Kỷ yếu hội thảo về thời kỳ Hùng Vương
Thời An Dương Vương trong
quan hệ với thời Hùng Vương
Kết quả công tác của các nhóm nghiên cứu về thời kỳ lịch sử Hùng
Vương đã cho biết tương đối rõ ràng-ít nhất là ở giai đoạn cuối-tình hình
nhiều mặt của nước Văn Lang xưa.
Chúng ta cỏ thề ước đoán số dân nước Văn Lang có khoảng trên dưới
1.000.000 người, bao gồm nhiều thành phần dân tộc sống trên miền đất
suốt từ phía nam Quảng Đông, Quảng Tây Trung Quốc, cho tới miền
Bắc Bộ và bắc Trung Bộ mà trung tâm là vùng giáp ranh giữa trung du
và đồng bằng Bắc Bộ.
Chúng ta đã nhận thức được vai trò chủ đạo của nghề trồng lúa nước
trong nền kinh tế thời Hùng Vương. Người thời đó có thể đã biết dùng
cày. Nghề luyện đồng đã đạt tới đỉnh cao. Những chiếc trống đồng nổi
tiếng đã làm kinh ngạc cả những người thợ đúc giỏi đời nay. Những
công cụ sản xuất bằng đồng như lưỡi cày, lưỡi rìu, lười câu, giáo đã
nhiều hơn các công cụ đá. Dấu vết đồ sắt đã được tìm thấy ở một số di
chỉ, hiện tượng này cho phép giải thích nền tảng hiện thực của hình
tượng roi sắt và ngựa sắt trong câu chuyện người anh hùng làng Dóng ở
thời Hùng Vương.
Cái xã hội tổ chức còn giản dị với những thành viên thuần phác đời đời
cần cù lao động này cũng đã nảy sinh mâu thuẫn. Quân đội đã ra đời,
nhưng có quân đội thường trực hay chưa là điều cần tiếp tục nghiên cứu.
Dù người chiến binh đồng thời là người sản xuất, vũ khí đồng thời cũng
có thể là công cụ sản xuất (rìu, giáo, lao, mũi tên), thì ta cũng đã thấy
được ràng xã hội thời này đã nhiều phen biến động.
Mọi mặt của xã hội cuối thời Hùng Vương được tiếp tục bảo tồn và phát
Vào nửa sau thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên, nước Âu Lạc ra đời (2).
Về năm mở đầu của nước Âu Lạc còn có những ý kiến khác như: Năm
257 trước Công nguyên (theo Đại Việt sử ký toàn thư); Năm 210 trước
Công nguyên (theo L.Ô-rút-xô); Năm 208 trước Công nguyên (theo Đào
Duy Anh) khoảng trước sau thằng lợi của cuộc kháng chiến chống Tần.
Nước Âu Lạc là sự sát nhập của hai thành phần Âu và Lạc (3) Xem thêm
Nguyễn Duy Hinh: Bàn về nước Âu Lạc và An Dương Vương Khảo cổ
học, Hà Nội, số 3-4, tháng 12-1969, tr.145-150. Tác giả cho rằng chỉ có
người Lạc Việt nói chung, Tây Âu, Tây Âu Lạc hay Âu Lạc chỉ là tên
của một nước của người Lạc Việt). Cuộc “Chiến tranh” Thục-Hùng thực
chất chỉ là sự xung đột nội bộ trong tiến trình hình thành dân tộc, phù
hợp với quy luật phát triển của lịch sử. Căn cứ vào sự ghi chép của sử
cũ, không thấy nêu rõ sự tình một cuộc chinh phục. Truyền thuyết cũng
không coi An Dương Vương như kẻ thống trị ngoại tộc, và căn cứ cả
vào nhưng phát hiện khảo cổ học, không thấy có một văn hóa vật chất
riêng biệt của thời kỳ An Dương Vương, ta có thể thừa nhận An Dương
Vương vốn cũng là “Hùng gia chi phái” (4 Xem Thục An Dương Vương
tiên đế ngọc phả cổ lục, và Trưng nữ Vương triều âm phủ nhất vị công
chúa ngọc phả cổ lục) đã tiếp nhận cơ đồ Hùng Vương, kế tục còng việc
dựng nước và giữ nước buổi đầu lịch sử. Âu Lạc chỉ là sự tiếp nối của
Văn Lang trên một mức phát triển cao hơn. Về mặt tình cảm dân tộc
cũng vậy, nhân dân ta bao đời nay đều trân trọng kính thờ cả Vua Hùng
lẫn Vua Thục. Vua chúa của các triều đại về sau đều gia phong mỹ tự,
coi cả Vua Hùng và Vua Thục là những vị “hộ quốc tý dân”. Hàng năm
đền Hùng mở hội lớn, thì hàng năm đền An Dương Vương cũng mở hội
không kém phần long trọng. Nhiều năm tìm kiếm, khai quật trên địa bàn
nước văn Lang và Âu Lạc cũ, người cán bộ khảo cổ học chỉ thấy rõ nét
một nền văn hóa chung, liên tục phát triển từ thời vua Hùng cho mãi tới
thời khởi nghĩa của Hai Bà Trưng. Nền văn hóa Đông Sơn rực rỡ nảy
sinh từ thời các vua Hùng cho tới mãi thời thuộc Đông Hán mới có thể
thêm tư liệu gì để có thể thay đổi nhận định trên. Dấu vết văn hóa Tây
Hán khá mờ nhạt trên khắp vùng Bắc Bộ và bắc Trung Bộ Việt Nam.
Ngược lại, bước sang thời Đông Hán tình hình thay đổi hẳn. Số lượng
lớn những ngôi mộ gạch Hán cùng những vật tùy táng đồng thời với rất
nhiều di vật tìm thấy ở những di chỉ lớn, các trung tâm hành chính, kinh
tế đương thời như Luỵ Lâu (Hà Bắc) khiến ta đoán nhận được ngày một
sự thay đổi đột ngột, mạnh mẽ, tựa hồ như một bước ngoặt gấp khúc của
những đặc điểm văn hóa vật chất trên đất Việt Nam.
Hiện tượng này giúp ta xác định rõ đặc điểm bản địa vẫn chiếm địa vị
chủ đạo trong bộ mặt văn hóa vật chất của những thời kỳ lịch sử ngắn
ngủi tiếp sau hời kỳ Hùng Vương: từ thời Thục An Dương Vương, qua
thời thuộc Triệu cho tới cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng nổi tiếng, chấn
động cả triều đình Đông Hán.