Văn xuôi viết cho thiếu nhi của Đoàn Lư - Pdf 23


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM


PHẠM THỊ QUYÊN

VĂN XUÔI VIẾT CHO THIẾU NHI
CỦA ĐOÀN LƢ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Thái Nguyên - Năm 2014 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi. Các số liệu, kết
quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kì
công trình nào khác.
này đã đƣợc chỉnh sửa theo ý kiến đóng
góp của hội đồng chấm luận văn ngày 07 tháng 06 năm 2014.
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2014
Tác giả luận văn
PHẠM THỊ QUYÊN
Xác nhận
của Khoa chuyên môn

2.1. Kho kiến thức hấp dẫn từ những trang văn 44
44
2.1.2. Những kiến thức đời sống phong phú, thú vị và thiết thực 52
i

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

2.2. Những bài học nhận thức - giáo dục phù hợp với lứa tuổi thiếu nhi 58
2.2.1. Những “cuốn sách nhỏ” nuôi dưỡng “tâm hồn lớn” 59
2.2.2. Những bài học giáo dục kĩ năng sống 65
* Tiểu kết chƣơng 2 72
Chƣơng 3: MỘT SỐ PHƢƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT TIÊU BIỂU 73
3.1. Sự hóa thân linh hoạt của ngƣời trần thuật 73
3.1.1. Hóa thân vào những con vật thông minh 73
3.1.2. Hóa thân vào các em thiếu nhi 75
3.2. Ngôn ngữ mang đậm sắc thái của thiếu nhi vùng cao 77
3.2.1. Ngôn ngữ giàu chất trữ tình 77
3.2.2. Ngôn ngữ phù hợp với lứa tuổi thiếu nhi 80
3.2.3. Ngôn ngữ mang sắc thái Tày 82
3.3. Giọng điệu chủ đạo: hài hƣớc và dí dỏm hồn nhiên 88
* Tiểu kết chƣơng 3: 92
KẾT LUẬN 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
PHỤ LỤC 1 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/


Đoàn, Vi Hồng, Y Phƣơng, Cao Duy Sơn, Hoàng Triều Ân
sáng tác dành cho ngƣời lớn thì Đoàn Lƣ lại chọn cho mình một lối đi riêng.
Ông dành phần lớn thời gian, tâm sức viết cho thiếu nhi. Đến nay, Đoàn Lƣ đã
có những thành công đáng ghi nhận ở mảng văn học này. Ông là tác giả quen
thuộc và có uy tín với nhà xuất bản Kim Đồng. Sáng tác của ông đã đến với
thiếu nhi dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa. Từ năm học 2011-2012, truyện
ngắn Cô bé nhặt hoa rụng đƣợc chọn giảng dạy cho học sinh lớp 7, trong
chƣơng trình ngữ văn địa phƣơng tỉnh Cao Bằng.
Sáng tác của Đoàn Lƣ đã vƣợt ra biên giới của những bản làng xa xôi, nhỏ bé
để đến với bạn đọc thiếu nhi cả nƣớc. Nhà xuất bản Trẻ thành phố Hồ Chí Minh
đã mua bản quyền và chọn in tác phẩm Kỉ niệm về một dòng sông trong “Tuyển
truyện hay dành cho thiếu nhi” (tháng 4/2013). Cuốn tiểu thuyết khoa học viễn
tƣởng Lêna-Kítti cô bé siêu nhân đƣợc Đài truyền hình Trung Ƣơng chọn giới
thiệu trong chƣơng trình“Mỗi ngày một cuốn sách”, kênh VTV1 (ngày
13/01/2010). Sách truyện thiếu nhi của Đoàn Lƣ đƣợc in và tái bản bởi nhiều nhà
xuất bản có uy tín, đƣợc chọn vào“Tủ sách thiếu nhi” hay “Tủ sách vàng” và có
mặt trong nhiều tuyển tập. Trong “Thư viện sách nói dành cho người khiếm thị” -
thƣ viện sách nói online lớn nhất Việt Nam, Đoàn Lƣ cũng đƣợc chọn 3 tác phẩm
(Tướng cướp hoàn lương; Chân trời rộng mở ; Những mạch nước). Nhà văn đã
vinh dự nhận đƣợc nhiều giải thƣởng về sáng tác văn học dành cho thiếu nhi.
3. Tác giả luận văn hiện là giáo viên THPT tại Cao Bằng. Quá trình công tác
đã giúp tác giả nhận thức sâu sắc vai trò của văn học đối với công tác giáo dục
thiếu niên tại địa bàn miền núi. Sự quan tâm đến văn học thiếu nhi (Năm 2007, tác
giả đã thực hiện đề tài: “Tuổi thiếu niên trong Ti-Mua và đồng đội của A. Gaiđa”-
Khóa luận tốt nghiệp tại trƣờng ĐHSP I Hà Nội) cùng với niềm tự hào về truyền
thống văn học của quê hƣơng Cao Bằng và nhu cầu bồi dƣỡng, nâng cao kiến thức
phục vụ công tác giáo dục thiếu nhi cũng là những lý do khiến tác giả luận văn lựa
chọn đề tài Văn xuôi viết cho thiếu nhi của Đoàn Lư.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

nhận định: “Nhiều truyện ngắn của Đoàn Lư (…) là lời cảnh báo con người
trước những hành động tàn ác, gây sự với thiên nhiên” [46, tr.63].
Nhƣ vậy, trong các công trình nghiên cứu về văn học thiểu số, Đoàn Lƣ
đƣợc giới thiệu với tƣ cách là một nhà văn dân tộc Tày, sáng tác đặt trong sự
phát triển chung của văn học thiểu số chứ chƣa đƣợc khẳng định là nhà văn viết
cho thiếu nhi một cách chuyên nghiệp. Còn trong các công trình nghiên cứu về
văn học thiếu nhi, ông đƣợc coi là một nhà văn miền núi có tác phẩm sáng tác
cho thiếu nhi song chƣa đƣợc chú ý tới một cách hệ thống.
2. Nhóm bài giới thiệu, nghiên cứu tác phẩm của Đoàn Lư:
Năm 1997, trong lời giới thiệu cuốn Kỉ niệm về một dòng sông của Đoàn
Lƣ (giải ba cuộc thi “Vì tương lai đất nước” lần II)- nhà văn Nguyễn Quang
Sáng đã nhận định: “Các tác phẩm đạt giải đều mang màu sắc riêng của mỗi
địa phương mỗi truyện đều có một ý nghĩa riêng, có một cách viết hóm hỉnh
và duyên dáng riêng, mỗi tác phẩm đều có sức hấp dẫn riêng” [21, tr.6].
Năm 1998, trong lời nói đầu cuốn Ngựa hoang lột xác (Tủ sách thiếu nhi,
NXB Văn hóa dân tộc), Ban Biên tập đã nhận xét: “Một cây bút khá quen thuộc
với lứa tuổi thiếu nhi, nhất là ở vùng miền núi dân tộc phía Bắc, đó là Đoàn Lư -
một bác sĩ nhi khoa. Với tấm lòng nhân hậu của người thầy thuốc và sự nhạy cảm
của người cầm bút, những trang viết của anh thấm đẫm tình yêu, sự đồng cảm với
bao số phận của trẻ em miền núi. Đọc văn anh, ta cảm nhận được sự nồng ấm
tình người, ngọt ngào trong trẻo như nắng ấm ban mai” [22, tr.5].
Năm 1998, trong Tuyển tập văn học dân tộc và miền núi, tập 7, NXB
Giáo dục (tái bản năm 2007, tập 2), tác giả Trần Hòa Bình đã viết lời bình về
Con Mốc của bác Luồng - một truyện ngắn của ông. Tác giả nhận
định:“những trang viết của Đoàn Lư quây quần ấm áp một tình người nhưng
vẫn lôi cuốn bởi những chi tiết giản dị mà thú vị”. Tác giả chỉ ra “chất miền
núi” trên trang viết của Đoàn Lƣ và thấy “một niềm day dứt chân thành” trong
mạch cảm hứng nhân đạo của nhà văn. Về cách viết, Trần Hòa Bình khẳng

bạo” [5, tr.27]; đến cách viết: “không đi sâu vào việc mô tả tỉ mỉ các vấn đề

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

khoa học cơ bản, mà chỉ gợi lên những vấn đề lớn cần giải quyết” [5, tr.28].
Kết hợp với việc phân tích cặn kẽ “lộ trình khoa học” cùng những điều kì thú
mà cô bé siêu nhân cùng các bạn đồng hành đã trải qua, tác giả bài viết cũng
khẳng định “sự công phu tích lũy kiến thức” của Đoàn Lƣ trong tác phẩm này
Những ý kiến của Triệu Lam Châu gợi ý cho chúng tôi đi sâu tìm hiểu truyện
khoa học viễn tƣởng của Đoàn Lƣ trong quá trình nghiên cứu.
Qua những tài liệu thu thập đƣợc, chúng tôi nhận thấy sáng tác của Đoàn Lƣ
đƣợc chú ý từ những tác phẩm đầu tay. Tác phẩm viết cho thiếu nhi của nhà văn
đã nhận đƣợc sự quan tâm của một số nhà nghiên cứu. Tuy nhiên, số lƣợng các
bài viết chƣa nhiều, kết quả nghiên cứu còn hạn hẹp: có công trình điểm tên
Đoàn Lƣ và một số tác phẩm tiêu biểu của ông trong nền văn học dân tộc thiểu
số Việt Nam; có bài viết mang tính chất giới thiệu hoặc thẩm bình một số tác
phẩm tiêu biểu; chƣa có công trình nghiên cứu chuyên sâu về văn xuôi viết cho
thiếu nhi của Đoàn Lƣ, mặc dù đây là mảng sáng tác có nhiều thành công và
đóng góp của tác giả. Từ thực tế trên, chúng tôi mạnh dạn tập trung nghiên cứu
toàn bộ mảng văn xuôi viết cho thiếu nhi của Đoàn Lƣ.

3.1. Đối tượng nghiên cứu:
Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là các tác phẩm văn xuôi viết cho thiếu
nhi của Đoàn Lƣ.
3.2. Phạm vi nghiên cứu:
Chúng tôi xác định phạm vi nghiên cứu là các tác phẩm viết cho thiếu nhi
của Đoàn Lƣ từ năm 1995 đến 2013, cụ thể:
- Miếng hiểm cuối cùng, (tập truyện), NXB Kim Đồng (1995);
- Tướng cướp hoàn lương, (tập truyện), NXB Kim Đồng (1997);
- Kỉ niệm về một dòng sông, (truyện kí), NXB Trẻ (1997);

nghệ thuật;
- Đánh giá về ý nghĩa, tác dụng của những tác phẩm văn xuôi viết cho
thiếu nhi của Đoàn Lƣ; đánh giá những đóng góp của nhà văn đối với văn học
thiếu nhi và văn học dân tộc thiểu số Việt Nam.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ Để đạt đƣợc mục đích nghiên cứu và thực hiện đƣợc nhiệm vụ nghiên cứu
đã xác định, chúng tôi lựa chọn các phƣơng pháp nghiên cứu cơ bản sau:
- Phƣơng pháp nghiên cứu tác giả, tác phẩm văn học: nhằm xác định ảnh
hƣởng của thiên hƣớng bản thân, gia đình, truyền thống và văn hóa quê hƣơng
tới sự nghiệp sáng tác của nhà văn.
- Phƣơng pháp thống kê phân loại: sử dụng để khảo sát toàn bộ sáng tác
văn xuôi cho thiếu nhi; nhận diện các phƣơng diện có tính ổn định, thống nhất
trong các tác phẩm; từ đó hình thành hệ thống luận điểm làm sáng tỏ đặc sắc
văn xuôi thiếu nhi của Đoàn Lƣ.
- Phƣơng pháp so sánh văn học: sử dụng nhằm so sánh các sáng tác cho
thiếu nhi của Đoàn Lƣ với các nhà văn viết cho thiếu nhi và nhà văn dân tộc
thiểu số khác để có đƣợc những đánh giá chính xác và thấu đáo.
- Phƣơng pháp phân tích: đây là phƣơng pháp cơ bản đƣợc sử dụng trong
suốt quá trình nghiên cứu; ở từng luận điểm khoa học và nội dung chi tiết của
mỗi vấn đề; khi xem xét từng tác phẩm, từng dẫn chứng cũng nhƣ đánh giá
khái quát kết quả nghiên cứu đã thu nhận đƣợc.

- Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu toàn bộ sáng tác văn xuôi viết
cho thiếu nhi của Đoàn Lƣ; đƣa ra những nhận xét khách quan, khoa học về
mảng sáng tác này của tác giả. Từ kết quả đạt đƣợc, luận văn khẳng định những
đóng góp có ý nghĩa của ngòi bút Đoàn Lƣ đối với văn học thiếu nhi cũng nhƣ
văn chƣơng dân tộ

1.1.1. Người con của mảnh đất đầu nguồn cách mạng, giàu truyền thống văn
hoá, văn học
Nhà văn Đoàn Lƣ dân tộc Tày, sinh 1959 tại Bản Lằng, xã Đề Thám, huyện
Hòa An, tỉnh Cao Bằng - một tỉnh miền núi có truyền thống cách mạng và văn
chƣơng thật đáng tự hào. Huyện Hòa An quê hƣơng ông là một vùng đất thiêng
nơi địa đầu Tổ quốc. Lịch sử đã chạm khắc vào đây những trang vàng. Theo
truyền thuyết dân tộc Tày, từ thế kỉ thứ III trƣớc Công nguyên, Hòa An là trung
tâm văn hóa chính trị ngay từ thời lập quốc. Đến thế kỉ XI, vùng đất này tiếp tục
trở thành trung tâm quốc gia tự trị Trƣờng Sinh của cha con thủ lĩnh Nùng Tồn
Phúc, Nùng Trí Cao. Cuối thế kỉ XVI, vùng đất thêm một lần rộng tay chào đón
nhà Mạc khi dòng họ này thất thế dạt lên Cao Bằng - một vƣơng triều mới đƣợc
thiết lập với lịch sử gần một trăm năm. Nhà nghiên cứu, phê bình văn học Lâm
Tiến trong cuốn Về một mảng văn học dân tộc (NXB Văn hóa dân tộc, 1999) đã
nhấn mạnh vai trò quan trọng của vùng đất Hòa An trong mối quan hệ với tộc
ngƣời Tày: “Người Tày có một trung tâm văn hóa, theo lịch sử tộc người thì
vùng Hòa An, Cao Bằng đã từng là thủ phủ của người Tày qua nhiều triều đại.
(…) Đây có thể coi như một cái mốc giao lưu văn hóa Kinh - Tày quan trọng
nhất để văn hóa Tày phát triển sang một giai đoạn mới ” [52, tr.8].
Vùng đất Hòa An có những ngƣời con ƣu tú. Họ là những quan văn, tƣớng
võ có tài làm giàu thêm truyền thống quê hƣơng. Nhân kiệt về hàng “võ” từ thuở
xa xƣa là các tƣớng trấn thủ biên thùy nhƣ Nùng Tồn Phúc, Nùng Trí Cao (biệt
hiệu Khâu Sầm Đại Vƣơng), là những anh hùng võ hiệp giết giặc, trừ gian bảo vệ
bản làng. Sau này là những anh hùng cách mạng đã có công lớn trong công cuộc

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

dựng nƣớc và giữ nƣớc của dân tộc. Về chính trị, phải kể đến Hoàng Đình
Giong, bí danh Võ Đức, nguyên chỉ huy bộ đội Nam tiến, nguyên tƣ lệnh Quân
khu 7. Ông là ngƣời chiến sĩ cộng sản đầu tiên của Cao Bằng - Ủy viên ban
thƣờng vụ Trung Ƣơng Đảng khóa I, là nhà chính trị quân sự ngoại giao xuất sắc

số Việt Nam, Hội viên Hội văn học nghệ thuật Cao bằng; nhà thơ, dịch giả
Triệu Lam Châu - Hội viên Hội nhà văn Việt Nam…
Từ lịch sử phong phú của mình, Hòa An nói riêng và quê hƣơng Cao Bằng
nói chung đã trở thành vùng đất sản sinh nhiều nhân tài góp công vào sự nghiệp
dựng nƣớc và giữ nƣớc của dân tộc; đồng thời là vùng đất có truyền thống văn
hoá, văn học. Trong số những cây bút văn học của Hoà An góp phần tô đậm
truyền thống quê hƣơng có nhà văn Đoàn Lƣ.
1.1.2. Một trí thức vùng cao tiêu biểu, một nghệ sĩ đa tài
Sinh ra trong một gia đình có cha là cán bộ lão thành cách mạng, lại sẵn có
tƣ chất thông minh nên đƣờng học vấn của Đoàn Lƣ rộng mở. Học hết cấp hai
tại quê nhà, năm 1974 ông đƣợc chọn đi học trƣờng vùng cao Việt Bắc. Đối với
nhiều bạn bè cùng trang lứa nơi vùng quê núi bấy giờ, việc một cậu học sinh từ
tỉnh nghèo miền núi tìm đƣờng đến với “mẹ chữ” nhƣ vậy giống cánh chim nhỏ
đƣợc bay ra trời rộng. Hoàn cảnh và môi trƣờng học tập mới đã giúp cho Đoàn
Lƣ sớm có đƣợc bản lĩnh và tính cách tự lập. Tiếp đó, từ 1979 – 1984, ông học
Đại học Y Bắc Thái, Đại học Y Hà Nội và trở thành bác sĩ chuyên khoa nhi.
Thời gian sau đó, Đoàn Lƣ đã từng “thử sức” ở nhiều lĩnh vực và đảm nhiệm
nhiều trọng trách khác nhau trong các ban ngành của tỉnh Cao Bằng. Ông làm
trong ngành y 13 năm và là Trƣởng khoa Nhi bệnh viện Đa khoa tỉnh Cao
Bằng, Trƣởng Bộ môn Nhi - Lây trƣờng Trung cấp Y tế Cao Bằng; 5 năm là
Trƣởng phòng Khoa giáo - Ban tuyên giáo tỉnh; Chủ tịch Hội Văn học Nghệ
thuật tỉnh Cao Bằng (từ 2003 đến 2013). Ngoài ra, từ năm 1998 đến nay, ông là
thành viên của Hội đồng khoa học tỉnh, trƣởng ban Khoa học xã hội và nhân
văn. Hiện nay, ông giữ cƣơng vị Chủ tịch Hội Nhà báo Cao Bằng. Những trọng
trách trên cho thấy, Đoàn Lƣ là một nhà quản lí có uy tín, một trí thức tiêu biểu
trong hoạt động khoa học, nghệ thuật và công tác xã hội.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Xét riêng trong lĩnh vực văn học nghệ thuật, Đoàn Lƣ là nghệ sĩ đa tài. Bút

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

thâm nhập vào mảng văn học này với những tác phẩm viết về tình yêu, tình đời,
ca ngợi cái đẹp của chân - thiện - mĩ trong cuộc mƣu sinh nhọc nhằn, tất bật.
Ngòi bút của Đoàn Lƣ còn đi sâu vào những “mảng tối” của đời sống hiện thực
hay những vấn đề nóng trên diễn đàn kinh tế chính trị. Ông phê phán, đấu tranh
vạch trần những tệ nạn xã hội, những tiêu cực, tha hóa, giả dối nhƣ cơn sóng
ngầm, lốc dữ đã và đang diễn ra nơi vùng biên cƣơng. Từ tập truyện ngắn
Trăng rừng (NXB Văn hóa dân tộc, 1996); đến nay Đoàn Lƣ đã xuất bản 8 tập
truyện ngắn và 1 tập tản văn.
Văn xuôi viết cho thiếu nhi là mảng sáng tác mà nhà văn say mê, bền bỉ
cống hiến và đạt đƣợc thành công hơn cả. Nhiều cuốn sách viết cho thiếu nhi
của ông đƣợc xuất bản với số lƣợng lớn. Có thể kể đến các tập truyện: Miếng
hiểm cuối cùng (1995) với 32.000 cuốn; Tướng cướp hoàn lương (1997) -
24.200 cuốn; Quái cẩu Pi-tơ-chun (1999) - 12.500 cuốn; Bên dòng Quây Sơn
(2000) - 12.490 cuốn và gần đây nhất là Li kì Xuyên Sơn (2013) với 35.192
cuốn trong lần in đầu tiên. Từ tập truyện đầu tay xuất bản 1995 cho đến nay,
các sáng tác của Đoàn Lƣ đã trở thành món quà tinh thần quý giá theo bƣớc
chân của các em thiếu nhi dân tộc cả nƣớc trên hành trình gian nan đi tìm tri
thức. Cũng nhƣ vậy, biết bao nhiêu bài học, bao nhiêu câu chuyện, bao nhiêu
kiến thức thú vị của nhà văn quê núi đã đến đƣợc với trẻ em nhiều vùng quê
lam lũ, khó nghèo.
Với một bút lực dồi dào và sự “tham lam” sáng tạo của “ba nhà” trong một:
Nhà quản lí - nhà nghệ sĩ - nhà khoa học; với vốn kiến thức sâu rộng có đƣợc do
tích lũy qua nhiều ngành nghề và sự tự học không ngừng, Đoàn Lƣ và ngòi bút
nghệ thuật của ông đã thể hiện khát vọng: giữ gìn phát huy và quảng bá văn hóa
truyền thống; níu giữ và tôn vinh cái đẹp, cái thiện; khám phá những chân trời
mới.v.v…Đó là khát vọng chân chính của một trí thức vùng cao tiêu biểu, của
ngƣời nghệ sĩ đa tài hết lòng vì quê hƣơng, đất nƣớc, vì hạnh phúc trẻ thơ.



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Ở núi cao còn nhiều thiếu thốn
Đói tâm hồn chẳng khác đói cơm.
Thơ, truyện tôi chưa ngọt, chưa thơm
Nhưng cũng đỡ cho người đói khát
Truyện thơ tôi giờ chưa dào dạt
Cũng lẫn trong một khoảng xanh trời” [32, tr.25].
Bài thơ có thể coi là lời tâm nguyện chứa đựng câu trả lời cho việc chuyển
hƣớng từ nghề thầy thuốc sang làm văn chƣơng của Đoàn Lƣ. Ẩn sau những câu
thơ khiêm nhƣờng ấy, ta có thể thấy tấm lòng nhân hậu của ngƣời thầy thuốc yêu
bệnh nhi giờ nguyện dành trọn tâm sức sáng tạo những “món ăn tinh thần” cho
các độc giả nhỏ tuổi. Từ một bác sĩ Nhi Khoa, Đoàn Lƣ trở thành nhà văn thân
thuộc của thiếu nhi. Mang “chữ tâm” vào hành trình sáng tác, Đoàn Lƣ đã dùng
tình yêu thƣơng của mình mở cửa thế giới tâm hồn trẻ thơ. Trong cuốn Nhà văn
dân tộc thiểu số, đời và văn, ông tự bạch: “Tôi là bác sĩ chuyên khoa nhi. Việc
sáng tác thơ, viết văn của tôi cũng giống như chuyên ngành đã chọn, rất đơn
giản, bình dị là làm điều gì đó tốt đẹp cho trẻ em mà thôi. Do vậy, cho dù có
sáng tác cho cả những đối tượng khác, nhưng mục tiêu sáng tác cho trẻ em luôn
là ưu tiên hàng đầu. Những tác phẩm đã có tuy còn điểm này điểm nọ nhưng tất
cả đã vì trẻ thơ. Tôi mong muốn làm được những gì nhiều hơn thế nữa cho con
trẻ vì “trẻ em hôm nay là thế giới ngày mai” [50, tr.275]. Bằng những sáng tác
của mình, ông đã hành động thiết thực để những ƣớc nguyện của trẻ thơ đƣợc
đền đáp, để “gieo hoài bão và nuôi hi vọng” cho các em.
Những giải thƣởng văn học mà Đoàn Lƣ đã nhận đƣợc:
- –
năm 1994 – 1995 do NXB .
- -
– – .


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

nguồn cảm hứng về thiên nhiên, nhƣng bức tranh phong cảnh miền núi trong
văn xuôi viết cho thiếu nhi của Đoàn Lƣ vẫn có nét riêng. Trong những trang
viết của ông, thiên nhiên luôn gắn bó, hòa hợp với nhau: cây cối, núi rừng, hoa
lá, nắng gió, tiếng suối reo, tiếng chim hót v.v…tạo nên trạng thái trong trẻo,
tƣơi sáng. Nhà văn ngắm nhìn thiên nhiên bằng đôi mắt “xanh non” và truyền
tới tâm hồn trẻ thơ niềm cảm hứng say mê đó. Tác giả muốn “đánh thức” cảm
nhận của các em bằng nhiều giác quan để thƣởng thức thế giới thiên nhiên tƣơi
đẹp:“Rừng Khuổi Hống hôm nay vạn mùi hương đang lan tỏa, bầy ong vẫn cần
mẫn bên những nhị hoa, tiếng suối vẫn chảy róc rách. Tiếng chim vang động cả
một vùng, tiếng quạ kêu buồn bã, tiếng gà gáy lay lắt. Nắng vàng ươm trải
khắp rừng núi bao la. Màu xanh vẫn tưng bừng tràn đầy sức sống” (Cái giá
phải trả) [19, tr.69].
Ngòi bút của nhà văn giúp các em cảm nhận vẻ đẹp của non nƣớc Cao
Bằng tuyệt vời nhƣ chốn bồng lai tiên cảnh: “Núi non ở đây hùng vĩ cao chót
vót tận chín tầng mây, những vách đá dựng đứng như những tấm bình phong
che chở cho bản nhỏ giữ được bầu không khí thanh bình. Dòng suối trong veo
chảy ra từ nguồn nước ở chân ngọn Phja Đán như dải lụa trải dọc theo thung
lũng. Dù có những trận mưa rừng kéo dài nửa tháng thì dòng suối nhỏ vẫn
trong xanh, bốn mùa réo rắt hát ca” (Bản Ngườm Kim) [19, tr.70].
Cái nhìn thơ mộng giúp tác giả nhận ra những cảnh vật thân thuộc lại chứa
đựng biết bao điều kỳ thú. Dòng sông, ngọn núi, ánh nắng, đám mây hay cánh
chim v.v. mỗi hình ảnh thiên nhiên đều góp phần tô đẹp bức tranh quê hƣơng:
“Ánh ban mai tiết giữa thu lan tỏa nhẹ nhàng đến từng góc rừng, ngọn suối.
Cái ấm áp ở ngay cạnh cái se lạnh làm cho muôn loài đều thấy dễ chịu. Đỉnh
núi Giang Mú cao hàng nghìn mét như muốn cố níu lấy đám mây xốp đang
lặng lẽ đi qua gần. Chim sẻ từng bầy cắm đầu bay đến những đám ruộng đã
trĩu hạt kiếm bữa ăn buổi sáng, để lại trong làn không khí những tiếng ríu ran

miền giá lạnh” (Bên dòng Quây Sơn) [24, tr.117].v.v. Đến với vẻ đẹp này,
ngƣời đọc cảm thấy cuộc sống thi vị, lãng mạn hơn.
Đặc trƣng của thiên nhiên vùng cao còn là sông, suối - những con sông
chảy qua địa phận miền núi vừa mạnh mẽ, dữ dội lại vừa rất đỗi trữ tình, nên

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

thơ. Đoàn Lƣ dành nhiều cảm xúc cho những trang viết về dòng sông thơ mộng
của quê hƣơng: sông Bằng, sông Hiến, sông Quây Sơn v.v…Đó không phải là
những dòng sông “đỏ nặng phù sa” nhƣ sông Hồng, sông Đuống nhƣng lại là
con sông mang phong vị vùng cao. Vẻ đẹp của sông Bằng đã đi vào thơ Y
Phƣơng: “Bao nhiêu trời ghé xuống/ Bao nhiêu rừng lội qua/ Bao nhiêu đá
chắt ra/ Mới biếc xanh Bằng Giang” [13, tr.27]. Trong Kỉ niệm về một dòng
sông, Đoàn Lƣ cũng dành cảm xúc trữ tình khi miêu tả màu nƣớc đặc
trƣng:“trong xanh ngăn ngắt, nhìn thấu đáy”, “một màu xanh ngắt thật nên
thơ”; “nước xanh biêng biếc, ven bờ là những rặng tre rụng lá làm vàng rực cả
đôi bờ”. Màu nƣớc xanh trong ấy còn thấy ở Quây Sơn (Bên dòng Quây Sơn)
cùng với dáng hình mềm mại của dòng nƣớc: “Vào mùa xuân nắng ấm chan
hòa, sương bay là là mặt nước trong xanh ngăn ngắt, dòng sông uốn lượn theo
những ngọn núi muôn vẻ muôn hình” [24, tr.8]; khung cảnh hai bên bờ sông
vào mùa xuân đẹp rực rỡ: “Mùa xuân, bướm trắng, bướm vàng, bướm hoa kéo
về thành bầy đàn… Chúng tụ tập nhau lại đùa giỡn như rừng hoa với đủ muôn
màu sắc. Bướm hòa nhập vào sương sớm bảng lảng ven sông” [24, tr.9]. Quây
Sơn “sở hữu” một giống cá đặc sản nức tiếng của Cao Bằng, “ai đã được
thưởng thức một lần thì cả đời sẽ nhớ”, đó là cá Trầm hƣơng (Pja Gò Lài). Con
sông vùng cao không chỉ hiện lên với dáng vẻ riêng. Nó còn mang đến cho con
ngƣời và cuộc sống nơi đây nhiều lợi ích. Với dòng Quây Sơn thì: “Dân ven bờ
Quây Sơn ai cũng lớn lên nhờ dòng nước trong lành đó, ai cũng đều từng tắm
táp, nhờ dòng nước mơn man khắp cơ thể” [24, tr.9]. “Bản Mjài quanh năm
không thiếu cá ăn. Mấy năm nay dân công đến chuyển hàng đông đúc, dân tản


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status