sát thông qua các nồng độ chất ô
hoạt động kinh tế có liên quan đến tiêu thụ nguyên nhiên liệu hóa thạch, tương tự
cho thải nước các đặc thù công nghiệp lại là công nghiệp thực phẩm, dệt, háo chất
v.v. Dựa vào các nguồn thải gia nhập này, người ta có thể dự kiến các vị trí giám
sát và các thông số đo lường. Hai là đo lường thử nghiệm các thông số dự kiến để
có một khái niệm tổng hợp giữa nguồn thải và ô nhiễm nền môi trường từ đó vị trí
giám sát và thông số đo lường cũng như chế độ đo và kỹ thuật đo được diễn giải
một cách hợp lý.
1.6. THU THẬP XỬ LÝ VÀ BIỂU DIỄN KẾT QUẢ
1.6.1. Yêu cầu khoa học của số liệu giám sát môi trường
Nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của công tác giám sát chất lượng mà nước ta đôi
khi còn gọi là công tác điều tra cơ bản môi trường không khí và nước là thu thập
các thông tin chất lượng về môi trường không khí, nước và các thông tin khác có
liên quan để phục vụ cho các mục đích sau đây:
Đánh giá hiện trạng môi trường trong toàn lãnh thổ đang diễn ra giám sát, đặc
biệt là các khu vực quan trọng về kinh tế và xã hội.
Xác định xu thế biến đổi chất lượng môi trường nhằm tìm ra các phương án
hạn chế các diễn biến bất lợi.
Dự báo và cảnh báo xu thế giảm sút hoặc cải thiện chất lượng môi trường
không khí và nước.
Cung cấp các số liệu về chất lượng môi trường không khí và nước cho các nhà
lãnh đạo và quản lý để lập kế hoạch và chính sách phát triển bền vững v.v.
Chất lượng của số liệu về môi trường được đánh giá bằng khả năng tiếp cận với
các mục tiêu nói trên, số liệu chất lượng môi trường phải bảo đảm các thuộc tính
cơ bản dưới đây.
1.6.2. Độ chính xác của số liệu
Độ chính xác của số liệu được đánh giá bằng khả năng tương đồng giữa số liệu và
hiện thực. Sự sai khác nhau này càng ít càng tốt. Để đạt được độ chính xác cao,
trong công tác mạng lưới cần phải giải quyết một loạt các vấn đề khác nhau như
trang thiết bị, giám sát, thu thập, bảo quản mẫu, quy trình, quy phạm, trình độ và
khả năng thành thạo của người giám sát và phương pháp phân tích.
toàn khu vực, chỉ có khả năng đo ở một số điểm nhất định mà chúng ta gọi là các
trạm giám sát môi trường (gọi tắt là trạm). Vì vậy mỗi trạm phải đặc trưng cho
một khu vực nhất định. Muốn vậy trong toàn bộ khu vực mà trạm làm đại diện,
các yếu tố môi trường giữa điểm này với điểm kia khác nhau không nhiều.
Vấn đề là tìm ra một mạng lưới với số trạm là ít nhất mà đảm bảo được khả năng
quản lý chất lượng môi trường trong toàn phạm vi được giao. Đây là một vấn đề
thuộc lĩnh vực “bài toán tối ưu”. Về nguyên lý chung, thì mật độ trạm phụ thuộc
vào tính phức tạp của sự phân bố các yếu tố môi trường theo không gian. Để xác
định giá trị (các yếu tố môi trường) tại một điểm nào đó không có số liệu đo đạc
thì phải tiến hành nội suy từ các số liệu đo đạc ở các trạm lân cận. Sai số của phép
nội suy phụ thuộc vào khoảng các giữa các trạm và tính phức tạp trong cấu trúc
không gian của yếu tố đang nghiên cứu. Sai số càng nhiều khi khoảng cách giữa
các trạm càng lớn và yếu tố đó biến thiên theo không gian càng lớn.
Để bảo đảm thu được giá trị, với sai số nằm trong giới hạn cho phép, thì ở những
nơi có cấu trúc phức tạp khoảng cách giữa các trạm buộc phải rút ngắn, ngược lại
các nơi có cấu trúc đơn giản khoảng cách giữa các trạm cho phép được nâng lên.
Ví dụ, các yếu tố môi trường không khí quanh ống khói nhà máy, của môi trường
nước quanh các cửa kênh thải rất phức tạp, trong trường hợp này cần phải tổ chức
nhiều điểm đo.
Nếu yếu tố môi trường theo một hướng nào đó biến đổi không nhiều (ví dụ, các
chất thải của ôtô dọc theo hướng của đường) thì khoảng cách giữa các điểm đo
theo hướng đó cho phép lớn, ngược lại theo hướng có sự biến đổi nhiều (ví dụ,
theo hướng vuông góc với tuyến đường) khoảng cách phải được rút ngắn. Như
vậy về phương diện hợp lý, tối ưu, khoảng cách giữa các trạm không nhất thiết
phải như nhau. Tính phức tạp trong cấu trúc không gian của các yếu tô môi
trường lại phụ thuộc rất nhiều các thông số khác như đặc điểm nguồn thải, điều
kiện địa hình, đặc điểm khí tượng thủy văn, hình thức lan truyền và biến đổi của
các chất thải.
1.6.5. Khả năng theo dõi liên tục về thời gian
Bất kỳ một hiện tượng tự nhiên nào cũng tồn tại trong một qui mô không gian và
, SO
2
, độ ẩm. Nếu chỉ đánh giá qua tác động qua từng nhân tố
riêng rẽ không thể đánh giá đúng mức độ phá hủy công trình do môi trường.
Trong trường hợp này người ta dùng chỉ tiêu tổng hợp P:
1
0
i
i
i
C
C
P
trong đó:
i
C - hàm lượng của yếu tố i;
i
C
0
- nồng độ giới hạn cho phép của yếu tố i.
1
P
, là đã ô nhiễm (nguy hại cho công trình).
1
kiện nước ta hiện nay là một điều khó khăn vì thiếu số liệu, thiếu các hiểu biết cần
thiết về đặc điểm môi trường hiện nay của nước ta.
1.6.8. Biểu diễn kết quả số liệu
Biểu diễn kết quả là quá trình phân tích số liệu để chuyển số liệu thô thành số liệu
có thể sử dụng hoặc trao đổi được. Những kết quả phân tích số liệu này cần phải
tuân theo một qui trình đã được thiết lập vì dựa trên cơ sở này các kết quả từ các
trạm khác nhau mới có thể so sánh được. Thiết lập qui trình phân tích số liệu này
người ta thường sử dụng các phương pháp thống kê. Biểu diễn các kết quả đã
được phân tích này có thể sử dụng các phương pháp khác nhau như sơ đồ, đồ thị,
bảng, biểu v.v. Các giá trị như trung bình và các giá trị cực cho ngày, tháng, năm
thường được sử dụng. Sau mỗi lần phân tích số liệu, các giá trị giới hạn của số
liệu cũng được thiết lập để thống nhất chung trong toàn mạng lưới.
1.7. QUI TRÌNH VÀ CHÍNH SÁCH VẬN HÀNH
1.7.1. Phương thức vận hành
Do điều kiện tự nhiên và xã hội của từng trạm rất khác nhau, do đó phải thiết lập
một qui trình vận hành thống nhất cho toàn bộ hệ thống trạm. Các qui chế vận
hành thiết lập trong hệ thống phụ thuộc vào mức chất lượng môi trường dự định
giám sát, ví dụ như kiểu vận hành cho giám sát xu thế ô nhiễm thành phố khác
với kiểu vận hành cho giám sát chất lượng môi trường nông thôn. Do vậy, các
kiểu vận hành được thiết lập sao cho phù hợp với mục tiêu của chương trình giám
sát. Mức ô nhiễm nền môi trường lại thay đổi hay phụ thuộc vào rất nhiều vào các
thông số khí tượng hay thủy hải văn, nguồn thải và nhiều yếu tố khác, do đó mức
độ ô nhiễm cần quan tâm (nếu ở đây đề cập đến mức độ ô nhiễm nền) có khi
không phát hiện được trong một chu kỳ thời gian theo tần suất đo đạc đã qui định
(ví dụ trong trường hợp giám sát chất lượng nước). Để giải quyết tồn tại này chỉ
có một cách phân tích số liệu rất cẩn thận và phân bố các giá trị đo được kết hợp
với một phân tích đúng về các điều kiện lan truyền như khí tượng, thủy hải văn và
các quan trắc khác mới có thể xác định được một cách trung thực hiện trạng chất
lượng môi trường đã diễn ra tại nơi đo đạc. Ở đây không đề cập đến hệ thống
trang thiết bị và nhân lực trong phương thức vận hành vì coi những vấn đề này sẽ
thì lợi ích thực sự là tăng sức mạnh cạnh tranh và tăng năng suất.
B. Định nghĩa 2: Chất lượng đồng nghĩa với độ tin cậy
Độ tin cậy là khả năng của một sản phẩm hay dịch vụ có thể tiếp tục đáp ứng với
các yêu cầu của khách hàng. Nếu đặt vấn đề chất lượng là được xem xét như một
mối giao diện giữa hai tổ chức (hoặc hai cá nhân) sẽ dẫn đến là một là khách hàng
một bên là cung ứng và ngược lại, thì bên cung ứng phải đáp ứng nhu cầu của một
khách hàng. Như vậy để có thể đạt được chất lương sản phẩm và dịch vụ cho một
công đoạn, cần phải xem xét hai vấn đề liên quan đến chất lượng:
- Chất lượng thiết kế.
- Chất lượng trong việc tuân thủ thiết kế.
B1. Chất lượng thiết kế
Muốn có một sản phẩm phải có thiết kế. Chất lượng thiết kế được thể hiện ở chỗ
sản phẩm hoặc dịch vụ được thiết kế như thế nào để đạt được mục tiêu. Đặc trưng
nhất của chất lượng thiết kế là qui cách. Trong một công ty, một tổ chức, một đơn
vị nhỏ nhất qui cách là ở các giao diện bên cung ứng và khách hàng. Từ đó suy
diễn ra các qui cách để hoạt động.
B2. Chất lượng tuân thủ thiết kế
Đó là mức độ đạt tới chất lượng thiết kế của một sản phẩm hay một dịch vụ. Cái
mà khách hàng thực sự nhận phải phù hợp với thiết kế và những chi phí hoạt động
có liên quan chặt chẽ với mức độ tuân thủ. Ghi chép và phân tích các thông tin và
dữ liệu có vai trò quan trọng đối với tuân thủ thiết kế của chất lượng. Ở đây các
phương pháp thống kê góp phần rất quan trọng và phải được sử dụng có hiệu quả.
Tóm lại ta thấy rằng:
- Muốn có chất lượng trong mọi công việc ta phải xác định rõ được khách hàng
của từng cá nhân trong mọi tổ chức (hay nói một cách khác phải có được kết quả
của từng cá nhân).
- Chất lượng không tự nhiên sinh ra mà phải được quản lý.