Bài giảng Thú y cơ bản : PHÂN LOẠI CÁC NHÓM BỆNH part 4 doc - Pdf 19

Phạm Quang Trung Bài giảng Thú y cơ bản
Như dùng dòng điện với cường độ dòng diện 0,2-0,57mA, hoặc có thể dùng áp điện ứng
(Pharadization) với cường độ dòng điện cao hơn 25-50mA. Tác dụng của dòng điện kích
thích hưng phấn thần kinh vận động và thần kinh cảm giác.
Như điều trị bằng phương pháp cơ học - Xoa bóp- massage làm tăng tuần hoàn lympha và
tuần hoàn máu, ổn định thần kinh, cơ Tùy từng vị trí và cơ quan xuất hiện bệnh mà tiến
hành xoa bóp có kết quả.
Ngày nay, với những tiến bộ của các ngành khoa học đã sáng chế ra nhiều thiết bị y tế, thú y
để điều trị và phòng bệnh nội khoa có kết quả như tia xạ, hóa học trị liệu, rengen trị liệu, máy
xoa bóp
3.3. Bệnh ngoại khoa
Là nhóm bệnh mà can thiệp bằng phẩu thuật- liên quan đến mổ xẻ. Ngày nay, với những tiến
bộ khoa học phát triển đặc biệt là kháng sinh được sử dụng rộng rãi thì lỉnh vực ngoại khoa
càng phát triển giúp cho ngành chăn nuôi phát triển không ngừng. Nhiệm vụ của lỉnh vực này
là phòng các bệnh do chần thương điều trị các bệnh như thoát vị, apxe, khối u, gảy xương,
thiến hoạn gia súc
Ngoại khoa được chia ra hai phần chính: Ngoại khoa đại cương, ngoại khoa chuyên khoa.
Nhiệm vụ của ngoại khoa cần làm sáng tỏ các vấn đề sau:
-Các nguyên nhân cơ bản từ bên trong và bên ngoài dẫn tới các bệnh cần đến phẩu
thuật
-Cơ chế phát sinh các bệnh đó
-Triệu chứng lâm sàng và quá trình tiến triển của bệnh
-Phương pháp chẩn đoán bệnh
-Tiên lượng tiến triển của bệnh để có phác đồ điều trị
-Nguyên tắc điều trị và biện pháp chóng nhiễm trùng
-Quan tâm chế độ dinh dưỡng và chế độ lao tác của con vật
Nói tóm lại phần ngoại khoa đại cương là thực hiện các biện pháp phòng trị các hiện tượng
tổn thương và vết thương.
Tổn thương -là các yếu tố tác động bên trong bên ngoài gây nên các tổn thương cho mô bào
tổ chức, cơ quan nội tạng. Bao gồm các tổn thương như: Tổn thương trong nông nghiệp (điều
kiện chăm sóc nuôi dưỡng chuồng trại không đảm bảo), tổn thương do lao tác ( các tổn

-Việc dùng thuốc điều trị bệnh cho động vật thủy sản vô cùng khó khăn, khó xác
điịnh được nồng độ chính xác, vì ta cũng chỉ tính thể thích nước tương đối trong đầm ao
nuôi.
-Dùng thuốc với nồng độ tiêu diệt lại không hiệu quả mà lại kích thích tác nhân bệnh
phát triển, nếu dùng liều cao ở mức tiêu diệt thì ảnh hưởng tới những cá thể khỏe mạnh.
-Dùng thuốc trong trị bệnh cho động vật thủy sản là đưa vào môi trường nước, có thể
thông qua thức ăn, hoặc phun vào ao, nên hiệu quả sử dụng thấp
-Việc dùng thuốc trị bệnh trong nuôi tròng thủy sản là tốn kém mà không đem lại
hiệu quả, nên việc phòng bệnh là cơ bản.
Do vậy, muốn phòng bệnh tốt trong nuôi tròng thủy sản cần nắm được các qui luật sinh học
vốn có của từng loài thủy sản, như qui luật hoạt động về kết đàn, thời kỳ thành thục sinh dục
đẻ trứng, vổ béo, di cư tìm mồi, phản ứng của chúng đối với màu nước.
Một đặc điểm riêng biệt đối với động vật thủy sản là sống trong nước nên quá trình hô hấp
khác đối với động vật trên cạn. Đối với chúng, quá trình lấy oxy là oxy thể hòa tan trong
nước, tức là từ thể lỏng vào máu, khác với động vật trên cạn, lấy oxy từ không khí vào, tức là
từ thể khí vào thể lỏng. Chính vì vậy, môi trường nước nuôi chúng phải đảm bảo một số qui
định khắt khe, nhất là nồng độ oxy hòa tan trong nước.
Để tiện nghiên cứu và theo dõi phòng trị, các bệnh ở động vật thủy sản cũng được chia ra
một số nhóm bệnh sau:
-Bệnh do sinh vật kí sinh: bệnh do thực vật kí sinh: virut, vi khuẩn, nấm tảo, đơn bào-
hay gọi là bệnh truyền nhiễm.
-Bệnh do động vật kí sinh: nguyên sinh động vật, giun sán, đỉa cá, nhuyễn thể, giáp
xã hay gọi là bệnh kí sinh trùng.
-Bệnh do sinh vật phi kí sinh (bệnh do sinh vật hại cá): Các loài sinh vật này không kí
sinh ở tôm cá nhưng gây cho tôm cá chết. Thường do các loại tảo độc, thực vật động vật hại
tôm cá. Ví dụ: bọ gạo, bon Cyclops dùng chủy nhọn đâm vở trứng hoặc chích chết tôm cá.
-Bệnh do các yếu tố vô sinh: bệnh do dinh dưỡng ( do thiếu thừa các chất dinh dưỡng
cung cấp cho tôm cá), bệnh do yếu tố môi trường ( do các yếu tố cơ học, hóa học, vật lý học,
môi trường ao nuôi như: pH, DO, BOD,CHOD, NH
3

2
, NaOCL, CuSO
4,
vôi,Xanh methylen, Formalin, cây thực
vật như: lá xoan, tỏi, cât thuốc cá. Các chế phẩm sinh học
Một số bệnh thường gặp ở tôm cá
Bệnh xuất huyết do virut ở cá chép
Đây là một bệnh khá phổ biến ở cá chép tự nhiên và cá nuôi trong ao hồ. Bệnh gây thiệt hại
kinh tế cho ngành nuôi các nước ngọt đáng kể. Bệnh có nhiều tên gọi khác nhau: Bệnh phù ở
cá chép, bệnh đốm đỏ cá chép, Bệnh virut mùa xuân cá chép.
Tác nhân gây bệnh:
Có nhiều tác giả có các ý kiến khác nhau, nhưng cuối cùng đề thống nhất một số quan điểm
như sau:
- Do virut có cấu tạo là ARN (Roy và ctv)
- Do một số loài nấm
-Do vi khuẩn gây xuất huyết
-Do ảnh hưởng của môi trường,. Trong môi trường nước lắng động một số oxuyt kim
loại , chúng gây cản trở cho hô hấp ở mang cá.
Các yếu tố gây bệnh trên tác động qua lại ảnh hưởng đến quá trình hoạt động sống của cá-
nên người ta còn gọi là hội chứng đốm đỏ lở loét.
Dịch tể học:
Bệnh gặp ở nhiều đối tượng cá nước ngọt, như cá trắm, mè rôphi, chép, nhưng mắc bệnh
nặng nhất vẫn là cá chép và trắm.
Bệnh xẩy rảơ nhiều nước và châu luc khác nhau. Hay nói cách khác nơi nào có điều kiện
nuôi nước ngọt thì đều có bệnh xuất hiện.
Ở nước ta bệnh xẩy ra quanh năm, là một trong những trở ngại lớn cho nghề nuôi trồng nước
ngọt.
-Dấu hiệu bệnh lý:
Cá ngạt thở bơi ở tầng mắt , cá chết chìm ở tầng đáy.
Dấu hiệu bên ngoài: mang và da xuất huyết có thể xuất huyết nhiều điểm.

hộ nuôi tôm đã khuynh gia bại sản do bệnh MBV này gây nên cho đàn tôm.
Bệnhnày cảm nhiễm nặng nhất là vào giai đoạn tôm giống.
Bệnh nặng tôm bơi lờ đờ trôi dạt vào bờ và chết hàng loạt.
Chẩn đoán:
Dựa vào tính chất dịch tể, dấu hiệu bệnhlý của tôm. Song phát hiện bệnh này ngày nay có
nhiều phương pháp:
- Nhuộm tiêu bản để tìm thể ẩn của virut
-Phương pháp chẩn đoán PCR
Phương pháp phòng và trị:
Bằng phương pháp chẩn đoán PCR, cần kiểm tra chất lượng đàn giống, nguồn gốc xuất xứ.
Hủy đàn tôm giống khi phát hiện có mầm bệnh. Các dụng cụ phục vụ nuôi tôm cần vệ sinh
tẩy uế.
Hiện nay phương pháp trị bệnh vẫn chưa có kết quả.

BỆNH NẤM THÙY MY

Nấm thùy my thường xuyên có trong môi trường nước, nhất là trong ao tù nước bẩn, nhiều
chất hửu cơ mục nát.
Bệnh thường phát sinh trong hoàn cảnh đặc biệt:
-Cá bị thương xây xát
Khoa Chăn nuôi Thú y ĐHNL-Huế
54
Phạm Quang Trung Bài giảng Thú y cơ bản
-Bị các bệnh như kí sinh trùng mỏ neo, rận cá
-Nuôi với mật độ quá dày.
-Điều kiện môi trường nước không thuận lợi cho việc sinh trưởng của cá.
Ở nước ta bệnh nấm thùy my khá phổ biến, và có ở nhiều vùng nuôi cá nước ngọt ở nước ta
như: Hà Đông, Hà nội, Cao Bằng Lạng Sơn Bệnh thường ở cá rô phi trong mùa đông, cá
trắm cỏ, cá chép khi gặp thời tiết lạnh. Thiệt hại do bệnh gây ra vô cùng to lớn đối với ngề
nuôi cá nước ngọt.

quá trình nuôi cần theo giỏ hàng ngày để đánh giá chất lượng tôm trong ao. Trên cơ sở đó có
những biện phpá kịp thời để ngăn chặn những thiệt hại đáng tiếc xẩy ra.
Sâu đây là những căn cứ cơ bản giúp cho cán bộ khuyến nông và những người cần quan tâm
đến chất lượng tôm nuôi:
1.Căn cứ vào trạng thái hoạt động của tôm:
Nếu phiêu sinh vật phát triển tốt, chất lượng nước tốt và tôm ở trong điều kiện tốt, thì kể từ
tuần lể nuôi thứ 3 sẻ ít nhìn thấy tôm.
Khoa Chăn nuôi Thú y ĐHNL-Huế
55


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status