BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
__________________________________________
Đinh Thị Phương Thanh
THIẾT KẾ WEBSITE HỖ TRỢ DẠY HỌC HAI CHƯƠNG
“TỪ TRƯỜNG” VÀ “CẢM ỨNG ĐIỆN TỪ” LỚP 11
(CƠ BẢN) NHẰM NÂNG CAO TÍNH TÍCH CỰC,
TỰ LỰC VÀ SÁNG TẠO CHO HỌC SINH
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học môn Vật lí
Mã số: 601410
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Danh mục các chữ viết tắt
1. BGD&ĐT : Bộ Giáo Dục và Đào tạo
2. CNTT: Công nghệ thông tin
3. DH: Dạy học
4. ĐC : Đối chứng
5. ĐG: Đánh giá
6. GV: Giáo viên
7. GD: Giáo dục
8. HĐNT: Hoạt động nhận thức
9. HKI: Học kì I
10. HS: Học sinh
11. KT: Kiểm tra
12. MVT: Máy vi tính
13. PP: Phương pháp
14. PPDH:
Phương pháp dạy học
15. PPDHTC: Phương pháp dạy học tích cực
16. PTDH: Phương tiện dạy học
PDH, học tập và quản lí giáo dục trong nhà trường Việt Nam.
• Vì thế, đổi mới PPDH thông qua ứng dụng C
NTT và truyền thông là một
trong những mục tiêu lớn được các ngành, các cấp quan tâm. Trong đó hướng ứng
dụng xây dựng và sử dụng Website DH còn khá mới mẻ ở nước ta, nhưng việc ứng
dụng thành công nó vào DH sẽ góp phần tích cực vào quá trình đổi mới PPDH
trong nhà trường.
• Đối với môn
Vật lí, việc tổ chức HĐNT cho HS phỏng theo con đường tìm
tòi của các nhà khoa học, theo chu trình nhận thức khoa học thường gặp nhiều khó
khăn trong các giai đoạn: đề xuất mô hình, xây dựng phương án thực nghiệm và tiến
hành thí nghiệm kiểm tra kết quả. Tùy đối tượng nghiên cứu cụ thể mà PPDH
truyền thống có hoặc không thể hỗ trợ cho việc thu thập các thông tin cần thiết, dẫn
đến việc yê
u cầu
cao tính tự lực, tích cực của HS tham gia vào việc giải quyết vấn đề học tập bị hạn
chế.
• Trong chương trình Vật lí phổ thông nói chung và SGK Vật lí 11 nói riêng,
hai chương “Từ trường” và “Cảm ứng điện từ” có một vai trò khá quan trọng.
Những ứng dụng của nó đem lại nhiều tiện ích cho cuộc sống con người. Hai
chương này có nhiều hiện tượng, khái niệm Vật lí, thí nghiệm rất khó thể hiện cho
HS thấy một cách rõ ràng nếu sử dụng PTDH truyền thống. Khắc phục tình trạng
này, c
húng ta có thể sử dụng những phần mềm mô phỏng và thí nghiệm ảo trên máy
vi tính cung cấp. Đổi mới PPDH theo xu hướng phát triển của công nghệ trên phạm
vi toàn thế giới thì việc xây dựng và sử dụng Website hỗ trợ dạy học là hướng
nghiên cứu cấp thiết.
Đồng thời, với sự phát triển của các thế hệ MVT và dịch vụ mạng thông tin
và “Cảm ứng điện từ” lớp 11
THPT.
- Khả năng áp dụng kết quả nghiên cứu của đề tài vào việc giảng dạy Vật lí ở các
trường THPT.
IV. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC:
Nếu thiết kế và sử dụng website dạy một cách hợp lí thì sẽ phát huy được TTC,
độc lập và chủ động trong HĐNT của HS, từ đó nâng cao chất lượng học tập vật lí
nói chung, chương “Từ trường” và “Cảm ứng điện từ” nói riêng ở trường THPT.
V. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:
- Nghiên cứu cơ sở khoa học của v
iệc sử dụng máy tính và hệ thống mạng
máy tính làm phương tiện dạy học trong dạy học nói chung và dạy học Vật lí nói
riêng.
- Xác định cấu trúc, nguyên tắc xây dựng và phương pháp sử dụng Website hỗ
trợ dạy học Vật lí nhằm
nâng cao TTC, tự lực và sáng tạo cho HS..
- Xây dựng website dạy học chương “Từ trường” và “Cảm ứng điện từ” lớp 11
(Ban cơ bản) THPT
- Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm chứng hiệu quả của quá trình DH Vật lí
nhờ sự hỗ trợ của Website dạy học nhằm nâng cao TTC, tự lực và sáng tạo cho HS.
VI. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
1. Phương pháp nghiên cứu lý luận:
- Nghiên cứu những văn kiện của Đảng, Nhà nước, của Bộ GD – ĐT về nân
g
cao chất lượng giáo dục và vấn đề tin học hóa nhà trường.
- Nghiên cứu các tài liệu về những vấn đề cơ bản của giáo dục học hiện đại, tổ
chức hoạt động nhận thức nhằm nâng cao TTC, tự lực và sáng tạo cho học sinh
trong dạy học Vật lí ở trường phổ thông.
- Tiếp cận các tài liệu về các công cụ hỗ trợ để xây dựng website dạy học
Đối với HS:
- Có tư liệu học tập trực quan bổ ích.
- Rèn luyện và học tập tại nhà một cách dễ dàng, thuận tiện. CHƯƠNG I
CƠ SỞ KHOA HỌC THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG W
EBSITE HỖ TRỢ DẠY HỌC
NHẰM NÂNG CAO TÍNH TÍCH CỰC, TỰ LỰC VÀ SÁNG TẠO CHO HỌC
SINH
1.1. Mục tiêu chung giáo dục hiện nay và định hướng đổi mới PPDH Vật lí
THPT:
1.1.
1 Mục tiêu giáo dục hiện nay
1.1.
1.1 Mục tiêu chung của giáo dục phổ thông
Dạy và học ở nước ta đều nhằm thực hiện mục tiêu chung của giáo dục: “Hình
thành, phát triển phẩm chất và năng lực công dân Việt Nam tự chủ, năng động, sáng
tạo, có kiến thức văn hóa, khoa
học, công nghệ, có kỹ năng nghề nghiệp, có sức
khỏe, có niềm tự hào dân tộc và ý chí vươn lên, có năng lực tự học và thói quen tự
học suốt đời, năng lực đi vào thực tiễn xã hội, góp phần hiệu quả làm cho dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, đáp ứng yêu cầu xâ
y dựng và bảo vệ tổ
quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”. Điều 28 yêu cầu về nội dung và phương pháp
giáo dục phổ thông khẳng định: “PPGD phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự
giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm từng lớp học, bồi dưỡng PP
tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức
vào
thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú cho HS”.
pp mô hình, ...)
- Thế giới quan, nhận
thức khoa học, hiện đại.
KỸ NĂNG
Các kĩ năng cần thiết
trong giải quyết vấn đề
học tập và nghiên cứu
vật lí: thu thập, xử lí,
lưu giữ, truyền đạt
thông tin từ thí nghiệm,
phương án thí nghiệm,
kĩ năng làm thí
nghiệm,...
THÁI ĐỘ
Yêu thích khoa
học, sẵn sàng
vận dụng hiểu
biết vật lí vào
thực tiễn,...
Tác phong, thái
độ làm việc
khoa học...
PHÁT HUY TÍNH
TÍCH CỰC, TỰ
CHỦ, SÁNG TẠO
Của HS trong hoạt
động học tập là yêu
cầu của việc đổi
mới PPDH, đồng
thời cũng là mục
qua, BGD&ĐT liên tục thí điểm và đổi mới SGK nhằm đáp
ứng mục tiêu GD
và sự phát triển của đất nước trong thời kì công nghiệp hóa, hiện
đại hóa. Việc đổi mới nội dung và cách thể hiện nội dung của SGK mới một mặt đòi
hỏi phải đổi mới PPDH Vật lí, mặt khác góp phần để GV thực hiện thành công quá
trình đổi mới này. Theo đó, việc dạy và học phải đạt được những mục tiêu nhất
định, đó là cung cấp những năng lực cần thiết cho HS trong thời kì này. Đó là các
năng lực:
- Năng lực hành động c
ó hiệu quả trên cơ sở kiến thức, kĩ năng, phẩm chất
hình t
hành trong học tập, rèn luyện và giao tiếp, năng lực tự khẳng định bản
thân
- Năng lực hợp tác, phối hợp hành động trong học tập và cuộc sống.
- Năng lực sáng tạo, có thể thích ứng với những thay đổi trong cuộc sống.
Đồng thời, trước thềm mỗi năm học mới, các GV đư
ợc bồi dưỡng về đổi mới
PPDH tạo nên những thay đổi trong nhận t
hức về đổi mới PPDH. Ngoài ra, chương
trình bồi dưỡng thường xuyên còn tăng cường được năng lực thực thi các PPDH
tiên tiến và sử dụng PTDH hiện đại của GV trong thực tiễn DH Vật lí THPT.
Mặt khác, HS lứa tuổi này trong xã hội hiện nay có những năng lực nhất định.
HS luôn m
uốn tự khẳng định mình. Các em thích tìm tòi kiến thức, tranh luận với
thầy cô và bạn bè. Đây là thuận lợi cơ bản trong việc thực hiện đổi mới PPDH Vật lí.
Cùng với đó là nỗ lực của chính phủ, BGD&ĐT, các ngành, các cấp trong toàn
xã hội đã tạo điều kiện c
ho thầy và trò học tập tốt hơn. Cụ thể là xây dựng mới
nhiều trường học, phòng học, trang bị nhiều PTDH hiện đại cho các trường. Kết
uan sát, dễ dàng tái hiện bằng thí nghiệm
trong lớp học. Cũng có những quá trình trong tự nhiên không thể quan sát bằng mắt
thường để xác định được các đại lượng cần thiết vì diễn biến của quá trình xảy ra
quá nhanh, hay quá chậm, ví dụ sự phóng xạ của một chất, sự chuyển mức năng
lượng electron, hay đơn giản chỉ là phân tích lực tác dụng lên vật trong quá trình
chuyển động. Một trong những giải pháp hỗ trợ là sử dụng M
VT để mô phỏng. Tuy
nhiên nó chỉ là công cụ thông minh và hiệu quả giúp GV phát huy tối đa tiềm năng
và thực hiện tốt những kĩ năng của mình. Đó là lý do tại sao những giờ giảng trực
tiếp, giọng nói, cử chỉ thầy và trò là điều không thể thiếu để tạo nên môi trường sư
phạm thực sự. Chúng ta cần tuân theo nguyên tắc sử dụng: đúng c
hỗ - đúng lúc - ở
mức độ vừa phải cần thiết để CNTT nói chung, MVT nói riêng phát huy hiệu quả
tích cực nhất.
1.2.
1.2 Tình hình ứng dụng CNTT trong dạy học ở các nước trên thế giới:
Những năm đầu của thế kỉ qua, học qua mạng ở các nước trên thế giới bùng
nổ. Lớp học qua mạng được quảng cáo rầm rộ với đầy đủ những dịch vụ đào tạo và
giáo dục. Sự xuất hiện của những hội nghị và nó trở nên ngày càng phổ biến. Một
trong những định nghĩa của “e-learning” (học qua mạng) là sử dụng các công nghệ
Web và Internet trong học tập. Tuy nhiê
n, việc sử dụng Website DH phát triển
không đồng đều tại các khu vực trên thế giới. Nó phát triển mạnh nhất ở khu vực
Bắc Mỹ (nổi bật là Hoa Kì), ở châu Âu rất có triển vọng (các quốc gia đầu tư nghiên
cứu vấn đề này như Ý, Pháp…), trong khi đó châu Á là khu vực ứng dụng công
nghệ này ít hơn.
Tại Mỹ, dạy và học điện tử nhận được sự ủng hộ và chính sách hỗ trợ của
Chí
nh phủ ngay từ cuối những năm 90. Theo các chuyên gia phân tích của Công ty
+ Sáng tạo là tìm ra cái mới, cách giải quyết mới, không bị gò bó,
không phụ thuộc vào cái đã có.
- Theo quan điểm Triết học: TTC nhận thức thể hiện thái độ cải tạo của chủ
thể nhận thức đối với đối tượng nhận thức, nghĩa là con người không chỉ hiểu được
các quy luật của tự nhiên, xã hội mà còn nghiên cứu cải tạo chúng phục vụ lợi ích
của con người. TTC là một phẩm chất vốn có của con người trong đời sống xã hội.
- Theo quan điểm tâm lí học, TTC nhận thức của HS tồn tại với tư cách cá
nhân với toàn bộ nhân cách của nó. Cũng như bất kì hoạt động nào khác, HĐNT
được tiến hành trên cơ sở huy động chức năng nhận thức, tình cảm và ý chí, trong
đó chức năng nhận thức đóng vai trò chủ yếu. Các yếu tố tâm lí kết hợp với
nhau
một cách hữu cơ, tác động lẫn nhau tạo nên tâm lí HĐNT.
TTC học tập - thực chất là TTC nhận thức, đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, cố
gắng trí lực và nghị lực trong quá trình chiếm lĩnh tri thức. TTC nhận thức trong
hoạt động học tập liên quan với động cơ học tập. Động cơ đúng tạo ra hứng thú.
Hứng thú l
à tiền đề của tự giác. Hứng thú và tự giác là 2 yếu tố tạo nên TTC. TTC
sản sinh nếp tư duy độc lập. Suy nghĩ độc lập là mầm mống của sáng tạo. Ngược
lại, phong cách học tập TC độc lập sáng tạo sẽ phát triển tự giác, hứng thú, bồi
dưỡng động cơ học tập. TTC học tập thể hiện qua các cấp độ từ thấp lên cao
như:bắt chước, tìm tòi, sáng tạo...
Các dấu hiệu thể hiện TTC trong học tập của HS là:
+ Có chú ý học tập không? Có hăng hái tham gia vào mọi hình thức hoạt
động học tập hay không (thể hiện ở việc hăng hái phát biểu ý kiến, ghi
chép…)?
+ Có hoàn thành những nhiệm vụ được giao không?
+ Có ghi nhớ tốt những điều đã được học không? Có hiểu bài học không?
+ Có thể trình bày bài học theo ngôn ngữ riêng không?
Làm sơ đồ, mô hình, làm bộc lộ cấu trúc
bài học, giúp HS dễ nhớ và vận dụng.
7 Chỉ dừng lại ở câu hỏi, bài tập. Thực hành nêu ý kiến riêng.
8 Không gắn lí thuyết với thực hành.
Lí thuyết kết hợp với thực hành, vận dụng
kiến thức vào cuộc sống.
9
Dùng thời gian học tập để nắm kiến
thức do thày giáo truyền thụ.
Cổ vũ cho HS tìm tòi bổ sung kiến thức từ
việc nghiên cứu lí luận và từ những bài
học kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn.
10 Nguồn kiến thức hạn hẹp. Nguồn kiến thức rộng lớn.
Việc phát huy TTC của HS đòi hỏi một kế hoạch lâu dài và toàn diện khi phối
hợp hoạt động của gia đình, nhà trường và xã hội. Các biện pháp nâng cao TTC
nhận thức của HS trong giờ lên lớp có thể tóm tắt như sau:
Nói lên ý nghĩa lí thuyết và thực tiễn, tầm quan trọng của vấn đề nghiên cứu.
Nội dung DH phải mới, nhưng không quá xa lạ với HS mà cái mới phải liên
hệ, phát triển cái cũ và có khả năng áp dụng trong tương lai. Kiến thức phải có tính
thực tiễn, gần gũi với sinh hoạt hàng ngày, thỏa mãn nhu cầu nhận thức của HS.
Phải dùng các PP đa dạng: nêu vấn đề, thí nghiệm, thực hành, so sánh, tổ
chức thảo luận, sêmina và phối hợp chúng với nhau.
Kiến thức được trình bày ở dạng động, phát triển và mâu thuẫn nhau, tập
trung vào vấn đề then chốt, lúc diễn ra một cách đột ngột, bất ngờ.
Sử dụng PTDH hiện đại. Sử dụng các hình thức tổ chức DH khác nhau: cá
nhân, nhóm, tập thể, tham quan, làm việc trong vườn trường, phòng thí nghiệm.
Luyện tập, vận dụng kiến thức vào thực tiễn trong các tình huống mới.
Thường xuyên kiểm tra đánh giá, khen thưởng, kỉ luật kịp thời, đúng mức
Kích thích TTC qua thái độ, cách ứng xử giữa GV và HS.
Phát triển kinh nghiệm sống của HS trong học tập qua các phương tiện thông
mới thành công. Sự phối hợp các PPDH nhằm k
hắc phục các nhược điểm của
PPDH truyền thống và phát huy các ưu điểm của các quan điểm, lí thuyết, PPDH
hiện đại, tiên tiến như: DH hướng vào HS, DH bằng tổ chức các hoạt động của HS,
DH chú trọng rèn luyện PP tự học, tự nghiên cứu, DH chú trọng đến việc trao đổi
kiến thức và bồi dưỡng kĩ năng, kĩ xảo.
DH vật lí ở phổ thông theo hướng TC hoá HĐNT của HS phù hợp với đặc trưng
môn học. Sử dụng rộng rãi thí nghiệm Vật lí ở nhà trường là một trong những biện
pháp quan trọng nhằm nâng cao chất lượng DH, góp phần TC hoá HĐNT của HS.
Ngày nay, hệ thống các bài thí nghiệm vật lí giáo khoa đã được xác định, thiết bị thí
nghiệm đư
ợc cung cấp về các trường phổ thông khá đầy đủ. Tuy nhiên, có những
thí nghiệm khó thực hiện, hoặc thực hiện được nhưng hiện tượng xảy ra nhanh khó
quan sát. Vì thế thí nghiệm ảo giúp GV và HS hoàn thành tốt việc dạy và học của
mình.
Việc phát huy TTC trong học tập của HS ở bậc phổ thông cần hết sức chú ý đến
yếu tố gốc của vấn đề. Đó c
hính là PPDH của GV. Do đó, việc vận dụng các PP,
phương tiện DH để phát huy TTC trong HĐNT của HS không chỉ ở các trường phổ
thông mà ngay cả các trường sư phạm.
1.2.2.3. Đặc trưng của các phương pháp dạy học tích cực.
Có thể so sánh đặc trưng của dạy học cổ truyền và dạy học mới như sau:
Dạy học cổ truyền Các mô hình dạy học mới
Quan
niệm
Quá trình tiếp thu và lĩnh hội,
hình thành kiến thức, kĩ năng,
tư tưởng, tình cảm.
là quá trình kiến tạo; HS tìm tòi, khám phá, phát
pháp
Các PP diễn giảng, truyền thụ
kiến thức một chiều.
PP tìm tòi, điều tra, giải quyết vấn đề; DH tương
tác.
Hình
thức tổ
chức
Cố định: Giới hạn trong 4 bức
tường của lớp học, GV đối
diện với cả lớp.
Cơ động, linh hoạt: Học ở lớp, phòng thí nghiệm,
hiện trường, thực tế…, học cá nhân, học đôi bạn,
học theo cả nhóm, cả lớp đối diện với GV.
1.2.2.4 Các phương pháp dạy học tích cực trong các loại hình nhà
trường:
+ Dạy học thông qua hoạt động của học sinh
Trong PPDHTC, người học, đối tượng của hoạt động dạy, đồng thời là chủ thể
của hoạt động học, được cuốn hút vào các hoạt động học tập do GV tổ chức và chỉ
đạo. Qua đó, tự lực khám phá những điều chưa biết chứ không phải là thụ động tiếp
thu những trí thức đã được GV sắp đặt ra. Từ đó, vừa nắm được kiến thức, kĩ năng
mới, vừa nắm được PP tìm ra kiến thức, kĩ năng đó, không rập theo khuôn mẫu có
sẵn, được bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo. Dạy theo cách này thì GV không
chỉ đơn giản là truyền đạt tri thức mà còn hướng dẫn hành động .
+ Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học
PPDHTC
xem việc rèn luyện PP học tập cho HS không chỉ là biện pháp nâng cao
hiệu quả DH mà còn là một mục tiêu học. Trong PP học thì cốt lõi là PP tự học.
à mỗi thầy cô cũng như
nhà trường phải trang bị cho HS. Với PP này, GV trở thành người thiết kế, tổ chức,
hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để HS tự chiếm lĩnh nội dung
học tập, chủ động đạt mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ theo yêu cầu của chương
trình. Ở trên lớp, với PPDH tích cực này thì HS hoạt động là chính, GV nhà
n nhạ
hơn. Song khi soạn giáo án GV đã phải đầu tư công sức, thời gian rất nhiều so với
kiểu dạy học thụ động, mới có thể thực hiện bài lên lớp với vai trò là người gợi mở,
xúc tác động viên, cố vấn, trọng tài trong các hoạt động tìm tòi hào hứng, tranh luận
sôi nổi của HS.
+ Phương pháp vấn đáp: Vấn đáp ( đàm thoại ) là PP trong đó G
V đặt ra câu hỏi,
HS trả lời, hoặc HS
có thể tranh luận với nhau và với cả GV; qua đó HS lĩnh hội
được nội dung bài học. Căn cứ vào tính chất hoạt động nhận thức, phân biệt các loại
PP vấn đáp:
- Vấn đáp tái hiện: G
V đặt câu hỏi chỉ yêu cầu HS nhớ lại kiến thức và trả lời dựa
vào trí nhớ, không cần suy luận. Vấn đáp tái hiện không được xem là PP có giá trị
sư phạm.
- Vấn đáp giải thích – minh hoạ : Nhằm mục đích làm sáng tỏ một đề tài nào đó,
GV lần lượt nêu ra những câu hỏi kèm theo những ví dụ m
inh hoạ để HS dễ hiểu,
dễ nhớ. PP này đặc biệt có hiệu quả khi có sự hỗ trợ các phương tiện nghe – nhìn.
- Vấn đáp tìm tòi (đàm thoại Ơxrixtic): GV dùng một hệ thống câu hỏi được sắp xếp
hợp lý để hướng HS từng bước phát hiện ra bản chất của sự vật, tính quy luật của
hiện tượng đang tìm
hiểu, kích thích sự ham muốn hiểu biết. GV tổ chức sự trao đổi
ý kiến – kể cả tranh luận – giữa thầy với cả lớp, có khi giữa trò với trò, nhằm giải
là một PPDHTC, năng động và
sáng tạo. Dưới góc độ lí luận DH hiện nay, DH
khám phá được hiểu theo nghĩa rộng, bao hàm các PPDHTC khác nhau. DH khám
phá là một quá trình, trong đó dưới vai trò định hướng của người dạy, người học
chủ động việc học tập của bản thân, hình thành các câu hỏi đặt ra trong tư duy, mở
rộng công việc nghiên cứu, tìm
kiếm; từ đó xây dựng nên những hiểu biết và tri
thức mới. Những kiến thức này giúp người học trả lời các câu hỏi, tìm kiếm các giải
pháp khác nhau để giải quyết các vấn đề, chứng minh một định lí hay một quan
điểm. DH khám phá được sử dụng chủ yếu trong DH các môn khoa học trong nhà
trường. Và Vật lí học là một trong những m
ôn học có thể sử dụng PPDH này có
hiệu quả. Có 4 kiểu khám phá: khám phá quy nạp, khám phá diễn dịch, DH tự phát
hiện, học tập khám phá, giải quyết vấn đề.
- Phương pháp thảo luận: là PPDH đòi hỏi người học phải tích cực động não, đưa ý
kiến tham gia quá trình thảo luận. PP này giúp người học khám phá sự đa dạng của
vấn đề, nhận thức về sự tồn tại các cách nhìn nhận khác nhau trong kỷ nguyên của
khám
phá tri thức. Để thực hiện thành công PP thảo luận, người dạy cần làm tốt
công việc:
+ Phân chia lớp học thành các nhóm, tạo điều kiện cho nhóm làm việc thuận lợi.
+ Mỗi nhóm cử nhóm trưởng, thư kí điều hành và ghi chép về quá trình thực
hiện của nhóm. Tạo điều kiện cho mỗi thành viên phát biểu các ý kiến và suy
nghĩ của mình một cách tự do và bình đẳng.
+ GV cần chuẩn bị một cách chủ động, tích cực để chương trình làm việc và
thảo luận của các nhóm sinh động và có hiệu quả, đồng thời tạo bầu không khí
chân thành, cởi mở trong thảo luận. GV chỉ can thiệp khi thấy thực sự cần thiết.
+ Khi hết thời gian thảo luận, các nhóm cử đại diện lên trình bày kết quả của
nhóm.
thầy trò tổ chức những hoạt động học tập tích cực; giảm những thông tin buộc HS
phải thừa nhận và ghi nhớ máy móc, tăng cường các bài toán nhận thức để HS tập
giải; bớt những câu hỏi tái hiện, tăng cường loại câu hỏi phát triển trí thông minh.
- TBDH : là điều kiện không thể thiếu cho việc triển khai chương trình, SGK nói
chung và đặc biệt cho việc triển khai đổi mới PP
DHTC vào HS. Đáp ứng yêu cầu
này PTDH phải tạo điều kiện thuận lợi cho HS thực hiện các hoạt động độc lập
hoặc các hoạt động nhóm. Cơ sở vật chất của nhà trường cũng cần hỗ trợ đắc lực
cho việc tổ chức DH được thay đổi dễ dàng, linh hoạt, phù hợp với DH cá thể, D
H
hợp tác.
Trong quá trình biên soạn SGK, SGV, các tác giả đã chú ý lựa chọn danh mục
thiết bị và chuẩn bị các TBDH theo một số yêu cầu để có thể phát huy vai trò
TBDH.
- Đảm bảo tính đồng bộ, hệ thống, thực tế và đạt chất lượng cao, tạo điều kiện
đẩy mạnh hoạt động của HS trên cơ sở tự giác, tự khám phá kiến thức thông qua
hoạt động thực hành, thâm nhập thực tế trong quá trình học tập.
- Đảm bảo để nhà trường có t
hể đạt được TBDH ở mức tối thiểu, đó là những
thiết bị thực sự cần thiết không thể thiếu được. Các nhà thiết kế và sản xuất thiết bị
dạy học sẽ quan tâm để có giá thành hợp lí với chất lượng đảm bảo.
- Chú trọng thiết bị thực hành giúp HS tự tiến hành thực hà
nh thí nghiệm.
Những thiết bị đơn giản có thể được GV, HS tự làm góp phần phong phú TBDH
của nhà trường. Công việc này rất cần được quan tâm và chỉ đạo của lãnh đạo
trường, Sở.
- Đổi mới ĐG kết quả học tập của học sinh. ĐG là một khâu quan trọng không thể
thiếu trong quá trình giáo dục. ĐG thường nằm ở giai đoạn cuối cùng một giai đoạn
giáo dục và trở thành khởi điểm của một g
iai đoạn giáo dục tiếp theo với yêu cầu
Hoạt động
của GV
Hoạt động
của HS
Mục đích
của GV
Phương tiện
của GV
Mục đích
của HS
Phương tiện
của HS
Cơ chế thay đổi
nhân cách HS
(Quá trình lĩnh hội)
Mục đích đạt được
dưới sự tác động của
hoạt động hợp tác
PPDH mới p
hải theo xu hướng tích cực hoá HĐNT của HS, năng lực thực
hành, năng lực tự nghiên cứu. M
uốn đạt được điều đó thì không có cách nào khác là
phải tăng cường trang bị và đặc biệt là nâng cao hiệu quả sử dụng TBDH trong đó
chú trọng các phương tiện nghe nhìn và ứng dụng CNTT và truyền thông vào DH.