BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
_______________
Nguyễn Thanh Nga
TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO DỰ ÁN MỘT SỐ KIẾN THỨC
THUỘC PHẦN “TỪ TRƯỜNG VÀ CẢM ỨNG ĐIỆN TỪ”
– HỌC PHẦN ĐIỆN VÀ TỪ ĐẠI CƯƠNG CHO SINH VIÊN
NGÀNH KỸ THUẬT TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC Thành phố Hồ Chí Minh – 2009
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
_______________
học, Ban Chủ nhiệm khoa Vật lý Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí
Minh, Ban Giám đốc trường Đại học giao thông vận tải – cơ sở 2 đã tạo điều
kiện thuận lợi cho tác giả trong suốt quá trình
học tập và thực hiện đề tài.
Cuối cùng, xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, thầy cô
và các học viên cao học cùng lớp đã động viên, giúp đỡ tác giả trong thời gian
nghiên cứu và hoàn thành luận văn này. Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 08 năm 2009
Tác giả MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong thời đại ngày nay, thế giới đang bước vào một kỷ nguyên mới với sự
phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật hiện đại, những thành tựu của nó gần
như được áp dụng ngay lập tức vào tất cả các lĩnh vực, là động lực thúc đẩy sự phát
triển mạnh mẽ về mọi mặt của đời sống xã hội. Để đáp
ứng yêu cầu phát triển ngày
càng cao của xã hội, đòi hỏi con người không ngừng học hỏi, nâng cao tri thức và
kỹ năng của mình. Sứ mệnh đó đã đặt lên vai ngành giáo dục một trọng trách lớn
lao: đào tạo con người đáp ứng yêu cầu xã hội ngày càng phát triển.
Giáo dục hiện đại đang đứng trước yêu cầu và thách thức lớn lao của xã hội
hiện đại. Trong trường đại học, việc học tập của sinh viên không thể là thụ động
tiếp thu bài
tư duy sáng tạo của người học. Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và
phương tiện hiện đại vào trong quá trình dạy học, bảo đảm điều kiện và thời gian tự
học, tự nghiên cứu cho học sinh, nhất là sinh viên đại học”[5].
Nhiệm vụ của hệ thống giáo dục đại học là đào
tạo nguồn nhân lực có trình độ
cao, có đạo đức trong sáng, năng động, nhạy bén, có khả năng tiếp thu nhanh chóng
những thành tựu khoa học công nghệ hiện đại. Đó là lực lượng lao động nòng cốt
đưa đất nước phát triển kịp với xu thế phát triển của thời đại. Để đáp ứng được yêu
cầu phát triển của đất nước, giáo dục đại học tất yếu phải luôn đổi mới cả về nội
dung lẫn phương pháp, rèn luyện cho sinh viên kỹ năng giải quyết các vấn đề thực
tiễn một cách linh hoạt .Đổi mới phải được xem là
mệnh lệnh của cuộc sống nếu
không muốn đất nước bị tụt hậu.
Tuy nhiên, nhìn chung giáo dục đại học của nước ta vẫn c
hậm đổi mới so với
xu hướng đổi mới chung của giáo dục, nhất là đối với các môn học đại cương ở các
trường Đại học kỹ thuật. Cụ thể:
- Về nội dung giáo trình giảng dạy: vẫn là các giáo trình cũ được chỉnh sửa đôi
chút, các kiến thức rất cũ, việc cập nhật các kiến thức mới còn hạn chế, các kiến
thức m
à sinh viên tiếp thu được rất khó liên hệ với thực tế.
- Về phương pháp dạy học: vẫn là cách dạy học truyền thống - thầy đọc , giảng
giải; trò ghi chép cẩn thận, học thuộc. Sinh viên rất ít có thời gian tự nghiên cứu, tự
học, thực hiện các nhiệm vụ học tập phức hợp gắn liền với thực tiễn.
- Về hình thức kiểm tra, đánh giá: điểm thi kết thúc học p
hần chiếm đến 80%
tổng số điểm của học phần, còn 20% là điểm chuyên cần và làm thí nghiệm. Như
vậy, không có điểm đánh giá quá trình thực hiện nhiệm vụ học tập của sinh viên,
động và quan điểm dạy học tích hợp. DHDA góp phần gắn lý thuyết với thực hành,
tư duy và hành động, nhà trường và xã hội, tham gia tích cực vào việc đào tạo năng
lực làm việc tự lực, năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp, tinh
thần trách nhiệm
và khả năng cộng tác làm việc của người học.
Ở Việt Nam, các đề án môn học, đề án tốt nghiệp từ lâu cũng đã được sử dụng
trong đào tạo đại học, các hình thức này gần gũi với dạy học theo dự án. Tuy vậy
trong lĩnh vực dạy học, DHDA này chưa được quan tâm nghiên cứu một cách thích
đáng, nên việc sử dụng chưa đạt hiệu quả cao. Một vài năm gần đây, tuy đã có một
số nghiên cứu vận dụng dạy học dự á
n vào dạy học một số kiến thức vật lí nhưng
tập trung chủ yếu vào dạy học với đối tượng học sinh phổ thông.
Với những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài:
Tổ chức dạy học dự án một số kiến thức thuộc phần “Từ trường và Cảm
ứng điện từ” - học phần Điện và Từ đại cương cho sinh viên ngành kỹ thuật
trường Đại học Gi
ao thông.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu việc tổ chức dạy học dự án một số nội dung kiến thức thuộc
phần “Từ trường và Cảm ứng điện từ”- học phần Điện và Từ đại cương nhằm phát
huy tính tích cực, chủ động của người học, hướng tới phát triển kỹ năng tư duy bậc
cao, rèn luyện cho sinh viên khả năng giải quyết các vấn đề thực tiễn.
3. Đối tượng và phạm vi nghiê
n cứu
Hoạt động dạy học của giảng viên và sinh viên trường Đại học GTVT trong tiến
trình dạy học một số kiến thức phần “Từ trường và Cảm ứng điện từ”- học phần
Điện và Từ đại cương theo mô hình dạy học dự án.
ông bố, giới thiệu được.
- Nội dung dự án có sự kết hợp tri thức của nhiều lĩnh vực hoặc các môn học
khác nhau.
- Các dự án học tập thường được thực hiện theo nhóm.
Trong những năm gần đây, chương trình dạy học cho tương lai do Intel tổ
chức cũng đã nhấn mạnh vai trò của dạy học dự án, đã thu hút được đông đảo các
quốc gia trên thế giới tham gia, trong đó có Việt nam, bước đầu đã thu đư
ợc thành
công. Ở Việt nam đã có nhiều đề tài nghiên cứu lý luận và tổ chức dạy học dự án,
có thể kể một số công trình như:
“Dạy học theo dự án-một phương pháp có chức năng kép trong đào tạo giáo
viên” của hai tác giả Nguyễn Văn Cường và Nguyễn Thị Diệu Thảo (tạp chí GD;
2004/ số 80.15-17), tác giả tiếp cận dạy học dự án từ góc
độ lý luận.
“Dạy học dự án và tiến trình thực hiện” của tác giả Đỗ Hương Trà (tạp chí
GD; 2007/ số 157.12-14, 23).Tác giả đã đưa ra tiến trình thực hiện dạy học dự án,
thông qua đó để vận dụng vào tổ chức dạy học dự án một cách hiệu quả.
“Đặc điểm cấu trúc của dạy học dự án và kết quả việc vận dụng vào dạy học
môn kỹ thuật số” của tác giả Lê Văn Hồng ( tạp chí GD; 2006/ số 133.31-32,17),
tác giả đã nghiên cứu lý luận của dạy học dự án và vận dụng vào dạy môn kỹ thuật
số bước đầu đã thu được thành công.
“Project-Based Learning (PBL) và việc ứng dụng vào dạy học môn Vật lý ở
trường phổ thông Việt Nam trong tương lai” của tác giả Hồ Thanh Liêm, luận văn
tốt nghiệp đại học thá
ng 6/2005 Đại học Sư phạm Thành Phố Hồ Chí Minh, trong
đó đã tổ chức soạn thảo dạy học dự án chương “Dòng điện trong các môi trường”
thuộc chương trình Vật lý lớp 11 nhưng chưa tiến hành thực nghiệm sư phạm.
hình dạy học dự án và tổ chức thực hiện dạy học dự án cho đối tượng sinh viên, thu
hút được sự tham gia tích cực, khơi dậy lòng say mê, hứng thú của người học. Ngày
26/03/2005, Sở GD-ĐT TPHCM đã tổ chức hội thảo về m
ô hình dạy học dự án tại
trường THPT Nguyễn Thị Minh Khai - nơi mô hình dạy học này được triển khai
mạnh mẽ nhất.
Bên cạnh đó còn có nhiều công trình nghiên cứu của nhiều tác giả khác và
một số học viên cao học đã vận dụng quan điểm của dạy học dự án vào tổ chức dạy
học ở một số trường tại Thành Phố Hồ Chí Minh và Hà Nội…bước đầu đã thu
được
nhiều thành công trong việc đổi mới phương pháp dạy học, phát huy tính tích cực,
tự chủ của người học, lôi cuốn người học vào thực hiện dự án học tập một cách tự
giác.
5. Giả thuyết khoa học
Dựa trên cơ sở lí luận của dạy học dự án cũng như dựa trên việc phân tích
các nội dung kiến thức cần dạy thì có thể tổ chức dạy học dự án
một số kiến thức
phần Từ trường và Cảm ứng điện từ- học phần Điện và Từ đại cương cho sinh viên
ngành kỹ thuật nhằm phát huy tính tính cực, tự chủ và kích thích hứng thú cho
người học.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu bản chất của hoạt động dạy học nói chung, bản chất của hoạt
động dạy học Vật lý nói riêng.
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của dạy học dự án, quá trình thiết kế dự án, quá
trình hướng dẫn người học lập dự án vào việc tổ chức hoạt động dạy học nhằm phát
triển các hoạt động nhận thức tích cực, tự chủ của sinh viên.
- Điều tra ban đầu để phân tích những thuận lợi, khó khăn của giảng viên và
sinh viê
n trường Đại học GTVT khi dạy học các kiến thức phần Từ trường và Cảm
7.3. Nghiên cứu thực nghiệm
Tiến hành thực nghiệm sư phạm trên đối tượng là sinh viên trường Đại học
GTVT. Sau đó dùng thống kê toán học để trình bày kết quả thực nghiệm sư phạm
và kiểm định giả thuyết thống kê.Từ đó khẳng định hiệu quả của tiến trình dạy học
đã soạn thảo đối với việc phát huy tính tích cực, tự lực của người học. 8. Những đóng góp mới của luận văn
- Cụ thể hoá cơ sở thực tiễn của việc vận dụng dạy học dự án trong tổ chức
dạy học các nội dung kiến thức Vật lý.
- Soạn thảo được tiến trình dạy học dự án một số kiến thức trong phần “Từ
trường và Cảm ứng điện từ”- học phần Điện và Từ đại cương.
- Cung cấp số liệu và
thông tin khoa học làm phong phú thêm tài liệu tham
khảo phục vụ giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học.
- Góp phần đổi mới phương pháp dạy học môn Vật lý ở đại học theo tinh thần
của dạy học hiện đại.
đó hình thành ở cá nhân những tri thức khoa học, năng lực mới phù hợp với đòi hỏi
của thực tiễn; và trong tâm lý học sư phạm, hoạt động học là khái niệm chính được
dùng để chỉ hoạt động học diễn theo phương thức đặc thù, nhằm chiếm lĩnh tri thức,
kĩ năng, kĩ xảo.
1.1.
1.2. Bản chất của hoạt động học
Hoạt động học tập là hoạt động chuyên hướng vào sự tái tạo lại tri thức ở
người học. Sự tái tạo ở đây hiểu theo nghĩa là phát hiện lại. Sự thuận lợi cho người
học ở đây đó là con đường để phát hiện lại đã được các nhà khoa học tìm hiểu
trước, giờ người học chỉ việc tái tạo lại. Và để tái tạo lại, người học không có cách
gì khác đó l
à phải huy động nội lực của bản thân (động cơ, ý chí, …), càng phát huy
nội lực của bản thân cao bao nhiêu thì việc tái tạo lại kiến thức càng diễn ra tốt bấy
nhiêu. Do đó hoạt động học làm thay đổi chính người học. Ai học thì người đó phát
triển, không ai học thay thế được, người học cần phải có trách nhiệm với chính bản
th
ân mình, vì mình trong quá trình học. Hoạt động học có thể cũng có thể làm thay
đổi khách thể nhưng như thế không phải là mục đích tự thân của hoạt động học mà
chính là phương tiện để đạt được mục đích làm thay đổi chính chủ thể của hoạt
động.
Hoạt động học là hoạt động tiếp thu những tri thức lý luận, khoa học. Nghĩa
là việc học không chỉ dừng lại ở việc nắm bắt những khái niệm đời thường mà học
phải tiến đến những tri thức khoa
học, những tri thức có tính chọn lựa cao, đã được
khái quát hoá, hệ thống hoá.
Hoạt động học tập không chỉ hướng vào việc tiếp thu những tri thức, kĩ năng, kĩ
xảo mà còn hướng vào việc tiếp thu cả những tri thức của chính bản thân hoạt động
tâm lý chủ thể mà hình thành chính trong quá trình chủ thể tham gia hoạt động học
tập.
Phương tiện chủ yếu của hoạt động học tập đó là các hành động học tập:
so
sánh, phân loại, phân tích, khái quát hoá. Tâm lý học đã khẳng định so sánh, phân
loại là những hành động học tập, là phương tiện đắc lực cho việc hình thành những
khái niệm kinh nghiệm, còn phân tích, khái quát hoá là phương tiện để hình thành
nên những khái niệm khoa học.
Cần nhấn mạnh rằng trong hoạt động học, phương tiện chủ yếu là tư duy.
Trong giáo dục, tất cả các hình thức tư duy đều quan trọng và cần thiết.
1.1.1.5. Điều kiện học tập
Hoạt động học muốn đư
ợc diễn ra phải có điều kiện của nó. Điều kiện đầu
tiên đó là có sự tham gia của các yếu tố bên ngoài (ngoại lực) như: có sự hướng dẫn
của thầy, sách, vở, bút, máy tính, giáo trình… Điều kiện thứ hai đó là có sự vận
động của chính bản thân người học hay còn gọi là yếu tố nội lực. Đó là những tri
thức mà người học học được, trình độ trí tuệ hiện có của người học, động cơ, ý chí,
hứng thú của người học…
Khi c
ó đầy đủ những điều kiện đó, người học dù trong hoàn cảnh có thầy với
trò, hay không có sự có mặt của thầy thậm chí khi ra trường, hoạt động học vẫn diễn
ra. Từ đó có thể hiểu học là quá trình tương tác các yếu tố ngoại lực và yếu tố nội
lực thông qua hoạt động dạy và
học. Trong đó, yếu tố nội lực ở đây đóng vai trò
quan trọng trong hoạt động học của người học.
1.1.1.6. Sự hình thành hoạt động học tập
i) Động cơ học tập
Các yếu tố của hoạt động học được hình thành trong chính hoạt động học.
Nói đến hì
nh thành hoạt động học, trước hết phải nói đến sự hình thành động cơ học
là động cơ chính của hoạt động học tập. Nhưng trên thực tế còn có động cơ quan hệ
xã hội. Nó “bám vào”, “hiện thân” trên động cơ hoà
n thiện tri thức, trở thành một
bộ phận của động cơ hoàn thiện tri thức. Khi động cơ hoàn thiện tri thức được đáp
ứng thì đồng nghĩa với nó là động cơ quan hệ xã hội cũng được thoả mãn. Cả hai
loại động cơ này đều xuất hiện trong quá trình học tập và trong từng hoàn cảnh cụ
thể, tuỳ theo điều kiện nào đó mà động cơ này hay động cơ kia
chiếm vị trí quan
trọng hơn, nổỉ lên và chiêm ưu thế trong thứ bậc động cơ. Sự phân chia động cơ
như vậy chỉ có tính chất tương đối.
ii) Mục đích học tập.
Theo tâm lý học hoạt động, mục đích được hiểu là cái mà hành động đang
diễn ra hướng tới. Hoạt động học được thúc đẩy bởi động cơ và nó được tiến hành
dưới các hành động học. Vì vậy, mục đích của hoạt động học là các khái niệm, các
giá trị, các chuẩn mực...mà hành động học đang diễn ra
hướng đến nhằm đạt được
nó.
Quá trình hình thành mục đích bắt đầu từ việc hình thành trong chủ thể dưới
các dạng là các biểu tượng, sau đó được tổ chức để hiện thực hoá biểu tượng trên
thực tế, và khi thực tế có hoàn thành được thì mục đích được hoàn thành. Mục đích
của hoạt động học cũng được hình thành như vậy, chỉ có điều nó có tính đặc thù
riêng đó là việc hình thành mục đích học tập hướng đến là để thay đổi chính chủ thể
ở đây là người học. Mục đích này chỉ có thể đư
ợc bắt đầu hình thành khi chủ thể bắt
đầu bắt tay vào thực hiện hành động học tập của mình. Trên con đường chiếm lĩnh
đối tượng nó luôn diễn ra quá trình chuyển hoá giữa mục đích và phương tiện học
tập. Mục đích bộ phận được thực hiện đầy đủ th
thẳng, mạnh mẽ về trí tuệ.
- Hoạt động học tập của sinh viên m
ang tính độc lập cao. Cốt lõi của hoạt
động học tập của sinh viên là sự tự ý thức về động cơ mục đích, biện pháp học tập.
1.1.1.8. Tính tích cực trong hoạt động học của sinh viên
Việc tạo ra tính tích cực học tập của sinh viên là nhiệm vụ chủ yếu của người
thầy giáo trong nhà trường đại học. Một trong những yếu tố quan trọng c
ó ảnh
hưởng mạnh tới tính tích cực hoạt động tập của sinh viên là do sự vận dụng một
cách thích hợp phương pháp giảng dạy của thầy.
Theo Thái Duy Tiên thì "Tính tích cực học tập của sinh viên là tập hợp các hoạt
động nhằm làm chuyển biến vị trí của người sinh viên từ đối tượng tiếp nhận tri
thức sang chủ thể tìm kiếm tri thức, để nâng cao hiệu quả học tập"[
24]. Tính tích
cực học tập của sinh viên được thể hiện qua một số đặc điểm cơ bản sau:
- Trong giờ học sinh viên có chú ý tới bài giảng hay không.
- Mức độ tự giác tham gia vào xây dựng bài học, trao đổi thảo luận, ghi chép.
- Thực hiện tốt các nhiệm vụ học tập được giao.
- Hiểu bài và có thể trình bày lại theo cách hiểu của mình.
- Có hứng thú học tập.
- Biết vận dụng những tri thức đư
ợc học vào thực tiễn.
- Có sáng tạo trong quá trình học tập.
1.1.2. Bản chất của hoạt động dạy
Trong phạm vi nhà trường, hoạt động dạy là hoạt động của người thầy - định
hướng, tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức, học tập của người học, giúp người
học tìm tòi, khám phá tri thức tạo ra sự phát triển tâm lý, hình thành nhân cách ở
huống
Định hướn
g
Liên hệ ngược
Tổ
chức
Thích
ứng
Liên
hệ
ngược
NGƯỜI DẠY NGƯỜI HỌC
TƯ LIỆU HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
(MÔI TRƯỜNG)
Hình 1.1. Sơ đồ mô tả sự tương tác trong hệ dạy-học
Trong sự vận hành của hệ tương tác dạy học, hành động của người thầy với
tư liệu hoạt động dạy học là khâu tổ chức, cung cấp tư liệu, tạo tình huống có vấn
đề cho hoạt động của người học. Hành động dạy của người thầy có tác dụng trực
tiếp tới người học, đó là sự định hướng đối với hành động của người học, sự tương
tác, trao đổi, tranh luận giữa người học với nha
u và qua đó cung cấp những thông
tin liên hệ ngược từ phía người học cho giáo viên. Còn hành động học của người
học đối với tư liệu hoạt động dạy học là sự thích ứng của người học với tình huống
học tập thích đáng nhằm chiếm lĩnh tri thức. Sự tương tác của người học với tư liệu
còn đem lại cho giáo viên những thông tin liên hệ ngược cần t
hiết cho sự chỉ đạo
tp vn dng nhng tri thc khoa hc, phng phỏp lun khoa hc, phng phỏp
nghiờn cu. Thụng qua ú, sinh viờn t rốn luyn cỏc phm cht, tỏc phong ca nh
nghiờn cu nhm g
ii quyt mt cỏch khoa hc nhng vn do thc tin xó hi,
thc tin cuc sng v ngh nghip t ra. Trong hot ng hc i hc, mt
trong nhng phng phỏp dy hc cú th phỏt huy s tớch cc, t lc sinh viờn ú
l dy hc d ỏn.
1.2. Bn cht ca hot ng dy hc Vt lý
1.2.
1. Con ng nhn thc Vt lý
Vt lý l mụn khoa hc thc nghim, con ng nhn thc Vt lý l: T trc
quan sinh ng n t duy tru tng, ri t t duy tru tng tr v thc tin.
iu ny ó c cỏc nh Vt lý ni ting th hin qua chu trỡnh nhn thc (chu
trỡnh ca V.G.Razumopxki nh Vt lý ngi Nga hỡnh 1.2, chu trỡnh ca Anbert
Einstein hỡnh 1.3):
A Cú th din t cỏc chu trỡnh ú nh sau :
Mụ hỡnh gi
nh tru tng
điện từ, quang...Đặc biệt, giúp cho sinh viên có các kiến thức nền tảng vững chắc
để vào học các môn chuyên ngành, ứng dụng các kiến thức Vật lý vào trong công
việc, ngà
nh nghề tương lai của mình.
Hoạt động nhận thức Vật lý của sinh viên ở trường đại học có những điểm rất khác
biệt với nhận thức của nhà khoa học và với học sinh phổ thông.
- So với nhà khoa học
+ Nhà khoa học phải tìm ra kiến thức mới mà trước đây loài người chưa biết
tới ; còn sinh viên thì học những kiến thức khoa học mà loài người đã khám phá, đã
chọn lọc c
ho phù hợp với từng đối tượng và sinh viên tìm cách vận dụng những
kiến thức đó vào trong thực tế cuộc sống, phục vụ ngành nghề trong tương lai, qua
đó rèn luyện tư duy sáng tạo, học cách suy nghĩ và làm việc của các nhà khoa học,
tạo nền tảng kiến thức vững chắc cho các môn khoa học chuyên ngành…
+ Về thời gian, nhà khoa học có nhiều thời gian, thậm chí cả đời mình để
khám phá một định luật, xây dựng một giả th
uyết nào đó; còn sinh viên thì thời gian
rất ngắn, chỉ trong vài tiết học trên lớp và thời gian tự học ở nhà nhưng còn phải
dành thời gian cho các môn học khác…
Với sự khác nhau đó, ta không hy vọng làm cho sinh viên nhờ áp dụng
phương pháp khoa học mà có được những sáng tạo lớn như nhà khoa học, mà chỉ
mong muốn các em làm quen với cách suy nghĩ, cách tư duy khoa học, tạo ra những
yếu tố ban đầu của hoạt động sáng tạo và nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên, nếu một
số sinh viên có lòng ham mê khoa học, muốn tìm tòi khám phá thì có thể gia nhập
vào một nhóm nghiên cứu nào đó, dưới sự hướng dẫn của nhà khoa học có uy tín
(có thể là giảng viên trong nhà trường, những người làm công tác nghiên cứu trong
các viện, các trung tâm,…)
giao:
Lựa chọn một logíc nội dung bài học thích hợp.
Rèn luyện cho sinh viên kỹ năng thực hiện một số thao tác cơ bản gồm thao
tác tay chân và thao tác tư duy.
Cho sinh viên làm quen với các phương pháp nhận thức Vật lý được sử dụng
phổ biến.
Để đảm bảo những điều kiện này thì phương phá
p dạy học là một trong những
nhân tố đóng vai trò quyết định. Trong những năm gần đây, ngành giáo dục đã
chú trọng nhiều tới phương pháp dạy học ‘lấy người học làm trung tâm’, phương
pháp dạy học tích cực, như: dạy học dự án, dạy học theo chủ đề, dạy học kiến
tạo...
1.3. Dạy học dự án
1.3.1. Bản chất dạy học dự án
DHDA (
hay còn gọi là phương pháp dự án, học theo dự án) là hình thức dạy
học trong đó người học thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp
giữa lí thuyết với thực tiễn, thực hành. Nhiệm vụ này được người học thực hiện với
tính tự lực cao trong toàn bộ quá trình học tập, từ việc xác định mục đích, lập kế
hoạch
, đến việc thực hiện dự án, kiểm tra, điều chỉnh, đánh giá quá trình và kết quả
thực hiện.
Học theo dự án là một hoạt động tìm hiểu sâu về một chủ đề cụ thể với mục
tiêu tạo cơ hội để người học thực hiện nghiên cứu vấn đề thông qua việc kết nối
các thông tin, phối hợp nhiều kỹ năng, giá trị và t
hái độ nhằm xây dựng kiến thức
và phát triển khả năng và thái độ học tập suốt đời.
Dạy học dự án được xây dựng dựa trên những câu hỏi định hướng quan
trọng, lồng ghép các chuẩn nội dung và tư duy bậc cao trong những bối cảnh thực
tế.
với các chuẩn và tập trung vào những hiểu biết của người học sau quá trình học. Từ
việc định hướng vào mục tiêu, giáo viên sẽ chọn lựa hình thức dạy học phù hợp, lập
kế hoạch đánh giá và tổ chức các hoạt động dạy và học. Kết quả của dự án đư
ợc thể
hiện kết tinh trong sản phẩm của người học và quá trình thực hiện nhiệm vụ, ví dụ
phần thuyết trình đầy thuyết phục hay ấn phẩm thông tin thể hiện sự lĩnh hội các
chuẩn nội dung và mục tiêu dạy học.
- Dự án được định hướng theo Bộ câu hỏi khung chương trình
Câu hỏi khung chương trình sẽ giúp các dự án tập t
rung vào những hoạt
động dạy học trọng tâm. Người học được giới thiệu về dự án thông qua các câu hỏi