LỜI CẢM ƠN
Trong những năm học tập và rèn luyện tại trường Đại học Hồng Đức,
tôi đã nhận được sự dạy dỗ của thầy cô giáo, đặc biệt là các thầy cô trong Bộ
môn chăn nuôi thú y. Đến nay tôi đã hoàn thành chương trình học tập và
thời gian thực tập tốt nghiệp.
Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới: ban lãnh đạo
Trường Đại học Hồng Đức và Khoa Nông Lâm Ngư Nghiệp, tới các thầy cô
trong bộ môn khoa học vật nuôi, đặc biệt là cô Nguyễn Thị Hải, người đã rất
nhiệt tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn Công ty TNHH lợn giống Bắc Trung Bộ -
Thành Phố Thanh Hóa đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực
tập tại Công ty.
Tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã giúp đỡ và động viên tôi trong suốt
thời gian học tập tại trường
Trong quá trình thực tập bản thân tôi không tránh khỏi những thiếu
sót. Kính mong sự quan tâm góp ý của các thầy cô để tôi trưởng thành hơn
trong công tác sau này.
Thanh Hoá, tháng 06 năm 2013
Sinh viên
Nguyễn Doãn Quyết
MỤC LỤC
Trang
1. MỞ ĐẦU 1
1.1. Lý do chọn đề
tài 1
1.2. Mục đích, yêu cầu của đề tài 2
1.2.1. Mục đích 2
1.2.2. Yêu cầu cần đạt 2
1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiển của đề tài 2
1.3.1.Ý nghĩa khoa học 2
nông nghiệp. Phương hướng cơ bản của ngành chăn nuôi nước ta trong những
năm tới là: phát triển ngành chăn nuôi trở thành một trong những ngành sản xuất
độc lập, một ngành sản xuất hàng hóa thực sự. Trong những năm gần đây chăn
nuôi lợn được chú trọng và phát triển đạt năng xuất chất lượng cao, đáp ứng nhu
cầu sử dụng trong nước và xuất khẩu. Mặt khác do xã hội ngày càng phát triển,
để đáp ứng được nhu cầu thì thực phẩm thịt không những có năng suất cao mà
phải có chất lượng tốt, để chăn nuôi duy trì và phát triển được thì cơ sở sản xuất
phải đáp ứng được các chỉ tiêu đó. Nhưng trong thực trạng hiện nay ngành chăn
nuôi nói chung và ngành chăn nuôi lợn nói riêng đang gặp nhiều khó khăn do
ảnh hưởng của điều kiên thời tiết cũng như việc ứng dụng khoa học kĩ thuật vào
thực tiễn vào sản xuất còn gặp nhiều hạn chế.
Để chăn nuôi lợn phát triển cần quan tâm hơn nữa tới chất lượng giống,
thức ăn, công tác phòng bệnh thú y, có như vậy mới mang lại hiệu quả kinh tế,
hạn chế thấp nhất rủi ro do bệnh tật gây nên. Thực tế hiện nay cho thấy, dịch
bệnh trong chăn nuôi lợn xảy ra đa dạng và ở mọi lứa tuổi trong đó đáng chú ý
là lợn con. Trong giai đoạn này lợn dễ mắc bệnh hơn cả do cơ thể lợn con phát
triển chưa hoàn chỉnh, sức đề kháng còn kém. Bệnh hay mắc ở giai đoạn này là
bệnh phân trắng, bệnh xảy ra nhiều ở trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Bệnh
gây hậu quả nghiêm trọng làm giảm tỷ lệ sống, gây còi cọc ảnh hưởng tới
năng xuất trong chăn nuôi, bệnh xảy ra quanh năm nhưng thường xảy ra nhiều
vào các tháng lạnh ẩm, mưa bão, độ ẩm chuồng cao. Bệnh xảy ra do vi khuẩn
4
E.coli xâm nhập vào đường tiêu hóa gây rối loạn hoạt động tiêu hóa, ảnh hưởng
tới sự phát triển của các vi sinh vật có lợi trong đường tiêu hóa dẫn tới lợn con
bị ỉa chảy mất nước, gầy yếu, có thể chết nếu không được điều trị kịp thời.
Tỷ lệ mắc bệnh cao từ 60-70% nhưng khi thời tiết thay đổi thì tỷ lệ mắc
Không những thế tốc độ sinh trưởng của lợn mắc bệnh giảm từ 30-40%, vì vậy
việc phòng bệnh cho đàn lợn là hết sức quan trọng.
Tại xã Đông Hải, Thành phố Thanh Hóa do một số yếu tố ảnh hưởng nên
lợn con vẫn mắc bệnh với tỷ lệ mắc bệnh cao gây nhiều thiệt hại lớn trong chăn
-Tốc độ sinh trưởng cao nhưng không đồng đều
Lợn con bú sữa là lợn từ khi sinh ra cho đến khi tách mẹ. Giai đoạn này
lợn con sinh trưởng rất nhanh, sau 2 tuần lợn con có trọng lượng gấp đôi trọng
lượng sơ sinh, sau 4 tuần gấp 4 - 5 lần, sau 8 tuần gấp 10 - 15 lần nhưng tăng
không đồng đều.
Nguyên nhân của sự tăng trưởng không đều chủ yếu là do lượng sữa mẹ
theo quy luật giảm ở tuần thứ 3 sau khi đẻ mà nhu cầu dinh dưỡng của lợn con
không ngừng tăng lên, lượng thức ăn bổ sung thêm chưa có điều này làm cho
tăng trọng tuyệt đối của lợn con giảm. Thời gian giảm tốc độ sinh trưởng kéo dài
khoảng 2 tuần thường gọi là giai đoạn khủng hoảng thứ hai của lợn con, có thể
khắc phục giai đoạn này bằng cách tập ăn cho lợn con, cho chúng ăn thêm thức
ăn lúc 5 - 7 ngày tuổi.
Lợn con bú sữa có tốc độ sinh trưởng nhanh, khả năng tích lũy dinh
dưỡng rất mạnh nếu ở 20 ngày tuổi mỗi ngày có thể tích lũy 14g protein/1 kg
khối lượng cơ thể trong khi đó lợn lớn chỉ tích lũy được 1,3 - 1,4 g/kg khối
lượng. Để tăng 1 kg khối lượng cơ thể lợn con cần ít năng lượng hơn do tăng
trọng ở lợn con chủ yếu là tăng nạc vì thế bổ sung thức ăn tăng trọng lợn con
hiệu quả hơn nhiều so với cho lợn mẹ ăn đẻ tạo sữa cho con bú.
- Đặc điểm tiêu hóa của lợn con
Cơ quan tiêu hoá của lợn con phát triển rất nhanh nhưng chưa hoàn
thiện. Lúc mới sinh đã có 4 răng cửa và 4 răng nanh vì vậy lợn có thể nhai gặm
6
thức ăn sớm, dung tích dạ dày lúc 10 ngày tuổi tăng gấp 3 lần khi sơ sinh, 60
ngày tuổi tăng gấp 25 lần. Chiều dài và dung tích ruột non, ruột già cũng tăng
lên gấp nhiều lần, lúc 60 ngày tuổi về chiều dài ruột non và ruột già tăng gấp 5 -
6 lần, dung tích tăng gấp 50 - 60 lần so với lúc sơ sinh. Nhưng cơ quan tiêu hoá
của lợn con chưa được hoàn thiện do một số men tiêu hóa thức ăn chưa có hoạt
tính mạnh, nhất là ở 3 tuần tuổi đầu.
Đặc biệt là hàm lượng HCl, ở lợn con việc sản sinh HCl là không đáng
kể trong 3 tuần tuổi đầu. Lúc cai sữa pH chuyển từ 3 sang 4 - 5. Điều này không
C nhưng sẽ giảm 5
0
C khi
nhiệt độ chuồng nuôi là 13
0
C (sau 20 phút). Thân nhiệt trở lại bình thường sau
24 giờ.
* Dự trữ năng lượng cơ thể rất ít
Theo Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng,(1996) [3]. Lúc lợn con mới
sinh, cơ thể chứa 80% là nước và chỉ có 20% Lipit (ở 3 tuần đầu có 65% là
nước và 12% Lipit). Ngoài chất dự trữ cơ thể là Lipit còn có Glycogen, tổng
năng lượng dự trữ (Lipit + Glycogen) khoảng 1000 - 1200kcal tương đương với
1 lít sữa, năng lượng này chỉ đủ cho lợn con sống khoảng 2 ngày. Do đó đòi hỏi
phải đảm bảo cho lợn con được bú sớm và giữ ấm. Nhờ quá trình oxy hoá mô
bào mỡ mà gia súc non điều chỉnh được thân nhiệt và khả năng điều chỉnh thân
nhiệt ở gia súc là khác nhau, phụ thuộc vào độ phát triển khác nhau của các mô
bào mỡ của từng cá thể, từng loại gia súc.
*Hệ thống enzym tiêu hoá chưa hoàn chỉnh
Cho tới 15 - 21 ngày, enzym của lợn con chỉ thích ứng cho tiêu hoá sữa
(Chimozin, chimotripsin cho tiêu hoá protein sữa, lipaza cho lipit và lactaza cho
lactoz). Bắt đầu từ 3 tuần tuổi, hoạt tính enzym tiêu hoá tinh bột và protein thực
vật phát triển nhanh. Do đó việc cho lợn con tập ăn sớm sẽ kích thích sự phát
triển đầy đủ các loại loại enzym tiêu hoá.
* Thiếu sắt
Thiếu sắt dẫn đến thiếu máu do thiếu hàm lượng Hb (Hemoglobin) dẫn
đến hạn chế sản xuất kháng thể.
Dự trữ sắt lúc mới sinh rất ít (60 - 70 mg ở gan), trong khi đó nhu cầu của
cơ thể lợn tới 6 - 7 mg/ngày, mà lượng sắt ở sữa chỉ có 1 mg/con/ngày. Điều đó
cho thấy lợn con thiếu sắt, nhất là khi cai sữa. Vì vậy, việc bổ sung sắt là việc
8
Song tập trung nguyên nhân gây bệnh có thể theo hai hướng chính như sau:
.Nguyên nhân nội tại
.Nguyên nhân do ngoại cảnh
*Nguyên nhân nội tại:
Theo các tác giả Nguyễn Văn Thanh, Bùi Thị Tho, Bùi Tuấn Nhã(2004)
[15]. Khi mới sinh, cơ thể lợn con chưa phát triển hoàn chỉnh về hệ tiêu hoá và
hệ miễn dịch. Trong dạ dày lợn con thiếu axít HCl do đó pH dạ dày cao (pH = 3
- 4), tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển.
Khi thiếu HCl, Pepsinogen tiết ra không trở thành men pepsin hoạt động
được. Khi thiếu men pepsin, sữa mẹ không được tiêu hoá và bị kết tủa dưới dạng
casein, gây rối loạn tiêu hoá, tiêu chảy phân màu trắng (màu của casein chưa
được tiêu hoá).
Hơn nữa khi mới sinh vỏ não và các trung tâm điều tiết nhiệt của lợn con
chưa hoàn chỉnh, do đó không kịp thích nghi với sự thay đổi bất thường của thời
tiết, khí hậu. Lượng mỡ dưới da của lợn con mới sinh chỉ có khoảng 1%. Lúc
khí hậu thay đổi, lợn con mất cân bằng giữa hai quá trình sản nhiệt và thải nhiệt.
Đặc điểm này lý giải tại sao bệnh này lại hay xảy ra ồ ạt, hàng loạt khi khí hậu
thời tiết thay đổi bất thường.
* Nhóm nguyên nhân do ngoại cảnh:
Gần đây nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã thống nhất. Bệnh
phân trắng lợn con xảy ra do nhiều nguyên nhân phối hợp, liên quan đến hàng
loạt các yếu tố. Do đó việc phân chia nguyên nhân chỉ là tương đối, nhằm mục
10
đích xác định nguyên nhân nào là chính, nguyên nhân nào là phụ để có biện
pháp phòng trị có hiệu quả.
Qua các tài liệu của nhiều tác giả, có thể chia thành những nguyên nhân
chính sau:
. Do điều kiện thời tiết khí hậu
. Do đặc điểm nuôi dưỡng
. Do vi khuẩn mà chủ yếu là E.Coli
Trong giai đoạn lợn con theo mẹ, đặc biệt là lợn con mới sinh, sữa là
nguồn dinh dưỡng chính, dinh dưỡng tốt nhất. Sự sinh trưởng và phát triển của
lợn con nhanh hay chậm phụ thuộc vào sữa mẹ tốt hay xấu. Nếu sữa mẹ xấu thì
dễ gây rối loạn tiêu hoá cho lợn con, từ đó phát sinh bệnh phân trắng lợn con.
Theo TS Nguyễn Xuân Bình (2005) [1] đã nhận xét: bệnh phân trắng lợn
con là do hai nguyên nhân, tác động nặng, nhẹ khác nhau:
>Do thành phần sữa mẹ có nhiều chất khô, mỡ khó tiêu lợn con sinh tích
thực, từ đó E.Coli tác động phân huỷ sữa thành axít gây viêm dạ dày - ruột.
>Do trữ lượng sắt của lợn con từ bào thai chưa đủ, khi ra ngoài lại không
được sữa mẹ cung cấp Co, B12 nên sinh bần huyết. Cơ thể suy yếu, không hấp
thụ được đầy đủ chất dinh dưỡng.
Tình trạng rối loạn trao đổi protein có thể xuất hiện do thiếu hụt protein trong
thức ăn, do tỷ lệ các axít amin trong khẩu phần không cân đối, do hệ tiêu hoá
của lợn mẹ hấp thu kém. Do vậy nếu không chăm sóc tốt, cung cấp đầy đủ chất
12
Mặt khác ở giai đoạn sơ sinh, lợn con chưa phát triển hoàn chỉnh về giải
phẫu và sinh lý nên quá trình tiêu hoá và hấp thu kém, điều hoà nhiệt kém, hệ
thống miễn dịch chưa hoạt động, nên việc tạo sữa tốt cho lợn con bú là rất quan
trọng và sự tạo sữa của lợn mẹ ở các giai đoạn khác nhau là khác nhau, giai đoạn
mới sinh 1 - 3 ngày đầu có quá trình tiết sữa đầu có hàm lượng protein rất cao 18
- 19%, protein huyết thanh là 34 - 38% protein tổng số. Do đó, phải có quá trình
tập ăn thích hợp cho lợn con.
Trong sữa đầu hàm lượng vitamin A, D, B, C cao hơn rất nhiều so với sữa
thường. Ngoài ra, trong sữa đầu có MgSO
4
, có tác dụng tẩy rửa các chất cặn bã
trong đường tiêu hoá của lợn sơ sinh làm tăng nhu động ruột, làm quá trình tiêu
hoá tốt. Đặc biệt trong sữa đầu có hàm lượng kháng thể globulin. Do vậy mà
việc cho lợn con bú sữa đầu đầy đủ là rất cần thiết để cung cấp hàm lượng kháng
thể đáng kể chống lại sự xâm nhiễm của các vi khuẩn gây bệnh, đồng thời tăng
nuôi kém hiệu quả.
* Nguyên nhân do virus:
Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu đến vai trò của virus.
Năm 1978 Bohl EH và cộng sự [22]. Khi nghiên cứu đã thấy Rotavirus thuộc
họ Reovindae gây ra. Bệnh hay xảy ra ở lợn 1- 5 ngày tuổi, tỷ lệ chết cao 50 -
100%. Có triệu chứng điển hình là phân nhão như hồ rồi đến phân lẫn nhiều
nước màu vàng hoặc xám, chứa nhiều chất vón.
* Nguyên nhân do stress:
Theo Bùi Thị Tho, Phạm Khắc Hiếu (1996) [16], bệnh phân trắng lợn con
có liên quan đến trạng thái stress như: thời tiết ẩm lạnh hoặc nóng ẩm đột ngột,
14
thức ăn cho lợn mẹ thay đổi bất thường về lượng đạm và chất béo, chất khoáng
và vitamin.
Hệ thống dạ dày - ruột đặc biệt mẫn cảm với stress. Ngay ở giai đoạn báo
động của quá trình stress, nhu động ruột tăng, thậm chí gây ỉa chảy cấp tính.
Nếu tác nhân stress tác động với cường độ mạnh, kéo dài thì chắc chắn xảy ra
viêm dạ dày - ruột. Tiếp theo quá trình viêm của dạ dày - ruột bởi stress, các vi
khuẩn có trong đường tiêu hoá đã làm bệnh trầm trọng hơn, tổn thương nặng
hơn. Các tác nhân stress sẽ tạo điều kiện “mở đường” cho vi khuẩn phát triển,
nhất là vi khuẩn E.Coli.
Một số triệu chứng lâm sàng và bệnh tích của bệnh lợn con phân trắng
*Triệu chứng.
- Con vật biểu hiện kém hoạt động, lông xù, ít bú hay bỏ bú, không thích
chạy nhảy, da khô, chậm lớn và thiếu máu. Lợn gầy sút nhanh chóng, nôn ra sữa
đông không tiêu.
- Phân loãng biến đần từ mầu xi măng nát sang màu trắng sữa, vàng nhạt,
có mùi tanh khắm, bết lại quanh hậu môn, đuôi khoeo. Con vật bị mất nước,
biểu hiện da nhăn nheo. Nếu không điều trị kịp thơi con vật sẽ chết nhanh sau
4-5 ngày.
-Nếu bị kế phát nhiễm các loại vi khuẩn khác như Samonella, Steptococus
nguyên và kháng thể.
*Phòng và trị bệnh
16
Bệnh phân trắng lợn con là một bệnh gây ra bởi nhiều nguyên nhân kết
hợp với nhau, làm mất cân bằng hệ vi sinh vật trong đường tiêu hoá. Do vậy,
việc phòng bệnh cũng như trị bệnh phải kết hợp nhiều biện pháp khác nhau
- Cơ sở khoa học và thực tiễn của việc phòng bệnh
Để phòng hội chứng tiêu chảy ở lợn cần tiến hành theo phương pháp tổng
hợp: Vệ sinh và chăm sóc tốt, bổ sung sắt, sử dụng vaccin, chế phẩm sinh học.
+ Phòng bệnh bằng vệ sinh và chăm sóc tốt
Đây là biện pháp nhằm nâng cao sức đề kháng tự nhiên của con vật, đồng
thời loại trừ những nhân tố bẩm sinh gây bệnh, hạn chế sự xâm nhập và gây
bệnh của vi khuẩn ở bên ngoài. Gồm công tác vệ sinh như phun thuốc sát trùng
tẩy uế, quét dọn chuồng nuôi hàng ngày, vệ sinh thức ăn nước uống Nhiều tác
giả đã nhấn mạnh về chế độ chăm sóc nuôi dưỡng như chế độ ăn uống đảm bảo,
chống nóng, ẩm và quá lạnh,
Theo Lê Văn Tạo (2006) [14], vi khuẩn E.coli gây bệnh ở lợn là vi khuẩn
tồn tại trong môi sinh, đường tiêu hoá của vật chủ. Khi môi sinh quá ô nhiễm do
vệ sinh chuồng trại kém, nước uống thức ăn bị nhiễm vi khuẩn, điều kiện ngoại
cảnh thay đổi, lợn giảm sức đề kháng dễ bị cảm nhiễm E.coli, bệnh sẽ nổ ra vì
vậy mà khâu vệ sinh, chăm sóc có một ý nghĩa to lớn trong phòng bệnh
Theo Đào Trọng Đạt (1996) [2], để phòng bệnh tốt, cần phải đảm bảo
nuôi dưỡng, chăm sóc tốt. Để có đàn lợn khoẻ mạnh phải nuôi dưỡng và chăm
sóc tốt lợn nái giống khi mới chửa, phải đảm bảo các nhu cầu về dinh dưỡng, về
các loại vitamin, các nguyên tố đa, vi lượng.
Theo Đoàn Khắc Húc 2003 [6], lợn con đẻ ra phải được sưởi ấm ở nhiệt
độ 34
0
C trong suốt tuần lễ đầu. Sau đó giảm xuống nhưng không thấp hơn 30
0
Enterobacterraceae, gram âm (-), hình que đường kính khoảng 1mm. Nhiệt độ
thích hợp 37 – 38
0
C. pH: 7.2-7.4. E.coli 2 loại độc tố.
Bệnh phân trắng lợn con là một bệnh xảy ra đã rất lâu. Bệnh được chú ý
theo dõi khoảng từ năm 1959 tại các cơ sở chăn nuôi.
Bùi Thị Tho, Phạm Khắc Hiếu (1996) [16] kiểm tra tính kháng thuốc của
E.coli phân lập từ lợn con bị bệnh phân trắng tại các tỉnh phía Bắc trong 20 năm
(1975 - 1995) cho thấy tính kháng thuốc tăng rất nhanh, tính kháng với nhiều
loại kháng sinh cũng tăng rất cao.
Theo Cù Hữu Phú, Nguyễn Ngọc Nhiên (2000) [12] các tác giả đã phân lập
vi khuẩn E.coli và Salmonella. ở lợn mắc bệnh tiêu chảy, đã xác định được các
chủng E.coli mẫn cảm cao với các loại kháng sinh Nitrofurazolidon (85%),
Neomycine (80%),Sulfonamid(75%).
2.1.3. Cơ sở khoa học của việc sử dụng thuốc Hamcoli-s và Enrofloxacin
- Thuốc Hamcoli-s
SXT: Công cổ phần dược và vật tư thú y (HANVET)
Thành phần Mỗi ml chứa:
Amoxycillin (trihydrate) …………… 100 mg
Colistin sulfate……………………….250 000 IU
Dung môi vừa đủ…………………….1 ml
Chỉ định: Đặc trị các bệnh viêm ruột ỉa chảy do nhiễm khuẩn E. coli,
Salmonella: Phân trắng, phân xanh, phân lẫn máu; bệnh sưng phù mặt, bệnh
đóng dấu, hội chứng viêm vú viêm dạ con mất sữa (M.M.A.), phó thương hàn,
viêm khớp, hô hấp, niệu dục, … ở lợn, trâu, bò, dê, cừu, chó, mèo.Chữa các
bệnh viêm ruột ỉa chảy, viêm đường niệu dục, viêm thận , nhất là ở gia súc
non.
19
-Thuốc Enrofloxacin
Dung dịch tiêm
máu như: đường huyết, cholesteson, sắt, kali, natri.
- Nguyễn Văn Vượng (1963) [19] cho rằng lợn con bị phân trắng là do
thiếu nguyên tố vi lượng, khi dùng hợp chất sulfat đồng, sulfat sắt bổ sung cho
lợn mẹ và lợn con khi thấy khỏi bệnh.
Một số chuyên gia ở nước ta cho rằng lợn con bị phân trắng là do thiếu
vitamin và thiếu vận động, thiếu vitamin A,D,E,B1 là rối loạn quá trình hấp thụ
các chất dinh dưỡng, tăng quá trình oxi hóa tăng chất dự trữ trong cơ thể, từ đó
quá trình thích ứng với ngoại cảnh kém, dễ bị các tác nhân ngoại cảnh tác động.
Đặc biệt là các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm.
2.2.2. Tình hình nghiên cứu bệnh phân trắng lợn con ở nước ngoài.
Trên thế giới bệnh lợn con phân trắng xảy ra ở nhiều nước như: Nga, Anh,
Pháp, Mỹ Việc gọi tên bệnh ở nhiều nước cũng khác nhau như: Dyspepsia,
hay Colibaccilosis mức độ gây bệnh và thiệt hại cũng rất lớn.
Các nhà nghiên cứu đưa ra nhiều quan điểm về mặt nguyên nhân gây bệnh
lợn con phân trắng.
A.V. Kovanhisky [20] cho rằng sau khi sinh,các cơ quan của lợn con chưa
phát triển thành thục, đặc biệt là cơ quan tiêu hóa dịch vị của lợn chưa phát huy
21
tác dụng tiêu hóa, chưa có tác dụng ngăn chặn vi khuẩn, thức ăn tồn tại lâu trong
đường tiêu hóa tạo điều kiện cho vi khuẩn gây bệnh phát triển làm cho lợn con
bị bệnh đường ruột.
Bertschinger H.U.A.F.J.M (1999) [22], khi xét nghiệm 22 con lợn con bị
bệnh phân trắng ở 2 tuần đầu đều thấy có E.coli và kết luận nguyên nhân gây ra
bệnh là do E.coli.
Hiện nay với tiến bộ khoa học kỹ thuật đã sản xuất ra vaccin phòng bệnh
lợn con phân trắng rất có hiệu quả. Việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật
vào chăn nuôi cũng phần nào hạn chế được nhiều thiệt hại do bệnh gây ra.
Qua tình hình nghiên cứu lợn con bị phân trắng trong và ngoài nước cho
thấy rằng ở điều kiện Việt Nam hay trên thế giới đều có bệnh lợn con phân
trắng, tuy nhiên mức độ bệnh tiến triển bệnh và nguyên nhân gây bệnh có khác
+ Nhóm 1: 1 tuần tuổi từ 1 đến 7 ngày tuổi
+ Nhóm 2: 2 tuần tuổi từ 8 đến 14 ngày tuổi
+ Nhóm 3: 3 tuần tuổi từ 15 đến 21 ngày tuổi
+ Nhóm 4: 4 tuần tuổi từ 22 ngày đến cai sữa
Chúng tôi bố trí thí nghiệm thành 2 lô, mỗi lô điều trị 30 con. Lợn con đưa
vào thí nghiệm luôn đảm bảo nguyên tắc đồng đều.
+ Lô 1: Điều trị bệnh bằng thuốc Hamcoli-s với phác đồ điều trị như sau:
Lắc kỹ trước khi dùng.
Tiêm bắp thịt
Liều: 1 ml/10 kg P/ngày.
Dùng liên tục 3 ngày
+ Lô 2: Điều trị bệnh bằng thuốc Enrofloxacin với phác đồ điều trị như sau:
Thuốc dùng để tiêm bắp.
Liều lượng:1ml/5kgP/ngày
23
Dùng liên tiếp 3 ngày
3.3.4. Chỉ tiêu theo dõi và phương pháp theo dõi các chỉ tiêu
3.3.4.1. Chỉ tiêu theo dõi
- Tỉ lệ mắc bệnh.
- Tỷ lệ chết.
- Tỷ lệ khỏi.
- Tỷ lệ tái phát.
- Tỷ lệ còi cọc.
- Thời gian, chi phí điều trị.
3.3.4.2. Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu.
- Ghi chép số liệu điều tra vào sổ số liệu thô sau đó xử lí số liệu
3.3.4.3. Phương pháp tính các chỉ tiêu
Số lượng điều trị khỏi
Tỷ lệ khỏi bệnh (%) = x 100
Số lợn được điều trị
x
∑
=
=
+ Độ lệch chuẩn: (SD):
SD=
1n
)X(
2
i
x
−
−
∑
+ Sai số chuẩn mẫu:
n
SD
m
SE
=
Trong đó:
X
: Giá trị trung bình
m
SE
: Sai số chuẩn
n: Dung lượng mẫu
SD: Độ lệch chuẩn
25