Những biến đổi nghệ thuật trên hành trình thơ chữ Hán của Nguyễn Thượng Hiền (tiếp theo)_3 pot - Pdf 19

Những biến đổi nghệ thuật trên
hành trình thơ chữ Hán của
Nguyễn Thượng Hiền (tiếp theo) Có cái tâm lý buồn phiền không kéo lùi ta xuống mà nâng đỡ tâm hồn ta, rèn cho ta bớt
phần yếu đuối. Nguyễn Thượng Hiền ở vào trường hợp ấy. Thẳng thắn và chân thành, cứ mỗi lần
vướng mắc trong nhận thức, ông lại cố vượt mình. Cứ thế mà từng bước, nhà thơ thay đổi cách suy
nghĩ, và cả cảm hứng nghệ thuật. Có một lần sau 30 ngày mưa dầm liên miên, trời hửng nắng chốc
lát. Ông bước ra cửa định tìm thi hứng trong hoa mai. Nhưng trời bỗng lại kéo mây đen kịt. Cơn
mưa lớn báo hiệu viễn ảnh của một cuộc sống cơ hàn. Ông rộn lên một tình thương: “Chỉ buồn cho
muôn dân phần lớn đều sắc đói / Lúa không trồng được, dâu và đậu đều bỏ hoang” (Tức sự). Ông
bỗng căm giận vô hạn cái bọn người bất lương, thừa dịp này giở trò kiếm chác: “Riêng có bọn cỏ
dại là ra chiều đắc ý”. Và thế là thi hứng về hoa mai phút chốc chuyển sang một thi hứng trái
ngược hẳn: “Hỡi ôi! Ai có thể miêu tả được nỗi khổ của dân đen / Để gửi lên cho thầy mưa bác gió
trên trời xem”. Bài thơ có một tiết tấukhông bình thường. Dùng hình thức cổ phong - một thể thơ
tự do, nửa bài trên gieo toàn vần trắc, không ngắt nhịp giữa câu mà ngắt nhịp hai câu một, kết cấu
từ ngữ theo kiểu giật cấp: hai câu đầu năm chữ, tiếp liền là hai cặp câu bảy chữ - tác giả muốn thể
hiện những trạng thái uẩn khúc đang diễn ra trong lòng ông. Thoạt đầu, người làm thơ bị vỡ mộng
vì sự tương phản giữa ước mơ (hoa mai) và thực tế (mây đen như mực); nhưng rồi từ thực tế này
dẫn dắt đến một thực tế khác (sắc mặt người dân xanh như rau); và từ thực tế khác lại dẫn dắt đến
một thực tế khác còn tồi tệ hơn (loài cỏ dại đắc chí trong mưa) Bấy nhiêu thứ vò xé tâm hồn nhà
thơ:
Nhất vũ tam thập nhật,
Vi tình đãn khoảnh khắc/
Xuất môn hoãn bộ tầm mai hoa,
Phong lai hựu kiến vân như mặc/
U khâm bất thiếp hà túc than,

thay được thi hứng chính là chuyện vất vả nhất đối với một nghệ sĩ. Mà lúc này Nguyễn Thượng
Hiền lại là một nghệ sĩ đang muốn dấn thân, cho nên đổi thay trong thi hứng tất sẽ kéo theo sự
chuyển đổi mục đích của văn chương: văn chương viết ra không còn để cho mình mà cho công
cuộc vận động cứu nước. Bản thân người làm văn cũng phải là người đi đầu thực hiện mục tiêu
cứu nước của văn học. Trong một trận đói khủng khiếp dưới triều Thành Thái, Nguyễn Thượng
Hiền đã đứng ra tổ chức quyên góp để lấy tiền cứu giúp nhân dân. Không hiểu công việc cứu tế
này có đem lại lợi ích thiết thực gì không, nhưng tác dụng trực tiếp đối với ông là qua đó, ông lần
đầu làm quen với việc vận động quần chúng. Hơn nữa, từ trong công việc, ông còn có dịp nghiền
ngẫm sâu hơn ý nghĩa của việc dùng đồng tiền, việc bắt tay làm kinh tế vì một lý tưởng cao cả. Tuy
vẫn còn đứng về phía đạo đức mà đánh giá cách huy động tiền bạc, nhà nho ở ẩn họ Nguyễn lại
một phen nữa chứng tỏ mình đang may mắn thoát khỏi sức hút của kiểu nhà nho hành lạc - nhiều
nhà nho cùng thời đã không thoát được - mà chuyển đổi thành nhà nho canh tân:
Huy chi duyệt giai lệ,
Thiên kim khinh thảo gian.
Dụng chi tế cùng lũ,
Nhất tiền trọng khưu san.
(Tặng Hoàng Tắc Phu)
(Đem tiền vứt đám trăng hoa,
Nghìn vàng cũng nhẹ như là cỏ rơm.
Đem tiền vứt đám thiếu cơm,
Một đồng cũng nặng như chòm núi cao).
(Lê Thước, Vũ Đình Liên dịch)
Bài thơ đã thấy phảng phất một lời kêu gọi “hợp đoàn” phổ biến trong thế hệ sĩ phu duy tân
thời ấy.
Nguyễn Thượng Hiền còn dùng thơ để bày tỏ chủ kiến trên nhiều vấn đề của cuộc vận
động cứu nước đương thời. Mỗi bài thơ giúp ông tiến thêm một bước đến gần các tư tưởng cấp
tiến hoặc bộc lộ rõ hơn cái phần cố hữu không sao thay đổi được ở ông. Trong câu chuyện đấu
tranh có lúc gay gắt giữa hai đường lối ôn hòa và khích liệt, tuy không phải là người đứng mũi chịu
sào về mặt tổ chức, ông cũng có cách nghĩ của riêng mình: “Đầu nhận nan linh tứ hải nhàn?” -
Quẳng đồ binh khí đi thì khó lòng khiến cho bốn bể yên được (Khiển hoài). Sau này, ra nước

chứa một sức nén, sức ngân vang sâu thẳm, nhưng muốn tác động đến đại chúng lại không khỏi có
chỗ khó khăn, cách bức. Bởi thế, muốn xem xét thấu đáo thành tựu văn học của Nguyễn Thượng
Hiền ở chặng đường tham gia phong trào Duy tân và Đông du, còn phải nhìn sang các thể loại
khác: phần thơ phú tiếng Việt ông sáng tác những năm 1905-1907 và phần truyện ký văn xuôi ông
viết trong thời gian ở Trung Quốc, trong đó có những truyện người thật việc thật như truyện nhà
chí sĩ Nguyễn Cao, đã được viết ở Hát Đông thư dị, lại được ông nghiền ngẫm sáng tạo lại một lần
thứ hai trên cơ sở một cảm hứng nghệ thuật đột xuất - không lấy tâm trạng người chí sĩ thất thế tự
hủy mìnhlàm chủ điểm mà lấy dân làm điểm nhìn. Đó hẳn cũng là những đề tài nghiên cứu lý thú.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status