SO SÁNH kết QUẢ điều TRỊ CHỬA NGOÀI tử CUNG CHƯA vỡ BẰNG METHOTREXAT đơn LIỀU và đa LIỀU tại BỆNH VIỆN PHỤ sản hà nội - Pdf 30

Y HỌC THỰC HÀNH (903) - SỐ 1/2014
155
SO SÁNH KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ CHỬA NGOÀI TỬ CUNG CHƯA VỠ
BẰNG METHOTREXAT ĐƠN LIỀU VÀ ĐA LIỀU TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN HÀ NỘI

VƯƠNG TIẾN HÒA
NGUYỄN THỊ BÍCH THỦY

TÓM TẮT
172 bệnh nhân CNTC chưa vỡ đã được điều trị
bằng MTX theo 2 phác đồ đơn và đa liều tại Bệnh
viện phụ sản Hà Nội theo phương pháp can thiệp tiến
cứu. Kêt quả nghiên cứu như sau:
- Tỷ lệ thành công 2 phác đồ đơn liều là 86%,
trong đó
- Tỷ lệ thành công của các phác đồ đa liều la
90,3% trong đó:
Tỷ lệ thành công của 2 phác đồ không có sự khác
biệt (p >0,05).
- Nồng độ β hCG ban đầu < 1.000 mUI/ml: Phác
đồ đơn liều: 91,5%, Phác đồ đa liều: 95,7 % nhưng p
>0,05
- Nồng độ β hCG ban đầu 1.000 – < 3.000
mUI/ml: Phác đồ đơn liều: 89,3%, Phác đồ đa liều:
79,2 %, p > 0,05. Nồng độ β hCG ban đầu 3.000

1000 UI/L, successful of single dose was 91.5%, multi
dose was 95.7 % with p > 0.05. The βhCG
concentration from 1.0000 to < 3.000UI/L successful
of single dose was 89. 3% and multi dose was 79.2
% with p > 0.05%. The βhCG concentration from
3.000 - 5.000 UI/L, the rate of successes of single
dose was 54. 5%, multi dose was 93. 3 % with p < 0.
05. The successful rate depend the βhCG
concentration and gestation sac size before
treatment. The time gestation sac disappear on
ultrasound from 14 to 72, average is 36. 3 ± 7. 7 for
single dose and 33. 5 ± 8. 5 for multi dose (> 0. 05).
The side effect was mild and finishing after 2-4 days
Conclusion: The rate of successes depends of
βhCG concentration and gestation sac size. The
βhCG concentration from 3.000 to 5.000UI/L, the rate
of successes of multi dose more than sigle dose.
Keyword: unruptered ectopic pregnancy, βhCG
concentration, gestation sac size
ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay chửa ngoài tử cung (CNTC) đang tăng
và ngày càng gặp nhiều ở người trẻ tuổi. Hơn 95%
CNTC ở vòi tử cung (VTC) vì vậy nhu cầu điều trị bảo
tồn VTC cũng tăng để duy trì khả năng sinh sản trong
tương lại. Năm 1982, Tanaka.T lần đầu tiên sử dụng
Methotraxate (MTX) để điều trị chửa ngoài tử cung
(CNTC) chưa vỡ và đạt kết quả thành công 83%. Sau
nghiên cứu của Tanaka, nhiều tác giả khác cũng điều
trị thành công CNTC với MTX với những tỷ lệ khác
nhau và kêt quả thành công cũng tăng dần. Tại Việt

Y HỌC THỰC HÀNH (903) - SỐ 1/2014 156

mẫu được tính theo công thức “nghiên cứu thử
nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên đối chứng hai nhóm”:
N = n1 = n2 = Z
α
n =

[Z
α +
Z
β
]
2

(p1
-
p2)
2

Tính toán mỗi nhóm có n = 78. Thêm 10% dự
phòng bệnh nhân bỏ cuộc như vậy n = 86. Tổng 2
nhóm là 176
Bảng 1. Phân bố theo kích thước khối thai trên

chiếm 54,6 %. Kích thước lớn nhất là 3,5cm
Đa liều: Kích thước khối thai từ 1,5 đến 2,5cm
chiếm 64 %. Kích thước lớn nhất là 3,5cm
Bảng 2. Phân bố nồng độ β hCG trước điều trị
β hCG (UI/L) Phác đồ đơn liều

Phác đồ đa liều
N

%

N

%

< 500 32 37,2 31 36,1
500 – < 1.000 15 17,4 15 16,6
1.000 - < 2.000 19 22,1 13 15,1
2.000 - < 3.000 9 10,5 11 12,8
3.000
-

≤ 3.500

11

12,8

16


lũy
Về bình
thường
0 0 0 2 2,4 2,4
Giảm
>50%
15 17,4 17,4 27 32,1 34,5
Giảm từ
15%>-50%

35 40,7 58,1 32 38,1 72,6
Giảm từ
0% -50%
12 14,0 72,1 14 16,7 89,3
Tăng 0% -
15%
12 14,0 86,0 7 8,3 97,6
Tăng 10 11,6 97,7 0 0,0 97,6
>15%
Thất bại 2 2,3 100,0 2 2,4 100,0
Tổng số 86 100,0 84* 100,0

Ghi chú * Có 2 trường hợp trở về bình thường
Phác đồ đơn liều: đa số các trường hợp sau khi
tiêm liều thứ nhất nồng độ β hCG giảm nhanh (>15%
so với nồng độ ban đầu): Ngày thứ 4: 59,5%. Ngày 7:
74,4%. Các trường hợp này chỉ cần theo dõi tiếp
21 trường hợp (25%) có nồng độ β hCG giảm
chậm (< 15%) hoặc tăng so với nồng độ ban đầu nên
được chỉ định tiêm tiếp liều thứ 2. Ngày 7 trong số

Tăng >15% 25 29,1 5 5,8 3 3,6
Thất bại 0 0,0 2 2,3 3 3,6
T
ổng số

86

100,0

86

100,0

84*

100,0Ghi chú * Có 2 trường hợp trở về bình thường
Phác đồ đa liều cho thấy nồng độ β hCG giảm
nhanh theo số ngày điều trị. Những trường hợp có
nồng độ β hCG giảm chậm (<15%) hoặc tăng ở ngày
3: là 63,9%. Ngày 5 là 40,5%, ngày thứ 7 11,1%. Các
trường hợp này phải tiêm liều 2,3,4. Có 2 trường hợp
(2,4%) trở về mức bình thường và 5 trường hợp thất
bại (5,8%)
Bảng 5. Sự biến đổi nồng độ β hCG trong tuần
thứ 2 của 2 phác đồ

Sự biến đổi

2
4 = 3.939; p >0,05

- Ở tuần thứ 2, nồng độ β hCG ở phác đồ đa liều
giảm nhanh . Gần 100% các trường hợp giảm > 15%
và không còn trường hợp nào nồng độ β hCG tăng.
Y HỌC THỰC HÀNH (903) - SỐ 1/2014
157
20 trường hợp trở về bình thường (25,3%), 2 thất bại
(2,5%)
- Đơn liều: 96,2% có nồng độ β hCG giảm nhanh
> 15%. 3,8% nồng độ β hCG biến đổi kéo dài và
phức tạp. 17,5% nồng độ β hCG trở về bình thường
và 4 trường hợp thất bại (5,0%)
- Nhưng sự khác biệt giữa hai phác đồ không có
ý nghĩa thống kê p >0,05
Bảng 6. Sự biến đổi nồng độ β hCG trong tuần
thứ 3 của 2 phác đồ

Sự biến đổi
nồng độ
βhcG
Phác đồ 1 Phác đồ 2
n % % tích

Phác đồ đa liều : 41,8% nồng độ β hCG trở về
bình thường, 58,8% tiếp tục giảm nhanh, không có
trường hợp nào thất bại
Phác đồ đơn liều: 35,5% nồng độ β hCG trở về
bình thường, 61,3% nồng độ β hCG giảm nhanh, 1
trường hợp giảm chậm và 1 trường hợp thất bại
nhưng sự khác nhau không có ý nghĩa thống kê với p
>0,05
Bảng 7. Sự biến đổi nồng độ βhcG trong tuần thứ
4 của 2 phác đồ
Sự biến đổi
nồng độ
βhcG
Phác đồ 1 Phác đồ 2
n % % tích
lũy
n % % tích
lũy
Về bình
thường
17 43,6 43,6 15 46,9
Gi
ảm >50%

17

43,6

87,2


trường hợp (2,6%) nồng độ β hCG tăng và 1 thất bại
(2,6%)
Phác đồ đa liều: 32 trường hợp:
46,9% nồng độ β hCG trở về bình thường, 50 %
nồng độ β hCG giảm nhanh và 1 thất bại (3,1%)
Bảng 8. Sự biến đổi nồng độ βhcG trong tuần thứ
5 của 2 phác đồ
Sự biến đổi
nồng độ
βhcG
Phác đồ 1 Phác đồ 2
n % % tích
lũy
n % % tích
lũy
Về bình
thường
9

42,9

42,9 9 56,3 56,3
Giảm >50%

8 38,1 81,0 7 43,8 100,0
Giảm từ
15%>-50%
3

14,3

lũy
1 liều 56 75,7% 65,1% 26 33,3% 30,2%
2 liều 15 20,3% 82,5% 26 33,3% 60,4%
3 liều 2 2,7% 84,8% 21 26,8% 84,9%
4 liều 1 1,3% 86% 5 6,4% 90,7%
Tổng số 74 100,0%

78 100,0%
2
3 = 32,2; p <0,001
Có sự khác biệt về tỷ lệ thành công theo số liều
MTX giữa hai phác đồ với p <0,001. Sau khi tiêm liều
1, tỷ lệ thành công của phác đồ 1 là 75,7% còn phác
đồ 2 sau khi tiêm liều thứ 2 là 69,8% Bảng 10. Mối liên quan giữa nồng độ β hCG ban đầu và số liều thuốc
Nồngđộ βhCG
(mIU/ml)
Phác đồ 1 Phác đồ 2 Kiểm
định
1 liều 2 liều 3 liều 4 liều 1 liều 2 liều 3 liều 4 liều
<1.000 n 38 8 1 0 20 18 9 0
% 80,9 17,0 2,1 0 42,6 38,3 19,1 0
1.0000 -3.000 n 20 8 0 0 5 9 7 3
% 71,4 28,6 0 0 20,8 37,5 29,2 12,5
3.000 -5.000 n 5 3 2 1 3 2 7 3


6,7 100

1,5 ≤
2,5
N 42 5 47 50 5 55 0,009
P >
0,05
%

89.4

10,6

100 90,9

9,1 100

2,5 ≤
3,5
N 16 6 22 14 2 16 2,298
P >
0,05
%

72,7

27,3

100 87,5


n Min

TB Max

n Min

TB Max

t=
1,455

p
>0,05

1 56

20 36,3

56 26

14

33,5

47
2 15

42 48,4



Tác dụng không
mong muốn
Phác đồ 1 Phác đồ
2
Tổng
Buồn nôn, nôn 29,1 39,5 35,4
Nh
ức

đ
ầu

20,9

29,1

25,5

Chướng bụng 9,3 17,4 13,4
Ngứa da 2,3 1,2 1.7
Rối loạn tiêu hóa 4,7 5,8 5,2
Tăng men gan

1,2

4,7

2,9


mỗi lần tiêm chúng tôi sử dụng liều 50mg MTX (1 lọ)
cho 1 người bệnh (đa số người bệnh tại viện cân
nặng từ 43 – 55kg). Cách dùng này đơn giản, không
có trường hợp nào ngộ độc thuốc. Tuy nhiên, lượng
thuốc mỗi liều đưa vào thấp hơn này cũng có thể lý
giải 1 phần tỷ lệ thành công của phác đồ đơn liều trong
nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn so với các nghiên
cứu khác. Liều lượng này tương tự nghiên cứu của
Nguyễn Việt Hùng (2010) Bệnh viện Bạch Mai và Vũ
Thành Vân (2006) tại BVPSTW nhưng ở các nghiên
cứu trên chỉ định tiêm liều 2,3 nhắc lại khi nồng độ
βhCG giảm < 30% so với lần xét nghiệm trước nên số
trường hợp cần phải tiêm từ 2 liều trở nên cao hơn
của chúng tôi 44,8% so với 26,7% [2], [4].
Số trường hợp chẻ tiêm là 1 liều 73,3% cao hơn
so với nghiên cứu của Vũ Thanh Vân 55,2 % [4]. Đó
là do cách thức điều trị khac nhau, chúng tôi điều trị
khoảng cách giữa các liều là 7 ngày, còn của Vũ
Thanh Vân khoảng cách này là 4 ngày. Tỷ lệ liều điều
trị của chúng tôi gần tương đương với số liều điều trị
trong nghiên cứu của Lipscomb GH.[7].
Sở dĩ tỷ lệ thành công với 1 liều điều trị của chúng
tôi cao hơn, còn với 4 liều lại thấp hơn so với hai tác
giả trên là do tiêu chuẩn lựa chọn vào nghiên cứu
cảu chúng tôi chỉ là các trường hợp nồng độ β hCG
≤5.000mIU/ml và không có âm vang tim thai, trong
khi các tác giả trên điều trị cho cả các trường hợp
nồng độ β hCG ≥5.000mIU/ml và có âm vang tim thai.
2.1. Nồng độ βhCG ban đầu với kết quả điều
trị.

đầu cao > 3.000mIU/ml nên lựa chọn phác đồ đa liều
để có tỷ lệ thành công cao hơn.
2.2 Diễn biến nồng độ βhCG trước điều trị.
Phác đồ đơn liều: đa số các trường hợp sau khi
tiêm liều thứ nhất nồng độ β hCG giảm nhanh (>15%
so với nồng độ ban đầu): Ngày thứ 4: 59,5%. Ngày 7:
74,4%. Các trường hợp này chỉ cần theo dõi tiếp. 21
trường hợp (25%) có nồng độ β hCG giảm chậm (<
15%) hoặc tăng so với nồng độ ban đầu nên được
chỉ định tiêm tiếp liều thứ 2. Ngày 7 trong số này đều
giảm < 15% so với liều 1. 2 trường hợp trở về bình
thường (2,4%). 4 trường hợp thất bại (4,6%)
Phác đồ đa liều cho thấy nồng độ β hCG giảm
nhanh theo số ngày điều trị. Những trường hợp có
nồng độ β hCG giảm chậm (<15%) hoặc hoặc tăng ở
ngày 3: là 63,9%. Ngày 5 là 40,5% ngày thứ 7 11,1%.
Các trường hợp này phải tiêm liều 2,3,4. Có 2 trường
hợp (2,4%) trở về mực bình thường và 5 trường hợp
thất bại (5,8%).
Ở tuần thứ 2, nồng độ β hCG ở phác đồ đa liều
giảm nhanh . Gần 100% các trường hợp giảm > 15%
và không còn trường hợp nào nồng độ β hCG tăng.
20 trường hợp trở về bình thường (25,3%), 2 thất bại
(2,5%). Đơn liều: 96,2% có nồng độ β hCG giảm
nhanh > 15%. 3,8% nồng độ β hCG biến đổi kéo dài
và phức tạp. 17,5% nồng độ β hCG trở về bình
thường và 4 trường hợp thất bại (5,0%)
- Nhưng sự khác biệt giữa hai phác đồ không có
ý nghĩa thống kê p >0,05
Phác đồ đa liều : 41,8% nồng độ β hCG trở về

bằng MTX vì kích thước khối chửa trên siêu âm hầu
như giữ nguyên hoặc tăng lên sau khi tiêm thuốc. Bởi
vậy việc theo dõi bằng siêu âm hàng ngày là không
cần thiết [1]. Theo chúng tôi, siêu âm chỉ nên thực
hiện khi có nghi ngờ về lâm sàng (có giá trị chẩn
đoán chính xác khối chửa đó đã vỡ hay chưa, lượng
máu trong ổ bụng nhiều hay ít) để có chỉ định phẫu
thuật kịp thời hay trước khi cho người bệnh về theo
dõi ngoại trú. Trong thời gian theo dõi ngoại trú nên
thực hiện siêu âm 1 tuần/ 1 lần cùng với xét nghiệm
định lượng nồng độ β hCG
2.2.1. Thời gian để nồng độ βhCGtrở về âm tính
Nghiên cứu của nhiều tác giả Nguyễn Văn Học,
Tạ Thị Thanh Thủy, Vũ Thanh Vân, Lipscomb G H.,
Stovall T., Ling F., cho thấy nồng độ β hCG càng
thấp, thời gian trở về âm tính càng ngắn [1], [3], [4],
[7], [10]. Theo Barnhat K thời gian nồng độ β hCG âm
tính trung bình là 35 ngày, trường hợp chậm nhất là
109 ngày [5]. Trong nghiên cứu của Tạ Thị Thanh
Thủy, nồng độ β hCG thấp ≤ 2.000 mIU/ml nên thời
gian nồng độ β hCG âm tính trung bình là 13 ngày
[3]. Còn trong nghiên cứu này, thời gian nồng độ β
hCG âm tính nhanh nhất là 7 ngày, chậm nhất là 72
ngày. So sánh giữa 2 phác đồ chúng tôi nhận thấy
thời gian trung bình β hCG âm tính ở nhóm điều trị 1
liều của cả 2 phác đồ không có sự khác biệt (21,1
ngày và 19 ngày). Ở các nhóm điều trị từ 2 liều trở
lên, thời gian trung bình βhCG âm tính có sự khác
biệt rõ rệt giữa 2 phác đồ là 34,94 ngày và 27,67
ngày (p<0,05). Như vậy sử dụng phác đồ đa liều thời

lệ các tác dụng không mông muốn cao hơn nhưng sự
khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p<0,05). Điều
này cũng phù hợp với sự nhận xứ của Ashraf A., và
Lipscomb G.H. khi nghiên cứu về hiệu quả của 2
phác đồ: không có sự khác biệt đáng kể giữa tỷ lệ
điều trị thành công của phác đồ đơn liều 88,9 – 89%
và phác đồ đa liều 92,6% - 96% đồng thời cũng
không có sự khác biệt về tỷ lệ tác dụng không mong
muốn giữa 2 phác đồ [8], [9]. Còn trong 1 nghiên cứu
tổng hợp với số đối tượng nghiên cứu lớn (1.327
trường hợp) thì Barnhart K. nhận xét: có sự khác biệt
đáng kể về tỷ lệ điều trị thành công của phác đồ đa
liều so với phác đồ đơn liều 92% và 88,1% (p< 0,05),
tuy nhiên tác dụng không mong muốn ít hơn đáng kể
đã được ghi nhận giữa phác đồ đơn liều so với phác
đồ đa liều 31% so với 41% (p < 0,05) [5]. Qua phân
tích này, cũng phần nào lý giải tại sao phác đồ đơn
liều được sử dụng phổ biến hơn trên thế giới bởi các
ưu thế của nó: kỹ thuật đơn giản (không cần phối
hợp thuốc khác), số lần phải theo dõi, xét nghiệm ít
hơn, chi phí điều trị thấp hơn, thuận lợi hơn cho cả
thầy thuốc và người bệnh.
KẾT LUẬN
1.Tỷ lệ thành công của 2 phác đồ
- Tỷ lệ thành công 2 phác đồ đơn liều là 86%,
trong đó
1 liều: 75,7%; 2 liều: 20,3%; 3 liều: 2,7%; 4
liều:1,3%
- Tỷ lệ thành công của các phác đồ đa liều là
90,3% trong đó:

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Văn Học (2004). Nghiên cứu sử dụng
MTX trong điều trị chửa ngoài tử cung chưa vỡ tại bệnh
viện phụ sản Hải Phòng. Luận án Tiến sĩ Y học, Học
viện Quân y.
2. Nguyễn Việt Hùng (2010) . Điều trị chửa ngoài tử
cung chưa vỡ bằng MTX tại khoa Phụ Sản – bệnh viện
Bạch Mai. Tạp chí Y học thực hành (722), số 6/2010,
tr.49-51
3. Tạ Thanh Thủy, Đỗ Danh Toàn (2004). Điều trị
chửa ngoài tử cung với MTX, một nghiên cứu thử
nghiệm không so sánh tại bệnh viện Hùng Vương. Hội
nghị khoa học kỹ thuật Bệnh viện Phụ sản Hùng Vương,
Tp Hồ Chí Minh, tr.60 – 65.
4. Vũ Thanh Vân (2006). Điều trị CNTC bằng MTX
tại Bệnh viện phụ sản trung ương 3/2005 – 7/2006. Luận
văn tốt nghiệp bác sĩ nội trú, trường ĐHY Hà Nội
5. Barnhart K. Gabriella G, Rachel A, Mary S
(2003). The management of ectopic pregnancy : a meta-
analysis comparing single dose anhd multidose
regime’s. Obst. and Gynecol, 2003, 101, pp. 778-84
6. Gamzu R., Almog B. (2002). The untrasonograpic
apperance of tubal pregnancy in patienst treated with
methotraxate. Hum.Reprod.17 (10), pp 2585-7
7. Mahvash Z. Taghi R. Morjigan B (2008).
Comparison of single and multidose of methotraxate in
medical treat of ectopic pregnancy. Par J Med Sci, July-
September, 24 (4), pp. 586-9
8. Lipcom Gary H, Karen J. Derita B. (1999).
Management of separation pain after single dose


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status