Phạm Quang Trung Bài giảng Thú y cơ bản
BẢNG BỆNH SÁN DÂY VÀ KÝ CHỦ CỦA NÓ
SÁN TRƯỞNG THÀNH KÝ CHỦ ẤU TRÙNG
Taenia pisiformis Chó Cysticercus fisifonis
(Taenia. Serrata)
Taenia Multiceps Chó Multiceps
Echinococus Chó, mèo Echinococcus
polymorphys
Granumosus Chó, mèo, người Cryptocystistrichodetis
Diphylidium
Caninum Người Plerocercoides
Chó người mèo Spazganum mansoni
Diphyllobothcium
Diphyllobothrium Người Cysticercus cellulosae
Mansoni Người Cysticercus bovis
Taenia solium
Taeniarhy chus
Taginatus BỆNH SÁN DÂY CỦA GÀ- RAILIETINOSIS
Chúng thường ký sinh ở ruột gà. Đây là bệnh thường gặp nhất đối với gà trưởng thành.
Chu trình phát triển của sán dây gà
Chu trình phát triển của sán dây gà cần ký chủ trung gian.
Trứng sán dây được theo phân ra ngoài, trứng vung vải vào trong đất. Gặp kiến ăn phải trứng
sán, trong cơ thể kiến trứng sán phát triển thành ấu trùngqua các giai đoạn khác nhau. Khi gà
ăn phải kiến có ấu trùng, vào ruột phát triển thành sán trưởng thành.
Hoàn thành vòng đời của sán khoảng 60 ngày.
Ở nước ta bệnh ký sinh trùng đường máu khá phổ biến. Theo điều tra của viện thú y trung
ương, Phân viện thú y Nha Trang, bộ môn thú Y khoa KHVN trường Đại học Nông lâm Huế,
thì tỷ lệ nhiễm phụ thuộc vào vùng.
Đối với trâu bò tỷ lệ nhiễm bệnh ký sinh trùng đường máu ở miền núi lên tới 60 - 70%; trung
du 45 - 50%; Vùng đồng bằng ven biển tỷ lệ nhiễm thấp hơn.
CÁC BỆNH ROI TRÙNG - TRIPANOASOMOSIS
Trong thiên nhiên có rất nhiều loại trùng roi, chúng sống ký sinh ở nhiều loại động vật khác
nhau như: gia cầm, trâu bò, lợn, cá
Mỗi loại ký sinh ở một vị trí nhất định, nhưng thường chúng ký sinh trong máu (ngoài hồng
cầu), có loại sống ở cơ quan sinh sản.
Trùng roi thường có roi, như là cơ quan vận động, chúng sinh sản phân chia theo chiều dọc.
Chúng truyền bệnh thông qua các loại tiết túc hút máu. Tiết túc cũng có thể là ký chủ trung
gian.
Các loài gây bệnh cho vật nuôi gồm có:
Tripanosoma evansi - ký sinh ở máu trâu bò và ngựa.
T.Equiperdium - ký sinh ở cơ quan sinh sản ngựa, la, thừa.
T.Foetus - ký sinh ở cơ quan sinh sản của bò gây bệnh sẩy thai.
BỆNH TIÊM MAO TRÙNG Ở TRÂU BÒ
Bệnh này do loại tiêm mao trùng Tripanosoma evansi gây ra. Tên bệnh theo từng địa phương
có tên gọi khác nhau:
Ở nước ta có tên gọi là bệnh ngả nước, hay là gọi bệnh trùng roi. Ở liên xô (cũ) gọi là bệnh
Suauru; Ở Ân Độ người ta cũng gọi là bệnh ngã nước Surra của gia súc
Khoa Chăn nuôi Thú y ĐHNL-Huế
103
Phạm Quang Trung Bài giảng Thú y cơ bản
+ Bằng phản ứng ngưng kết
+ Phản ứng Eli
- Phản ứng formol
- Tiêm truyền động vật thí nghiệm
Điều trị và phòng bệnh:
Điều trị dùng thuốc đặc hiệu: Naganol; naganil.
Nâng cao sức khỏe vật nuôi: Chlorua canxi, Benzoat natri cafein, glucoz; Ngoài ra có thể
dùng Norasenol.
Phòng bệnh: Tiêu diệt côn trùng hút máu
Kiểm tra sức khỏe đàn trâu bò thông qua các chỉ tiêu huyết học.
Có thể dùng Naganil tiêm phòng cho trâu bò vào vụ Đông Xuân.
Nâng cao chế độ chăm sóc nuôi dưỡng vật nuôi.
.
Khoa Chăn nuôi Thú y ĐHNL-Huế
104
Phạm Quang Trung Bài giảng Thú y cơ bản
BỆNH CẦU TRÙNG - COCCIDIIDOSIS
Tiểu phôi tử bào
(Microgametocyt)
Giai đoạn ngoài thiên nhiên
Noãn nang trứng (Zygot ôcyst)
Trong cơ thể gia súc:
Tử bào tử (sporozoit)
Cấu trùng non
(Trôphzoit)
Cấu trùng trưởng thành
(Sehizont)
Liệt thực thể
(merozoit)
Đại phôi tử
Tiểu phôi tử bào
Đại phôi tử
(Macrogametocyt)
Tiểu phôi tử bào
(Microgametocyt)
Giai đoạn ngoài thiên nhiên
Noãn nang trứng (Zygot ôcyst)
Túi bào tử
phóng ra các bào tử (sporozoit) bào tử vào thượng bì hay biểu mô phát triển thành cầu trùng
non (trophozoit) sau đó thành cầu trùng trưởng thành. Và bắt đầu sinh sản vô tính. Nhân phân
chia rồi nguyên sinh chất phân chia tạo thành liệt thực thể (Merozoit), Merozoit phá vỡ tể
bào và tiếp tục xâm nhập vào tế bào khác. Sau vài lần sinh sản vô tính chuyển sang sinh sản
hữu tính.
Sinh sản hữu tính
Sau vài lần sinh sản vô tính một số Merozoit tạo thành đại phối tử (Macrogametocyst) và tiểu
phối tử (Collicrogametoxyt). Tiểu phối tử có lông xung quanh di động và chui vào đại phối
tử. Giao hợp trở thành hợp tử Xygot.
Sơ đồ phát triển có thể tóm tắt như sau:
Giai đoạn phát triển ngoài thiên nhiên
Sau khi đã thành ôcyst nó được thải theo phân ra môi trường bên ngoài, nhờ có các điều kiện
thích hợp như nhiệt độ ánh sáng, độ ẩm, oxy thích hợp chúng tiếp xúc sinh sản bào tử theo
kiểu phân chia hai thành bốn, mỗi bào tử lại tiếp tục phân chia thành hai hoặc bốn tử bào tử.
Tính chất dịch tể của bệnh cầu trùng:
Cầu trùng là bệnh lây lan qua thcs ăn nước uống, do nhiễm các loại noãn nang.
Bệnh xảy ra mạnh vào mùa xuân, bệnh thường xảy ra đối với gia súc non nhốt chung với gia
súc trưởng thành, chuồng trại chật hẹp ẩm ướt. Chế độ thức ăn thiếu thống nhất là các loại
vitamin, khoáng.
Bệnh cầu trùng thường xảy ra với nhiều loại vật nuôi khác nhau, nhưng trong thú y cần quan
tâm nhất là cầu trùng gà và bệnh cầu trùng của thỏ.
Cơ chế phát bệnh và triệu chứng cầu trùng ở gà
Cầu trùng phá vỡ tế bào thượng bì, làm vở các mạch quản nhỏ gây xuất huyết, số lượng ôcyst
càng nhiều, thì các tổ chức biểu mô càng bị phá vỡ trầm trọng.
Triệu chứng bệnh nặng nhẹ phụ thuộc vào cường độ nhiễm cầu trùng trên một cơ thể gà.
Ví dụ khi gà nhiễm 1000 noãn nang thì có triệu chứng nhẹ.