CHUYÊN ĐỀ 1: TỔNG QUAN VỀ TÀI NGUYÊN
MÔI TRƯỜNG VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
Đặt vấn đề
Trong những năm qua, phát triển kinh tế-xã hội ở nước ta vẫn còn dựa nhiều
vào việc khai thác tài nguyên thiên nhiên; năng suất lao động còn thấp; công nghệ
sản xuất, mô hình tiêu dùng còn sử dụng nhiều năng lượng, nguyên liệu và thải ra
nhiều chất thải. Dân số tăng nhanh, tỷ lệ hộ nghèo còn cao; các dịch vụ cơ bản về
giáo dục và y tế hiện còn bất cập, các loại tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn triệt
để đang là những vấn đề bức xúc.
Nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên bị khai thác cạn kiệt, sử dụng lãng phí và
kém hiệu quả. Môi trường thiên nhiên ở nhiều nơi bị phá hoại nghiêm trọng, ô
nhiễm và suy thoái đến mức báo động. Hệ thống chính sách và công cụ pháp luật
chưa đồng bộ để có thể kết hợp một cách có hiệu quả giữa 3 mặt của sự phát triển:
kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường. Trong các chiến lược, quy hoạch tổng thể và
kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của đất nước cũng như của các ngành và địa
phương, 3 mặt quan trọng trên đây của sự phát triển cũng chưa thực sự được kết
hợp và lồng ghép chặt chẽ với nhau.
Để thực hiện mục tiêu phát triển bền vững đất nước và thực hiện các cam kết
quốc tế, Chính phủ Việt Nam đã ban hành "Định hướng chiến lược phát triển bền
vững ở Việt Nam" (Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam). Định hướng Chiến
lược phát triển bền vững ở Việt Nam là một chiến lược khung, bao gồm những
định hướng lớn làm cơ sở pháp lý để các Bộ, ngành, địa phương, các tổ chức và cá
nhân có liên quan triển khai thực hiện và phối hợp hành động nhằm bảo đảm phát
triển bền vững đất nước trong thế kỷ 21.
1. Các thách thức về kinh tế - xã hội - môi trường và phát triển toàn cầu
và Việt Nam
1.1. Sự phân hoá giầu nghèo và mất ổn định chính trị
Sự tăng trưởng cao không đi đôi với sự giảm tỷ lệ nghèo đói nhanh. Bình
quân các nước đang phát triển có mức phân hoá giầu nghèo cao, hệ số giảm nghèo
là 1,3 % năm so với mức 10 % năm giảm nghèo của các nước có mức độ bình đẳng
Hình 1 Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tỷ lệ giảm nghèo
(Ngân hàng Thế giới 2003a)
1.3. Bệnh tật
Mỗi năm có 11 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị chết ; 15 triệu trẻ em bị chết do
các nguyên nhân có thể phòng ngừa được như chấn thương, tiêu chảy, nhiễm trùng
đường hô hấp
Trên toàn thế giới có 37,8 triệu người mắc căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS, mỗi
năm có 3 triệu ngưòi chết vì căn bệnh này, trong đó có 0,5 triệu là trẻ em, mỗi ngày
có 8000 người, 10 giây có một người chết.
1.4. Tăng dân số
Mặc dầu đã có những cố gắng lớn về kế hoạch hoá dân số tại tất cả các nước
trên thế giới nhưng dân số vẫn tiếp tục tăng. Hiện nay, dân số thế giới đã lên tới
5,769 tỷ người và sẽ tiếp tục tăng tới 8,5 tỷ trong 3 thập kỷ tới. Trong số đó 83,4%
là dân các nước đang phát triển. Sau năm 2005, tốc độ tăng dân số sẽ chậm lại và
lên tới 10 tỷ vào năm 2050.
Tốc độ tăng trưởng dân số toàn thế giới là 1,68% trong thời gian 1990 –
1995 và sẽ giảm xuống còn 1,43% trong thời gian 2000-2005. Hiện nay, mỗi năm
trên Trái Đất có thêm khoảng 93 triệu trẻ sơ sinh, vào đầu thế kỷ XXI con số này
92 triệu. ở Châu á tốc độ tăng trưởng dân số hiện nay là 1,78% và sẽ giảm xuống
còn 1,39% trong thời gian 2000 – 2005.
Tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương, tốc độ tăng trưởng dân số là 1,8%, cao
hơn tốc độ tăng trưởng chung của toàn thế giới một ít (1,68%). Tới năm 2030, dân số
tại đây sẽ lên tới khoảng 5,8 tỷ, xấp xỉ dân số thế giới năm 1995.
Chúng ta đang sống trong thế giới đổi thay với tốc độ nhanh, một thế giới
trong đó có hơn 1 tỷ người – bằng 20% dân số toàn cầu – sống trong nghèo khổ,
bệnh tật và suy dinh dưỡng. Một thế giới trong đó khoảng 1 tỷ người ở các nước
công nghiệp phát triển có thu nhập lớn gấp 30 – 40lần so với 4,5 tỷ người thuộc thế
giới thứ ba và sử dụng hơn 75% tài nguyên của Trái Đất. Một thế giới mà bình
Những nghiên cứu gần đây cho thấy, thay đổi khí hậu toàn cầu có ảnh
hưởng tới môi trường toàn cầu. Theo dự báo của IPCC nhiệt độ trái đất đến năm
2100 sẽ tăng khoảng 1 đến 3,5 oC và năm 2100 sẽ là năm nóng nhất trong 10.000
năm qua. Mực nước biển sẽ tăng khoảng 70-100 cm/100 năm, sẽ dẫn đến việc
mất đất của hàng triệu người dân sống ở vùng đất thấp, quan trọng hơn nữa là có
thể mất đi cả một nền văn hoá.
Thay đổi khí hậu có thể ảnh hưởng đến sông hồ, đầm lầy qua sự thay đổi
nhiệt độ nước và mực nước làm thay đổi lớn tới thời tiết (chế độ mưa, bão, hạn
hán, cháy rừng, elino…), tới lưu lượng, đặc biệt là tần suất và thời gian của