1
ĐẶT VẪN ĐỀ
Trĩ là những cấu trúc bình thường ở ống hậu môn trực tràng. Bệnh trĩ là
tập hợp các bệnh lý có liên quan đến những thay đổi của mạng mạch trĩ và tổ
chức tiếp xúc mạng mạch này [3], [4], [16].
Bệnh trĩ là bệnh thường gặp tỷ lệ mắc bệnh cao. Bệnh tuy không nguy
hiểm nhưng gây khó chịu, ảnh hưởng đến tâm lý, sức khoẻ và khả năng lao
động của cộng đồng. Nghiên cứu của Nguyễn Mạnh Nhâm và Nguyễn Xuõn
Hựng [15] cho thấy bệnh trĩ chiếm tỷ lệ 45% dân số, theo thống kê tại phòng
khám hậu môn học khoa tiờu hoỏ bệnh viện Việt Đức bệnh trĩ chiếm 45%
tổng số bệnh nhân đến khám [20] Đinh văn Lực (1987) cho biết bệnh trĩ
chiếm tỷ lệ 85% các bệnh lý ngoại khoa vùng hậu, trực tràng. Trên thế giới,
theo Goligher J.E (1984) hơn 50% số người ở độ tuổi trên 50 mắc bệnh trĩ [3]
[4] [20]. Tại Mỹ năm 1990 có 11 triệu lượt nguời đi khám bệnh trĩ
(JonhanSon). Điều trị bệnh trĩ cho đến nay có nhiều phương pháp như nội
khoa, thủ thuật, phẫu thuật, đông y. Phẫu thuật thường được sử dụng khi các
biện pháp điều trị bảo tồn (nôi khoa, đông y, thủ thuật) thất bại. Mục đích của
phẫu thật trĩ là triệt tiêu đường cấp máu đến và loại bỏ búi trĩ. Có nhiều
phương pháp phẫu thuật khác nhau đã áp dụng như: phẫu thuật cắt toàn bộ trĩ
vòng kiểu Whitehead (1882), và nhiều kỹ thuật cải tiến khác, phẫu thuật cắt
từng bũi trĩ của SalmonF (1890), phẫu thuật Toupet …Cỏc phương pháp trên
điều trị bệnh trĩ đạt hiệu quả cao nhưng còn để lại nhiều di chứng như chít
hẹp hậu môn, ỉa són sau mổ, thời gian phẫu thuật và nằm viện kéo dài. Hiện
nay trên thế giới cũng như ở Việt Nam hai phương pháp điều trị phẫu thuật
bệnh trĩ được các phẫu thuật viên áp dụng chủ yếu là phẫu thuật Miliigan –
Morgan và phẫu thuật Longo. Mỗi phương pháp có những ưu thế riêng.
2
* Phương pháp phẫu thuật Milligan-Morgan. Được thực hiện trên thế
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. CƠ SỞ GIẢI PHẪU CỦA BỆNH TRĨ
1.1.1. Cấu trúc giải phẫu ống hậu môn
1.1.1.1. Giới hạn ống hậu môn.
Ống hậu môn có dạng hình trụ nằm ở vị trí giữa của đáy chậu sau, là
đoạn cuối cùng của ống tiờu hoỏ. Phía trên hợp với phần thấp của trực tràng
bởi một góc khoảng 90
o
, chạy xuống dưúi ra sau đổ ra da ở lỗ hậu môn tại
tam giác đáy chậu sau. Ống hậu môn có chiều dài 3-4cm, đường kính khoảng
3cm và thường xuyên kép dọc, đóng mở chủ động [7], [8], [13], [16], [21],
[23], [25], [27].
Suốt chiều dài của ống hậu môn có cơ bao bọc xung quanh,giới hạn
trên là bình diện cơ nâng hậu môn - giới hạn dưới là bó dưới da của cơ thắt
ngoài. Từ ngoài vào trong được cấu tạo bởi các lớp; cơ thắt ngoài >phức hợp
cơ dọc dài liên hợp > cơ thắt trong> cơ nâng hậu môn >các khoang tế bào >
lớp niêm mạc hậu môn [8].
1.1.1.2. Các lớp cấu tạo ống hậu môn.
* Cơ thắt ngoài.
Cơ thắt ngoài thuộc hệ cơ vân, chịu sự chi phối của thần kinh sống do
cỏc nhỏnh chậu của dây thần kinh cùng IV điều khiển chức năng co thắt ống
hậu môn, nờn cú vai trò đặc biệt quan trọng trong cơ chế tự chủ của ống hậu
môn. Gồm hai bú, bú nụng ở dưới da và bú sõu [7], [8], [17], [25].
- Bú nông. Giới hạn trên là cơ thắt ngoài và bờ dưúi cơ thắt trong, đáy ở
phía da rìa hậu môn. Mặt ngoài tương ứng bú sõu, mặt trong tương ứng bờ
4
dưới cơ thắt trong và tách biệt bởi một vỏch cõn giữa cơ tạo nên rónh liờn cơ
ngăn cách bởi dây chằng Parks tạo nên hai khoang tế bào: khoang dưới niêm
mạc và khoang dưới da.
* Khoang dưới niêm mạc. Được giới hạn phía trong là lớp niêm mạc
hậu môn, phía ngoài là mặt trong cơ thắt trong, phía dưới là dõychằng Parks.
Trong khoang này có chứa đám rỗi tĩnh mạch trĩ nội.
* Khoang dưới da: Nằm phía dưới khoang dưới niêm mạc, giới hạn trên
là vỏch liờn cơ và đáy dây chằng Parks, phía trong và phớa dưúi là da hậu
môn, trong khoang này có chưa đám rỗi trĩ ngoại [7], [17].
6
* Lớp cơ niêm: Lớp này phát triển một phần từ cơ thắt trong và một
phần từ những sợi đi qua cơ thắt trong của lớp cơ dọc dài. Cơ niờm cũn gọi là
cơ Treitz, có chức năng bảo vệ lớp lót hậu môn, ngăn chặn sự sa lồi của tổ
chức lớp lót ống hậu môn khi đại tiện .
* Lớp niêm mạc hậu môn: Thực chất đây là lớp niêm mạc chuyển tiếp
giữa lớp biểu mô tuyến của trực tràng và biểu mụ lỏt tầng sừng hóa của da
đáy chậu. Nói cách khác niêm mạc ống hậu môn là lớp biểu mụ lỏt tầng
không sừng húa cũn gọi là lớp niêm mạc Hermann [7], [8]. Tại đây có nhiều
các đầu tận cùng của thần kinh rất nhạy cảm, như cảm giác đau, nóng, lạnh
các chất lỏng chất hỏi chất đặc. Nếu nhìn từ trong ra ngoài có:
+ ẳ Trờn là lớp niêm mạc màu hồng nhạt giống như niêm mạc phủ
long trực tràng.
+ Tiếp theo đến vùng niêm mạc đỏ sẫm, ở dưới cú đỏm rỗi tĩnh mạch
trĩ nội.
+ Sau đó là vùng lược, cuối cùng là lớp da nhẵn, rồi đến lớp da có
tuyến bó, lụng.
1.1.1.2. Phân bố mạch máu của hậu môn - trực tràng.
* Động mạch cấp máu cho hậu môn - trực tràng: gồm 3 động mạch
+ Động mạch trực tràng trên (động mạch trĩ trên): Là nhánh tận của
động mạch trực tràng dưới, đóng vai trò chủ yếu cấp máu cho vựng hõu mụn
8
Hình 1.2. Phân bố mạch máu của hậu môn - trực tràng
1.1.1.3. Thần kinh chi phối hậu môn -trực tràng.
Trực tràng được chi phối bởi thần kinh sống và thần kinh tự chủ [8 ]
* Thần kinh sống: Có dây thần kinh hậu môn tách ra từ dõy cựng III và
cùng IV qua khuyết hông lớn, ra mông chui qua khuyết hông nhỏ vào hỗ ngồi
trực tràng. Chi phối vận động cho cơ thắt vân hậu môn và cảm giác da vùng
xung quanh hậu môn.
* Thần kinh tự chủ: Cú cỏc sợi tách ra từ đám rỗi hạ vị và cỏc nhỏnh
tỏch ở đám rối giao cảm, quây ở xung quanh động mạch chậu trong và động
mạch hạ vị.
9
- Các sợi giao cảm ở đám rối hạ vị, tách phần lớn ở hạch giao cảm thắt
lưng đi theo động mạch.
- Các sợi phó giao cảm bắt nguồn từ hai nơi
+ Các sợi tận cùng của dây thần kinh X đi qua mạc treo tràng dưúi qua
dõy cựng trước và dây hạ vị đi xuống .Cỏc nhỏnh này chi phối và vận động và
chỉ huy việc tiết dịch ở trực tràng
+ Các dây cương tách ở đoạn cùng của tủy sống và mượn đường đi cúa
rễ trước dây thần kinh sống cùng III, IV và cùng V tới đám rối hạ vị chi phối
cho các tạng tiết niệu và sinh dục,thần kinh của trực tràng và các tạng sinh
dục,tiết niệu cựng tỏch từ đám rỗi hạ vị có liên quan với nhau.Do đó một số
phẫu thật ở hậu môn trực tràng sẽ gây nên các rối loạn về tiểu tiện bởi ảnh
hưởng chi phối của đỏm rúi thần kinh tự chủ.
1.1.2. Cấu tạo mô học của ống hậu môn.
1.1.2.1. Cấu tạo mô học của lớp niêm mạc
Theo Parnaud (1985) và Sarler (1991). Cho rằng ống hậu môn được che
phủ bởi lớp niêm mạc chuyển tiếp giữa phần biểu mô tuyến của trực tràng và
điểm nữa được phát hiện trên tiêu bản ăn mòn (corrosion) là cỏc nhỏnh động
mạch trực tràng trên trước khi phân tỏa ở lớp dưới niêm mạc hậu môn đã hợp
thành các trục mạch chính, thường là 3 trục trùng với vị trí 3 búi trĩ chính.
* Hệ tĩnh mạch: Máu tĩnh mạch được dẫn về theo ba trục chính song
hành theo các trục động mạch. Một trục trên là tĩnh mạch trực tràng trên đổ về
tĩnh mạch cửa, hai trục giữa và dưới bao gồm các tĩnh mạch trực tràng giữa,
dưới và (tĩnh mạch cùng) đổ về hệ tĩnh mạmh chủ.
11
Xuất phát cúa 3 trục tĩnh mạch này là 3 đám rỗi tĩnh mạch: Đám rỗi
tĩnh mạch quanh bóng trực tràng và quanh cơ thắt, đám rối tĩnh mạch dưới
niêm mạc ống hậu môn (đám rối trĩ) và sau cùng là đám rối tĩnh mạch
dưới da.
Gần đây người ta chứng minh rằng hiện tượng gián tĩnh mạch là bình
thường và thấy ỏ trẻ em mới sinh. Đám rối tĩnh mạch này chủ yếu đổ về tĩnh
mạch trĩ trên.
* Các nối thông động tĩnh mạch
Thomson (1975) chứng minh và khẳng định là có sự thông thương giữa
các động mạch và tĩnh mạch ở mạng mạch trĩ. Các nối thông này khác với các
(shunt) động tĩnh mạch do Masson mô tả trong hệ thống tuần hoàn mao mạch.
Toàn bộ hệ thống động tĩnh mạch đựoc mô tả ở đây nằm lớp dưới niêm mạc
trong một hệ thống thể hang và chịu sự điều khiển của thần kinh thực vật
Soullard (1975) cho rằng hiện tượng chảy máu trong bênh trĩ do đám rối tuần
hoàn tại chỗ của các nối thông động tĩnh mạch này chứ không phải do giãn
tĩnh mạch [4], [8].
1.1.2.3. Cấu tạo mô học của lớp niêm mạc
Kết quả những nghiên cứu gần đây đã khẳng định một sú vấn đề về cấu
trúc đặc biệt lớp dưới niêm mạc hậu môn là mô liên kết không có chứa tuyến.
Tại đây có nhất nhiều những mạch máu, những sợi thần kinh không chữa
Myelin. Có nhiều vi động mạch đứng riêng lẻ hoặc tập trung thành đám. Đặc
môn. Chức năng tự chủ phụ thuộc vào: nhu động đẩy phân của đại tràng, sự
co giãn của bóng trực tràng, vai trò của hoành chậu hụng, bú mu trực tràng
cúa cơ nâng hậu môn (khi co gây gập góc giữa trục hậu môn và trực tràng).
13
Động tác tác rặn làm thẳng trục giữa ống trực tràng và ống hậu môn, cuối
cùng là sự đáp ứng cúa hệ thống cơ thắt hậu môn với kích thích về áp lực [2],
[7], [26].
Hệ thống cơ thắt đáp ứng với kích thích muốn đại tiện qua đường dẫn
truyền cảm giác nhờ các thụ thể nhận cảm nhận cỳa cỏc vựng khác nhau:
+ Từ niêm mạc da ống hậu môn đặc biệt ở vùng lược rất giàu cỏc mỳt
đoạn thần kinh, các tiểu thụ thể thụ cảm Meisner, Golgi, Paccini, Krauss. Các
thụ thể này nhận cảm có ý nghĩa với tác nhân đau, nóng, lạnh, áp lực và phân
biệt bản chất của chất rắn, lỏng, khí [7], [17], [27].
+ Từ vùng nối tiếp giữa đại tràng xích ma với trực tràng có cảm thụ
nhận biết về thể tích, áp lưc khi trực tràng bị căng dãn. Cảm giác có ý thức về
nhu cầu đại tiện cường độ và thời gian cảm giác phụ thuộc vào mức độ căng
dãn, áp lực cúa trực tràng [7], [17], [27].
Khi các yếu tố trên bị tổn hại cộng thờn với sự mất bù trừ cúa cơ thể
dẫn đến mất tự chủ hậu môn [10], [18] Cơ sở giải phẫu, mô học, sinh lý học
cúa hậu môn - trực tràng có ý nghĩa quan trọng trong việc tìm hiểu sinh bệnh
học, chẩn đoán, điều trị bệnh trĩ.
1.4. SINH LÝ HỌC BỆNH TRĨ.
Thomson (1975) đã giải thích về nguồn gốc phát sinh cúa bệnh trĩ. Lý
thuyết về hiện tượng giãn mạch do tăng áp lực tĩnh mạch trĩ trên thực tế là
không hợp lý. Người ta thấy giãn tĩnh mạch hậu môn có cả ở trẻ sơ sinh là
một hiện tượng bình thường, đồng thời số người mắc xơ gan, tăng áp lực tĩnh
mạch cửa không bị bệnh trĩ nhiều hơn ở người khác. Lý thuyết phát sinh bệnh
trĩ là do loạn sản mạch máu cũng không còn cơ sở. Tương tự lý thuyết cho
rằng bệnh trĩ phát sinh từ sự viêm nhiễm cỳa cỏc tuyến Hermann – Desfosses
- Đau rát hậu môn: 15% số bệnh nhân có những đợt tắc mạch . Với một
trong ba hiện tượng sau.
+ Trĩ ngoại tắc mạch kích thước thường nhỏ đơn độc, nằm dưới da
hậu môn, đa số tự tiêu để lại miếng da thừa ở rìa hậu môn.
+ Trĩ nội tắc mạch: Hiếm gặp hơn, biểu hiện bằng những cơn đau dữ
dội trong ống hậu môn.
+ Sa trĩ tắc mạch: Đau rữ dội vùng hậu môn, khó có thể đẩy trĩ vào
lòng hậu môn, thường kèm theo phù nề nếu tiếp tục tiến triển sẽ hoại tử.
1.5.2. Phân độ trĩ
Phân độ trĩ có ý nghĩa trong việc đánh giá tổn thương và nghiên cứu chỉ
định điều trị. Tổn thương về lâm sàng và giải phẫu bệnh có nhiều tác giả phân
độ theo tiêu chuẩn của bệnh viện St Marks London có 3 mức độ:
Độ 1: Búi trĩ không ra ngoài cơ thắt ngoài.
Đô 2: Búi trĩ ra ngoài cơ thắt ngoài mỗi khi rặn hay đại tiện, nhưng sau đó
có thể đẩy vao được.
Độ 3: Búi trĩ sa lồi ra ngoài liên tục không tự co hay đẩy lên được .
Hiện nay phân độ trĩ được chia theo mức độ tổn thương lâm sàng và giải
phẫu được chia như sau [6], [7], [11], [18], [26].
* Trĩ độ I: Ỉa máu tươi chiếm 80-90%, ngứa khó chịu, khi soi hậu môn các
bũi trĩ cương tụ máu nhưng không bị sa tụt khi gắng sức, rặn ỉa.
* Trĩ độ II: Triệu chứng chính là ỉa máu tươi. Soi hậu môn thấy bũi trĩ lấp
ló ở hậu môn, tự co lên được khi ngừng rặn,kốm theo tiết dịch ẩm ướt ngứa
hậu môn.
* Trĩ độ III: Búi trĩ nội khá lớn tổ chức sợi cơ còn giữ được tính đàn hồi
nên chỉ sa khi rặn và phải lấy hết tay nhét bũi trĩ sa trở lại lòng hậu môn. Trĩ
độ III chảy máu ít hơn nhưng gây ẩm ướt mất vệ sinh.
16
* Trĩ độ IV: Búi trĩ khá to, không tự co nên được, thường xuyên ở ngoài
hậu môn gây ẩm ướt, đau chảy máu, cọ sỏt gõy xõy sỏt phù nề làm bệnh nhân
to chỗ nhỏ, giữa chúng là các ngấn nông hay sâu [7], [17].
1.6. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐIỀU TRỊ BỆNH TRĨ TRấN THẾ GIỚI.
Các phương pháp điều trị bệnh trĩ bao gồm; điều trị nội khoa, điều trị
bằng thủ thật, điều trị phẫu thuật. Tất cả các phưong phỏp trờn được xếp
thành 2 nhóm là điều trị bảo tồn và điều trị tiệt căn.
1.6.1. Điều trị nội
Điều chỉnh chế độ ăn, ăn uống nhiều chất xơ gỳp phòng ngừa táo bón
và làm giảm triệu chứng của bệnh trĩ.
Dựng các thuốc điều hòa lưu thông ruột, tránh táo bón, trỏnh cỏc đợt ỉa
lỏng. Thuốc làm dịu các rỗi loạn thần kinh thực vật và các căng thẳng thần
kinh. Thuốc làm vững bền thành mạch. Thuốc chống viêm chống phù nề
trong trường hợp có biến chứng. Thuốc bôi và đặt tại chỗ.
1.6.2. Điều trị thủ thuật
* Tiêm xơ búi trĩ: Theo Golinger (1984) người đầu tiên thực hiện
phương pháp này là Morgani (1869) ở Dublin. Năm 1916 Terll tường trình
kết quả tiêm xơ húa bỳi trĩ với 128 bệnh nhân trĩ trong vòng 3 năm và mô tả
rõ phương pháp tiêm. Cơ sở của phương pháp này là đưa thuốc vào tổ chức
dưới niêm mạc, các thuốc sẽ kích thích gây phản ứn xơ húa. Cỏc thuốc sử
dụng như: Persulfate sắt, Salycilat Natri cồn 70%, Dung dịch Phenol 5%,
dung dịch Kinurea, Polidocanol…Phương pháp này được chỉ định cho trĩ độ
I, độ II chảy máu [23].
18
* Thắt trĩ bằng vòng cao su:
Blaisdell (1963) đã thành công với việc chỉ thắt búi trĩ không có lẫn da
và cỏc mụ xung quanh
Barron (1963) đã tạo ra dụng cụ để thắt trĩ với vòng cao su và sau đó
với dụng cụ cải tiến cúa Mc Giveny đã đưa điều trị thắt trĩ vòng coa su thành
một phương pháp điều trị . Với cơ sở cỏc vũng cao su sẽ thắt nghẹt gốc búi trĩ
gây thiếu máu và hoại tử, búi trĩ sẽ rụng sau 5-7ngày. Chỉ định thắt cho các
ngoài theo hình chữ Y lộn ngược, phẫu tích cắt bỏ búi trĩ sau đó khâu phủ lại
niêm mạc trong ống hậu môn [5].
1.6.4.2. Các phẫu thuật cắt toàn bộ vòng trĩ
* Phẫu thuật Longo trong điều trị trĩ là cắt vòng niêm mạc, dưới niêm
mạc trực tràng trên đường lược 3cm. Nhằm kộo bỳi trĩ và niêm mạc sa trở về
vị trĩ cũ, đồng thời cắt nguồn máu tới búi trĩ. Tác giả đưa ra ý tưởng này thực
hiện đầu tiên là Antonio (1993) nhưng đến 1998 mới chính thức công bố kết
quả. Năm 2003 nhóm tác giả Corman và cộng sự cho biết. Thế giới thống
nhất thuật ngữ (Stapled hemorrhoidopexy) cùng nghĩa với kỹ thuật Longo.
- Chỉ định: Trĩ độ III độ IV, Trĩ độ II điều trị các phương pháp khác
thất bại, trĩ kèm theo những bệnh vùng hậu môn khác cần phẫu thuật như (nứt
kẽ, da thừa, rò, u nhú, tắc mạch, sa niêm mạc trực tràng …).
* Phẫu thuật Whitehead (1882): Lấy toàn bộ búi trĩ và niêm mạc ống
hậu môn bằng 4 đường rạch da dọc theo truc hậu môn. Sau đó đính niêm mạc
phần trực tràng lành với da hậu môn.
* Phẫu thuật Toupet.A (1969): Trong điều trị trĩ vòng và được cải tiến
từ phẫu thuật Whitehead, nhưng giữ lại niêm mạc hậu môn, tránh lộ niêm mạc
trực tràng .
20
1.7. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU BỆNH TRĨ TRONG NƯỚC
1.7.1. Điều trị nội khoa
Từ sau đời nhà Trần thế kỷ XIV có danh y Tuệ Tĩnh đã mô tả bệnh trĩ
và các bài thuốc nam để chữa bệnh trĩ trong cuốn Nam dược thần học.
Thế kỷ thứ XVIII, danh y Lê Hữu Trác (1720-1790) trong bộ sách Hải
Thượng Y Tụng Thụng Lĩnh cũng đề cập đến bệnh trĩ (1).
Đỗ Đức Vân (1996) Sử dụng Daflon 500mg điều trị trĩ cấp tính.
Nghiên cứu của Trần Thị Hồng Phương điều trị trĩ nội độ I, II, III có
chảy máu bằng cao trĩ kết quả cầm máu tốt đạt 96,4% sau 6 tháng không thấy
tái phát.
mổ lại. Tỷ lệ tốt và khá 87,3%, Trung bình 12,7%.
- Thông báo của Trịnh Hồng Sơn và cộng sự (2005) về kết quả bước
đầu trong điều trị trĩ bằng phẫu thật Longo thực hiện ở bệnh nhân trĩ nội,
ngoại độ III, IV cả mổ phiên và mổ cấp cứu do sa trĩ tắc mạch [22], [23].
- Triệu Triều Dương và cộng sự (2005) đã báo cáo kết quả sớm trong
điều trĩ. Nội độ III và độ IV tại bệnh viên TWQĐ 108 [3], [4].
- Triệu Triều Dương (2006). So sánh kết quả điều trị trĩ độ III và IV
của phẫu thuật Longo và phẫu thuật Milligan - morgan [5].
- Trần Khắc Nguyên nghiên cứu (2004) Đánh giá kết quả phẫu thuật
Milligan - Morgan trong điều trị bệnh trĩ tại bệnh viện Việt Đức.
- Nguyễn Hoàng Diệu (2007) nghiên cứu chỉ định và đánh giá kết quả
điều trị bệnh trĩ bằng phẫu thuật Longo.
22
Điểm lại tình hình điều trị bệnh trĩ bằng phương pháp phẫu thuật ở
nước ta cho thấy áp dụng phẫu thật ở nước ta cũn ớt, chủ yếu các cơ sơ vẫn áp
dụng những phẫu thuõt kinh. Kết quả điều trị của cá phương pháp cho thấy
được những ưu điểm những tồn tại. Đó là cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu
ứng dụng phương pháp mới trong phẫu thuật nhằm giản thiểu các biến chứng,
di chứng sau phẫu thuật.
23
21
2
221111
)PP(
)P1(P)P1(Pz)P1(P2z
n
P
1
: tỷ lệ đau rất nhiều sau mổ phương pháp Milligan-Morgam là 40%
P
2
: tỷ lệ đau rất nhiều sau mổ phương pháp Longo là 10%
Z
1-
: giá trị thu được từ bảng tớnh
: mức ý nghĩa thống kê y học thường được sử dụng - 0,05 tương
đương với độ tin cậy là 95%.
1- : độ tin cậy của (test) là 90%
n: là số bệnh nhõn cần nghiên cứu của mỗi nhúm
Từ công thức trên suy ra số lượng bệnh nhõn cần cho nghiên cứu của
mỗi nhúm là 34.
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu
Thử nghiệm lâm sàng mô tả có nhúm chứng
Nghiên cứu tiến cứu: Quan sát mô tả, cú nhúm chứng số bệnh nhân
- Ghi nhận các tổn thương khác kèm theo.
+ Nứt kẽ hậu môn.
+ Polip hậu môn.
+ Da thừa hậu môn.
+ Rỗi loạn tiểu tiện.
+ Tình trạng cơ thắt.
- Ghi nhận kết quả cận lâm sàng.
* Máu:
+ Phúm mỏu: O, A, B, AB.
+ Thời gian chảy máu, thời gian máu đông.