Đặc trưng thơ viết cho
thiếu nhi sau 1986
Dù chưa nhiều như trong văn xuôi, nhưng tính giả tưởng cũng mang lại những dư
vị riêng của các sáng tác thơ cho thiếu nhi thời kì này. Đây là một đặc trưng tuy không xa
lạ nhưng luôn mang lại những cảm nhận mới mẻ. Nhà thơ Trương Hữu Lợi từng trả lời
câu hỏi về quan niệm sáng tác văn thơ cho các em: “Phải bay bổng, không nệ thực, có tính
ước lệ cao, dí dỏm và có trí tuệ”. Tính giả tưởng không ít lần được các nhà phê bình đặt ra
như là một tiêu chí đánh giá thơ thiếu nhi đương đại. Tại diễn đàn “Sáng tác văn học thiếu
nhi”, ý tưởng này một lần nữa được khẳng định: “Văn học giả tưởng nuôi dưỡng trí tưởng
tượng phong phú của các em, mở ra một chân trời mới hấp dẫn, rất cần được chú ý”. Mặc
dù vậy, tính kì ảo trong thơ thời kì này không phải là yếu tố chủ đạo. Thơ nghiêng về xu
hướng mô tả những biến điệu tinh tế trong đời thường, những góc đời, những mảnh hiện
thực cuộc sống lấm láp và bụi bặm Thảng hoặc người đọc mới bắt gặp những vần điệu
mang bóng dáng truyện cổ tích ngày xửa ngày xưa:
Mèo con sắm tết chợ xa
Đêm nằm thấp thỏm, canh ba dậy rồi
Mèo đi, sương lộp độp rơi
Nghêu ngao hát gọi mặt trời thức mau
Mèo mua tặng mẹ vải màu
Mèo mua một rổ trầu cau tặng bà
(Niềm vui của mèo con - Lê Mạnh Tiến)
Hơi thở cuộc sống đương đại cũng đã làm biến đổi hình tượng, ngôn ngữ thơ thiếu
nhi hôm nay. Trong Làng em có điện, Lê Bính mang đến một lớp từ ngữ lấp láy, rúng
động như cái nhịp đập rộn rã của cuộc sống mới, của làng quê thay da đổi thịt khi có ánh
sáng điện tràn về. Chú cún con thì “loăng quăng”, đuôi “ngoe nguẩy” múa, đàn gà mới nở
trông như nắm bông “xinh xinh” cứ “lích tích”, “động đà động đậy”, quạt rủ nhau “xoay
tít”, còn chú chích chòe thì dậy sớm, ngẩng cổ lên trời, “dập dình” cái đuôi Có thể nói,
hình cho sự đổi mới này của thơ:
Lần theo em bé bán vé số
Tôi đi tìm số may đời em
Hẻm chéo chồng nhau, số đè lên số
Cái vỏ hộp cuối cùng sao gọi đấy nhà em?
Tôi nát lòng, nước mắt trào rơi
Em nụ búp sao đời nhiều giông bão
Lớp học ban đêm, tôi là thầy giáo
Chia chữ cho người không chia được áo cơm
Chất tự sự thể hiện rõ trong cách kể, giọng điệu kể. Nó cho phép nhà văn có thể
“thơ hóa” những gì gần gụi, quen thuộc với trẻ em để đưa họ vào cuộc hành trình khám
phá thú vị những bài học cuộc đời bình dị khuất sau con chữ. Chỉ với một buổi chiều
“cháu dắt tay ông dạo chơi” cũng làm nên một bài học nhẹ nhàng về “luật giao thông”
trong thơ Nguyễn Phan Khuê, nét phác thảo về thằng nhóc lang thang không cửa nhà cũng
mang đến một không khí “tiểu thuyết” trong trang viết của Cao Xuân Sơn, hay với Hổ con
trong vườn thú, Nguyễn Văn Chương đã tô đậm tâm trạng của nhân vật trữ tình “hổ con”
trong cái nhìn về tự do và nỗi nhớ ngàn già
4. Kết cấu đối thoại và con đường khám phá thế giới trẻ thơ
Là những tác phẩm thuộc thể loại trữ tình, thơ cho các em ít có sự chuyển biến
mạnh mẽ về mặt kết cấu như truyện. Mặc dù vậy, quan sát những sáng tác thơ cho thiếu
nhi những năm qua, có thể thấy hai đặc điểm nổi bật về kĩ thuật tổ chức tác phẩm như là
sự tiếp nối và bổ sung thành tựu thơ giai đoạn trước: Sự trùng điệp và tính chất đối thoại
trong kết cấu của văn bản thơ.
Kết cấu trùng điệp được sử dụng khá nhiều như chính một đặc điểm tâm lí của trẻ:
thích nghe mãi một câu chuyện mà không biết chán, đố nhau một câu dù ai cũng biết tỏng
đáp án là gì Sự lặp lại, điệp trùng trong việc tổ chức từ và cụm từ giúp trẻ khắc sâu
những ấn tượng thẩm mĩ về nhân vật trữ tình, về lời thơ, ý thơ Trong thơ thiếu nhi hôm
nay, ta bắt gặp rất nhiều những phương thức vận hành ngôn từ như thế (Cùng đi, Cầu
vồng - Phạm Thanh Quang, Cuộc hành quân của thời gian – Phi Tuyết Ba, Chim gõ
kiến – Nguyễn Như Mai,…).
trả lời để từ đó mở ra cho con trẻ những chân trời mới lạ. Thi sĩ dành một quãng thơ của
mình để ngân nga khúc nhạc yêu thương, và trong đó, người đọc bắt gặp những cuộc trò
chuyện tâm tình giữa người hỏi - người đang “sở hữu” một tuổi thơ thánh thiện và người
trả lời - người đang nhìn ngày hôm qua bằng đôi mắt rất đỗi nhớ thương và đang dang
rộng vòng tay ấp ủ những bé thơ. Bỏ qua cách cắt nghĩa mang những “triết lí hồn nhiên
của sự sống, thứ triết lí mà ở mỗi lứa tuổi có thể hấp thụ một cách riêng”, những câu hỏi
và trả lời bình dị như được lẩy ra từ những cung bậc dịu dàng trong cuộc đời này là lấp
lánh sắc màu của sự đồng điệu hai thế giới: thế giới trẻ thơ - thế giới của những con người
đã bước qua thời vụng dại.
*
Nếu trong văn học 30 năm chiến tranh, thơ thiếu nhi đã lên đến đỉnh gắn liền với
tên tuổi của thần đồng thơ Trần Đăng Khoa, những năm gần đây, do nhiều lí do, cả chủ
quan lẫn khách quan, mảng sáng tác này chững lại, nhường chỗ cho sự lên ngôi của các
thể loại văn xuôi.
Trong nhiều sản phẩm văn học cho trẻ em hôm nay, thơ xem ra có lẽ là bộ phận bị
tác động theo chiều hướng tiêu cực của cơ chế thị trường nhiều hơn cả. Đây là hệ quả,
mặt trái của thời kinh tế thị trường: Thơ in cho các em không bán được, các nhà thơ viết
cho các em không còn khí thế như giai đoạn trước, ít làm thơ hơn. Thế hệ trẻ bây giờ
quá bận học, lại bị cuốn hút vào nhiều hoạt động khác trong một xã hội đang phát triển
mạnh mẽ, với nhịp sống ồn ã và gấp gáp. Nhưng không phải vì thế mà thiếu vắng những
tác giả, tập thơ tạo được ấn tượng. Từ những năm 90 trở lại đây, vẫn có những tác giả,
tập thơ tạo được phong cách riêng trong sân chơi kém phần sôi động này như Cưỡi ngựa
đi săn của Dương Thuấn (Giải thưởng Văn học thiếu nhi 1990), May áo cho mèo của
Phùng Ngọc Hùng (1991), Bờ ve ran của Mai Văn Hai (Giải thưởng Văn học thiếu nhi
1992),Dắt mùa thu vào phố của Nguyễn Hoàng Sơn (Giải thưởng Văn học thiếu nhi
1993), Cái sân chơi biết đi của Hoàng Tá (Giải thưởng văn học thiếu nhi 1994), Trứng
treo trứng nằm của Lê Hồng Thiện (1994), Tắc kè hoa (1996) và Đất đi chơi biển(2007)
của Phạm Đình Ân, Tí tách mưa rơi (2009) của Nguyễn Ngọc Quế, Bữa tiệc của loài
vật (2009) của Trần Quốc Toàn, v.v…
Thơ cho thiếu nhi hôm nay đã có những chuyển biến đáng kể, cả ở phương diện