Sự kết hợp giữa yếu tố tự trào và tự thuật
trong phú Nôm trung đại
12/10/2010 11:43
Từ "Tịch cư ninh thể phú" (Nguyễn Hãng) ở thế kỷ XVI đến "Thầy đồ ngông phú" (Nguyễn
Khuyến), "Hỏng thi phú" (Tú Xương), ra đời vào cuối thế kỷ XIX, tiếng cười tự trào thường
xuyên hiện diện, hình thành nên một mảng sáng tác độc đáo của phú Nôm trung đại. Cũng là nói
về kẻ sĩ nhưng nếu phú chữ Hán chủ yếu đề cao nét đẹp chuẩn mực của người trí thức thì phú
quốc âm nhìn ngắm, trêu ghẹo, cười cợt họ ở khuôn mặt đời thường. Sự kết hợp giữa hai yếu tố
tự trào và tự thuật đã mang đến cho tiếng cười tự trào ý nghĩa nhân văn sâu sắc, biểu hiện ở cách
con người tự nhận thức và phán xét về mình, ở sự trưởng thành của cái tôi cá nhân trên tiến trình
hiện đại hóa văn học.
Từ Tịch cư ninh thể phú (Nguyễn Hãng) ở thế kỷ XVI đến Thầy đồ ngông phú (Nguyễn
Khuyến), Hỏng thi phú (Tú Xương), ra đời vào cuối thế kỷ XIX, tiếng cười tự trào thường xuyên
hiện diện, hình thành nên một mảng sáng tác độc đáo của phú Nôm trung đại. Cũng là nói về kẻ
sĩ nhưng nếu phú chữ Hán chủ yếu đề cao nét đẹp chuẩn mực của người trí thức thì phú quốc âm
nhìn ngắm, trêu ghẹo, cười cợt họ ở khuôn mặt đời thường. Sự kết hợp giữa hai yếu tố tự trào và
tự thuật đã mang đến cho tiếng cười tự trào ý nghĩa nhân văn sâu sắc, biểu hiện ở cách con người
tự nhận thức và phán xét về mình, ở sự trưởng thành của cái tôi cá nhân trên tiến trình hiện đại
hóa văn học.
Trong phú Nôm trung đại, cái hài và việc tự xét lại bản thân (của các tác giả) trở thành hai
yếu tố có mối quan hệ biện chứng. Con người tự phán xét sẽ thể hiện mình qua tiếng cười tự
trào. Cố nhiên, sự kết hợp giữa yếu tố tự trào và tự thuật không phải độc quyền của phú Nôm.
Khi các thiết chế chính trị, tư tưởng Nho giáo lung lay, rạn vỡ cũng là lúc tiếng cười có cơ hội
bùng phát trong văn chương. Nhưng phải chăng sự nảy sinh của một thế giới nghệ thuật tràn
đầy tiếng cười trong phú quốc âm chẳng qua chỉ do thời đại đã áp phong cách của nó lên thể
loại? Phải chăng chỉ là ngẫu nhiên khi tiếng cười tự trào đã in vào lịch sử văn học dân tộc một
ấn tượng nổi bật ở thể phú với những Tịch cư ninh thể phú (Nguyễn Hãng), Hàn nho phong vị
thân như một thực thể riêng biệt không thuộc về cộng đồng chung thì “vô ngã” đã chuyển dần
sang “hữu ngã”.
Ở phương diện này, Tịch cư ninh thể phú (Nguyễn Hãng) đáng được ghi nhận ở công lao đặt
nền móng đầu tiên cho sự hiện diện của “cái tôi” – tự miêu tả trong phú Nôm, mặc dù đó mới là
“cái tôi” đang chuyển mình, chưa hoàn chỉnh. Con người không chỉ ẩn mình sau hình bóng của
muôn thế hệ đi trước mà còn được trình bày như một thực thể với diện mạo riêng. Cho nên, sau
khóm trúc, dưới mái nhà tranh, không phải một dật sĩ chung chung như ta vẫn hình dung mà
phần nào là một ông lão biết “nhìn mình” như “mình” vốn có. Nhà nho ẩn dật ấy đôi lúc cũng có
vẻ “tiên phong đạo cốt” dạo bước giữa thiên nhiên xinh xắn mang màu sắc Đường thi:
Dấu ngựa xe chẳng đến, cỏ bén hơi xuân;
Bạn viên hạc quen tìm, hoa cười đón khách.
Cầm một trương, thơ mấy quyển, đủ tháng ngày ngâm ngợi,
ấy thú mầu ông Mạnh Hiệu Nhiên;
Lan chín khóm, cúc ba hàng, dõi hôm sớm bù trì, này của báu
gã Đào Bành Trạch.
Tuy nhiên, trong tổng thể cả bài phú, con người lại hiện lên với dáng vẻ hài hước, theo một
kiểu “không giống ai” như tác giả tự nhận “pha phách thói Nho, Y, Đạo, Thích”:
Ăn thì:
Tương hạnh chua lòm;
Muối vầu nhạt thếch.
Sớm ba chén chè sen mát ruột, nài chi vò đất hẩm hiu;
Bữa vài lưng cơm lốc no lòng, sá quản mâm đan xộc xệch.
Vị tươi thường ngọn quất, lá vi;
Miếng ngon đủ nhân tùng, hạt bách.
Tiệc vầy tiên tử, một niêu canh cẩu kỷ chát sì;
Yến thiết cố nhân, lưng bầu rượu xương bồ cay rách.
Thuốc phì phào quản sậy, điếu tre;
Trầu phúm phím vỏ dà, rễ quạch.
tiếng cười với vẻ đẹp và khí tiết thanh cao của người quân tử có thể hòa hợp cùng nhau. Không
phải ngẫu nhiên ngôn từ trong Tịch cư ninh thể phú, tuy chưa phải toàn bộ, nhưng đã có một phần
lớn chạm đến lớp vỏ xù xì, lắm khi trần trụi của ngôn từ tả chân, để mỗi khi từ ngữ va chạm vào
nhau lại làm vang lên âm thanh của tiếng cười trào lộng. Thậm chí, tác giả sẵn sàng vi phạm
nguyên tắc không gieo chữ trùng của thể phú để nhiều lần nhắc đi nhắc lại một loạt từ có yếu tố
“sì”: “đen sì”, “hẩm sì”, “chát sì”. Bản thân “sì”... là yếu tố mang nghĩa, chỉ tính chất ở mức độ
cao, thường trông xấu hoặc gây cảm giác khó chịu. Khi đi cùng với những tính từ cùng thống nhất
với nhau ở tính chất cực tả và mang hàm ý phủ định trong nghĩa: đen sì – đỏ quạch, hẩm sì – cũ
rích, chua lòm – nhạt thếch, chát sì – cay rách, kết cấu ngôn từ này có ý nghĩa nhiều hơn là sự phá
vỡ quy tắc chuẩn mực của phú. Cái nó thật sự làm rạn nứt là quan niệm của nhà nho về phương
pháp xây dựng cái đẹp (ở đây hiện thân qua ẩn sĩ) bởi lẽ chính quan niệm của nhà nho về đạo đức
và văn học đã tạo nên tính quy phạm của ngôn từ nghệ thuật. Quan niệm về cái đẹp, cái xấu ngoài
cuộc đời và trong văn học đều trở thành nguyên tắc nghệ thuật. Cái đẹp, cái cao quý gắn với ngôn
ngữ ước lệ lấy từ hình ảnh thiên nhiên, còn cái xấu, cái ác, cái gian tà được gắn với ngôn ngữ của
đời thường. Tiếp cận đối tượng trên nguyên tắc miêu tả chân thực đến mức trần trụi, soi thẳng vào
từng đường nét xù xì của hiện thực đương nhiên không dành cho cái đẹp. Và vì thế, sự xô lệch
giữa hình thức (xấu xí) và nội dung (tốt đẹp) với mục đích khắc họa tỉ mỉ chân dung nhân vật đã
dẫn thẳng đến cái hài.
Đến thế kỷ XVIII với tác phẩm của Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, cái áo khoác đẹp đẽ về
cuộc sống hàn nho bị xé rách, phơi bày ra đủ mọi điều đắng cay, cực nhục. Nhà nho chẳng thể
đứng ngoài phán xét đồng tiền như cách hành xử của Nguyễn Bỉnh Khiêm hơn hai trăm năm
trước. Nhà nho chịu ảnh hưởng nhiều từ tư tưởng thị dân cũng cần ăn, cần mặc và nuôi sống gia
đình. Tất cả những vất vả, chua chát ấy được Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát kể lại rất thành
thật:
Chém cha cái khó, chém cha cái khó,
Khôn khéo mấy ai, xấu xa một nó.
(Nguyễn Công Trứ - Hàn nho phong vị phú)
hay:
mà điều cốt yếu nằm ở cách tác giả tự nhìn nhận một cách thành khẩn và chua xót khuôn mặt
phía sau, khuôn mặt không lấy gì làm đẹp đẽ với những cái bình thường, thậm chí tầm thường,
tẹp nhẹp:
Nghiện chè nghiện rượu, nghiện cả cao lâu;
Hay hát hay chơi, hay nghề xuống lõng.
Quanh năm phong vận: áo hàng Tàu, khăn lượt, ô Nhật Bản xanh;
Ra phố xênh xang: quần cát bá, tất tơ, giày Gia Định bóng.
Giá cứ chăm nghề đèn sách, thì mười lăm mười sáu, đỗ tự bao giờ;
Chỉ vì quen lối thị thành, nên một tuổi một già, hóa ra lóng đóng.
Hoặc rõ hơn nữa, trong Lạc đệ tự trào phú (Khuyết danh):
Những e ấp chửa mang nổi mình ốc, lại ra sự dắt tay trẻ xuống giếng,
chấp chảnh làm gà;
Toan kéo co trả nợ tổ tôm thua, khéo giở tuồng đơm đó cá ngọn tre,
kiếm ăn như rái.
Đáng chú ý, Hỏng thi phú hay Lạc đệ tự trào phú không phải hiện tượng cá biệt. Những
Học trò lười dốt phú (Khuyết danh), Thầy đồ ngông phú (Nguyễn Khuyến), Hỏng thi phú
(Khuyết danh)… đã tạo thành một xu hướng mới cho phú Nôm: lấy cuộc đời thực của tác giả
làm đối tượng phản ánh, làm chất liệu để tạo nên tiếng cười. Tiếng cười đã trở thành ý thức
của lương tri, thể hiện sự nhìn nhận bản thân một cách khách quan nhất. Ý thức bắt buộc
người viết phải nhận thức mình như đối tượng đáng cười bởi vì suy cho cùng, mỗi con người
đều là một thực thể chứa đựng vô vàn sự mâu thuẫn, vừa tốt vừa xấu, vừa mạnh mẽ vừa yếu
đuối, vừa cao thượng lại vừa hèn kém tầm thường. Giữa bối cảnh chung của văn học giai
đoạn nửa cuối thế kỷ XIX, phú Nôm đã để lại những bức chân dung hài hước “có một không
hai” về tầng lớp nho sĩ. Cùng với bút pháp ngày càng phát triển theo hướng tả thực, phú Nôm
đã xây dựng được những “điển hình xấu”, miêu tả con người chân thực như bản chất vốn có
vậy. Thật ra, nếu nói phú quốc âm sáng tạo nên nhân vật tính cách thì không đúng. Nhân vật
trong phú Nôm chưa thể hiện mình như con người có tính cách bị biến dạng dưới sự ma chiết
của hoàn cảnh. Song ít nhất, con người ở nhiều bài phú Nôm đã thực hiện một việc rất khó