Sức hấp dẫn của văn học
viết cho thiếu nhi qua “hiện
tượng nhóc Nicolas” Nhóc Nicolas (tiếng Pháp: Le Petit Nicolas) là một loạt truyện thiếu nhi do René
Goscinny sáng tác và Jean - Jacques Sempé minh họa từ năm 1959 với nội dung là
những truyện kể của cậu bé Nicolas về cuộc sống thường ngày, về bạn bè và gia đình.
Các câu chuyện dí dỏm, hài hước nhưng cũng đậm chất nhân văn của Nhóc Nicolas đã
giúp bộ truyện trở thành một trong những tác phẩm văn học thiếu nhi của Pháp được biết
đến rộng rãi nhất trên thế giới.
Những câu chuyện về Nhóc Nicolas đã được phát hành gồm có các tập truyện
sau: Nhóc Nicolas (1960, 19 truyện);Những giờ nghỉ của Nhóc Nicolas (1961, 17
truyện); Những kì nghỉ của Nhóc Nicolas (1962, 18 truyện); Nhóc Nicolas và các
bạn (1963, 16 truyện); Những buồn phiền của Joachim (1964, 16 truyện) được đổi tên
thành Những buồn phiền của Nhóc Nicolas từ lần xuất bản năm 1993; Nhóc Niclas:
Những chuyện chưa kể (gồm 2 tập: Tập 1 xuất bản năm 2004 với 80 truyện; Tập 2 xuất
bản năm 2006 với 45 truyện).
Năm 2008 Nhóc Nicolas mới đến Việt Nam qua hai tập truyện Nhóc Nicolas:
Những chuyện chưa kể do Nhà xuất bản Hội Nhà văn và Công ty Văn hoá Truyền thông
Nhã Nam liên kết xuất bản và phát hành. Đến nay trọn bộ Nhóc Nicolas đã được Nhã
Nam xuất bản, đưa đến cho bạn đọc Việt Nam chân dung đầy đủ về Nhóc Nicolas, một
hiện tượng của văn học thiếu nhi thế giới.
Nhóc Nicolas đã thực sự chinh phục mọi lứa tuổi độc giả Việt Nam. Vượt qua
những khác biệt về hoàn cảnh sống, về thời đại, về xã hội… cả trẻ con và người lớn đều
tìm thấy mình trong những câu chuyện đó, đúng như lời nhận xét của Anne Goscinny –
con gái tác giả đồng thời là người xuất bản cuốn sách: “Sức mạnh của cuốn sách này là
có thể cuốn hút cả trẻ con cũng như người lớn. Trẻ con thì thấy giống quá, người lớn thì
trong truyện - thế giới của Nhóc Nicolas – ngay tại nhà mình. Sức hấp dẫn của tác phẩm
không nằm ở những cuộc phiêu lưu, những chân trời kì lạ, những lâu đài huyền bí với
phép thuật phù thuỷ, mà nằm chính ở cuộc sống đời thường của một chú nhóc, nơi trẻ
con được là chính nó.
Nhóc Nicolas – nơi trẻ con được là chính nó
Trước hết đó là một thế giới mà trẻ con được sống đúng với bản chất, tính cách trẻ
con, được nói lên tình cảm, suy nghĩ thật của mình. Ở Việt Nam trước năm 1975 có rất
nhiều tác phẩm viết cho thiếu nhi (Đội du kích thiếu niên Đình Bảng, Đội thiếu niên tình
báo Bát Sát, Em bé đuốc sống, Kim Đồng, Mẹ vắng nhà, Đất rừng phương Nam…)
nhưng nội dung thường nặng về giáo huấn, ý đồ nêu gương khiến nhân vật trẻ em luôn
được lí tưởng hoá, đánh mất tính hồn nhiên, tâm lí tính cách dễ bị cường điệu. Những
tác phẩm như thế thực ra chỉ hấp dẫn một bộ phận trẻ em ưu tú mà khó được số còn lại
mặn mà. Sau này, một số tác phẩm của Vũ Thư Hiên, Duy Khán, Nguyễn Quang
Sáng… viết về kí ức tuổi thơ, nhân vật chính là trẻ con nhưng lại hướng tới bạn đọc
người lớn (rõ nhất là Côi cút giữa cảnh đời và Chó bi đời lưu lạc của Ma Văn Kháng).
Lớp người viết sau như Nguyễn Nhật Ánh, Nguyễn Ngọc Thuần đã chinh phục các em
bằng cách đưa vào nhiều sinh hoạt đời thường, những mơ mộng kiểu trẻ con. Thế nhưng
từng đó chưa đủ để các em cảm thấy mình được là chủ thể trong thế giới của mình, chưa
nói những mơ mộng lãng mạn ấy đang ngày càng xa lạ với trẻ em hiện nay, đặc biệt là
các em ở thành phố.
Đặt trong sự đối sánh như vậy ta hiểu vì sao độc giả nhỏ tuổi lại yêu thích cậu
nhóc Nicolas và đám bạn của cậu đến thế. Yêu cậu nhóc Nicolas cũng là yêu những
người bạn nhỏ xung quanh mình và yêu chính mình. Chưa ở đâu trẻ con hiện diện với tất
cả cung bậc tình cảm, cảm xúc của chính nó như trong câu chuyện này: Nicolas bực bội
vì làn da đỏ au có được sau chuyến đi biển lại không hề được bạn bè để mắt đến, nỗi sợ
khi bị điểm thấp bét lớp môn số học nhưng lại tự an ủi cũng phải có đứa đứng bét thay
cho thằng bạn tốt bụng chuyên đội sổ Clotaire nghỉ ốm. Nicolas ao ước có tivi, thèm
bánh nhân táo, hơi một tí thì khóc ầm lên nghĩ là mọi người chẳng ai yêu thương mình
nhưng lại cảm nhận được tình yêu của bố mẹ liền sau đó. Chỉ vì thèm món bánh nhân
táo, Nicolas phải tỏ ra ngoan: chơi bi thắng thằng bạn thân nhưng vẫn móc trả vì sợ nó
em – một quan điểm không hề vụ lợi (như người lớn), mà trái lại, hồn nhiên, vô tư, trong
sáng. Qua cái nhìn ấy, người lớn không phải lúc nào cũng là “người lớn”, nghĩa là nhiều
lúc họ hành xử chẳng khác trẻ con là bao. Mẹ luôn miệng gào lên bức bối với chuyện
suốt ngày phải lo cơm nước, hơi tí thì dỗi đòi về nhà mẹ đẻ… Bố thỉnh thoảng lại cáu vì
công việc quá bận rộn, về nhà lại phải giúp Nicolas làm môn số học và tập làm văn, mà
cũng tại bố tính kém nên thỉnh thoảng bài số học của Nicolas bị điểm “không”… Thầy
giáo giám sát giờ ra chơi, sau một hồi ngắm nghía lũ trẻ nghịch cũng nhảy vào bày trò
đến nỗi bị thôi việc. Ông thanh tra làm dây mực ra tay, lại dùng khăn lau tay lau lên mặt.
Bác hàng xóm Blédurt luôn tìm cách cãi cọ với bố, từ cuộc chơi bóng chày cho đến vụ
ầm ĩ với cây kèn trompét. Cô giáo được bọn trẻ vô cùng yêu quý đành bất lực khi buổi
xem xiếc bị gác giữa chừng vì lũ học trò không chịu ngồi im. Còn vụ dự giờ của các ông
bố bà mẹ thành một cuộc tính nhẩm bài toán trên bảng, mà rất tiếc không có ai tìm ra
đáp số đúng… Điểm nhìn ấy nói lên rằng trẻ con có quyền có một cái nhìn riêng về cuộc
sống, chúng được bình đẳng như người lớn và được quyền sai lầm. Qua đôi mắt trẻ con,
người lớn cũng đầy rẫy những sự vô lí, hàm hồ, ngẫu hứng, làm việc không tính đến hậu
quả, họ như là những đứa trẻ phóng to lên. Thậm chí đôi khi trẻ em có cơ hội được “độ
lượng” với người lớn, với cả bố mẹ, ông bà - “Các ông bố bà mẹ ý à, thật chả thể hiểu
nổi họ ra làm sao!”. Cũng như Đoremon, tác phẩm này rất giàu tính dân chủ, thấm đẫm
cái nhìn hài hước mà khoan hoà về con người.