Sự kết hợp giữa yếu tố tự trào và tự thuật trong phú Nôm trung đại _2 potx - Pdf 19

Sự kết hợp giữa yếu tố tự
trào và tự thuật trong phú
Nôm trung đại

Từ Tịch cư ninh thể phú (Nguyễn Hãng) ở thế kỷ XVI đến Thầy đồ ngông
phú (Nguyễn Khuyến), Hỏng thi phú (Tú Xương), ra đời vào cuối thế kỷ XIX, tiếng
cười tự trào thường xuyên hiện diện, hình thành nên một mảng sáng tác độc đáo của phú
Nôm trung đại. Cũng là nói về kẻ sĩ nhưng nếu phú chữ Hán chủ yếu đề cao nét đẹp
chuẩn mực của người trí thức thì phú quốc âm nhìn ngắm, trêu ghẹo, cười cợt họ ở
khuôn mặt đời thường. Sự kết hợp giữa hai yếu tố tự trào và tự thuật đã mang đến cho
tiếng cười tự trào ý nghĩa nhân văn sâu sắc, biểu hiện ở cách con người tự nhận thức và
phán xét về mình, ở sự trưởng thành của cái tôi cá nhân trên tiến trình hiện đại hóa văn
học.
Trong phú Nôm trung đại, cái hài và việc tự xét lại bản thân (của các tác giả) trở
thành hai yếu tố có mối quan hệ biện chứng. Con người tự phán xét sẽ thể hiện mình
qua tiếng cười tự trào. Cố nhiên, sự kết hợp giữa yếu tố tự trào và tự thuật không phải
độc quyền của phú Nôm. Khi các thiết chế chính trị, tư tưởng Nho giáo lung lay, rạn
vỡ cũng là lúc tiếng cười có cơ hội bùng phát trong văn chương. Nhưng phải chăng sự
nảy sinh của một thế giới nghệ thuật tràn đầy tiếng cười trong phú quốc âm chẳng qua
chỉ do thời đại đã áp phong cách của nó lên thể loại? Phải chăng chỉ là ngẫu nhiên khi
tiếng cười tự trào đã in vào lịch sử văn học dân tộc một ấn tượng nổi bật ở thể phú với
những Tịch cư ninh thể phú (Nguyễn Hãng), Hàn nho phong vị phú (Nguyễn Công
Trứ), Tài tử đa cùng phú (Cao Bá Quát), Thầy đồ ngông phú (Nguyễn Khuyến), Hỏng
thi phú (Tú Xương)? Lẩy ra một vài câu trong Hàn nho phong vị phú chẳng hạn là có
thể thấy ngay sự hài hước tràn trên câu chữ:
Bốn vách tường mo;
Ba gian nhà cỏ.
Đầu kèo mọt tạc vẽ sao;

Ở phương diện này, Tịch cư ninh thể phú (Nguyễn Hãng) đáng được ghi nhận ở
công lao đặt nền móng đầu tiên cho sự hiện diện của “cái tôi” – tự miêu tả trong phú
Nôm, mặc dù đó mới là “cái tôi” đang chuyển mình, chưa hoàn chỉnh. Con người không
chỉ ẩn mình sau hình bóng của muôn thế hệ đi trước mà còn được trình bày như một
thực thể với diện mạo riêng. Cho nên, sau khóm trúc, dưới mái nhà tranh, không phải
một dật sĩ chung chung như ta vẫn hình dung mà phần nào là một ông lão biết “nhìn
mình” như “mình” vốn có. Nhà nho ẩn dật ấy đôi lúc cũng có vẻ “tiên phong đạo cốt”
dạo bước giữa thiên nhiên xinh xắn mang màu sắc Đường thi:
Dấu ngựa xe chẳng đến, cỏ bén hơi xuân;
Bạn viên hạc quen tìm, hoa cười đón khách.
Cầm một trương, thơ mấy quyển, đủ tháng ngày ngâm ngợi,
ấy thú mầu ông Mạnh Hiệu Nhiên;
Lan chín khóm, cúc ba hàng, dõi hôm sớm bù trì, này của báu
gã Đào Bành Trạch.
Tuy nhiên, trong tổng thể cả bài phú, con người lại hiện lên với dáng vẻ hài hước,
theo một kiểu “không giống ai” như tác giả tự nhận “pha phách thói Nho, Y, Đạo,
Thích”:
Ăn thì:
Tương hạnh chua lòm;
Muối vầu nhạt thếch.
Sớm ba chén chè sen mát ruột, nài chi vò đất hẩm hiu;
Bữa vài lưng cơm lốc no lòng, sá quản mâm đan xộc xệch.
Vị tươi thường ngọn quất, lá vi;
Miếng ngon đủ nhân tùng, hạt bách.
Tiệc vầy tiên tử, một niêu canh cẩu kỷ chát sì;
Yến thiết cố nhân, lưng bầu rượu xương bồ cay rách.
Thuốc phì phào quản sậy, điếu tre;
Trầu phúm phím vỏ dà, rễ quạch.
Ép dưa măng, mài bột củ, những giao cho mụ lão lom khom;
Quét sân lá, hái nương rau, dầu phó mặc thằng đồng lách chách.

phán. Nhà thơ không phải tự giễu mình mà chẳng qua mượn cách nói ngược làm phương
tiện hữu hiệu để khắc họa sự đảo chiều của những giá trị trong cuộc sống: đạo đức bị hạ
thấp, quyền lực và đồng tiền lên ngôi. Từ đầu đến cuối, dáng vẻ chung về người ẩn sĩ mà
Tuyết Giang phu tử gợi lên cho người đọc vẫn luôn thống nhất trong hình ảnh một nhà
nho nghiêm túc, đạo mạo. Ngược lại, ở Tịch cư ninh thể phú, tiếng cười với vẻ đẹp và khí
tiết thanh cao của người quân tử có thể hòa hợp cùng nhau. Không phải ngẫu nhiên ngôn
từ trong Tịch cư ninh thể phú, tuy chưa phải toàn bộ, nhưng đã có một phần lớn chạm đến
lớp vỏ xù xì, lắm khi trần trụi của ngôn từ tả chân, để mỗi khi từ ngữ va chạm vào nhau lại
làm vang lên âm thanh của tiếng cười trào lộng. Thậm chí, tác giả sẵn sàng vi phạm
nguyên tắc không gieo chữ trùng của thể phú để nhiều lần nhắc đi nhắc lại một loạt từ có
yếu tố “sì”: “đen sì”, “hẩm sì”, “chát sì”. Bản thân “sì” là yếu tố mang nghĩa, chỉ tính
chất ở mức độ cao, thường trông xấu hoặc gây cảm giác khó chịu. Khi đi cùng với những
tính từ cùng thống nhất với nhau ở tính chất cực tả và mang hàm ý phủ định trong
nghĩa: đen sì – đỏ quạch, hẩm sì – cũ rích, chua lòm – nhạt thếch, chát sì – cay rách, kết
cấu ngôn từ này có ý nghĩa nhiều hơn là sự phá vỡ quy tắc chuẩn mực của phú. Cái nó
thật sự làm rạn nứt là quan niệm của nhà nho về phương pháp xây dựng cái đẹp (ở đây
hiện thân qua ẩn sĩ) bởi lẽ chính quan niệm của nhà nho về đạo đức và văn học đã tạo nên
tính quy phạm của ngôn từ nghệ thuật. Quan niệm về cái đẹp, cái xấu ngoài cuộc đời và
trong văn học đều trở thành nguyên tắc nghệ thuật. Cái đẹp, cái cao quý gắn với ngôn ngữ
ước lệ lấy từ hình ảnh thiên nhiên, còn cái xấu, cái ác, cái gian tà được gắn với ngôn ngữ
của đời thường. Tiếp cận đối tượng trên nguyên tắc miêu tả chân thực đến mức trần trụi,
soi thẳng vào từng đường nét xù xì của hiện thực đương nhiên không dành cho cái đẹp.
Và vì thế, sự xô lệch giữa hình thức (xấu xí) và nội dung (tốt đẹp) với mục đích khắc họa
tỉ mỉ chân dung nhân vật đã dẫn thẳng đến cái hài.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status