Xây dựng chiến lược phát triển mới trong thời đại toàn cầu hóa của Công ty cổ phần Sữa Việt Nam (Vinamilk). - Pdf 19

Mục Lục
CHƯƠNG IV: Xây dựng, đánh giá, lựa chọn các phương án chiến lược 56
Lời kết: 88
Lời nói đầu
1
Lý do chọn đề tài:
Ngày nay không ai có thể phủ nhận vị trí quan trọng của ngành sữa trong nền
kinh tế, vì sản phẩm từ sữa là nguồn cung cấp nhiều giá trị dinh dưỡng cho xã hội,
nâng cao sức khỏe và trí tuệ cho con người.
Ở các nước phát triển có đời sống cao như Mỹ, các nước châu âu, châu úc,
công nghiệp chế biến sữa phát triển rất mạnh và phong phú. Mức tiêu thụ sữa và
các sản phẩm từ sữa ở các nước này tính trên bình quân đầu người rất cao từ 350-
450 lít sữa/ người/năm. Đối với các nước này , sản xuất đang hướng vào xuất khẩu,
do thị trường trong nước đã bão hòa.
Đối với các nước đang phát triển kinh tế, ngành sữa cũng đang tăng cao và
dần dần chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế. Theo Tổ chức Nông Lương
Liên hiệp quốc thì tăng trưởng ngành sữa ở các nước đang phát triển là trên 4% và
xu hướng này càng tăng nhanh so với các nước phát triển.
Công ty sữa Việt Nam ( Vinamilk) là một doanh nghiệp nhà nước, trực
thuộc Bộ Công Nghiệp, được thành lập từ năm 1976. Công ty đã hoạt động trong
cả hai cơ chế điều hành của nền kinh tế: nền kinh tế chỉ huy, kế hoạch hóa , bao
cấp và nền kinh tế thị trường dưới sự điều tiết của chính phủ. Khi chuyển sang nền
kinh tế thị trường với quy luật cạnh tranh nghiệt ngã, công ty vẫn tiếp tục phát triển
với một số thành tích nhất định. Chẳng hạn sản phẩm ngày càng phong phú , đa
dạng về chủng loại, chất lượng, bao bì ngày càng được cải tiến, uy tín của sản
phẩm càng được biết đến trong đại đa số người tiêu dùng Việt Nam.
Trong hơn 30 năm qua, công ty đã chọn cho mình con đường phát triển đúng
hướng, các sản phẩm của công ty không những có thể cạnh tranh được với các sản
phẩm cùng loại trong nước , mà một số mặt hàng còn cạnh tranh được với nước
ngoài trên thị trường xuất khẩu.
2

lít vào năm 2010. Đây là những con số khá khiêm tốn so với mức tiêu thụ sữa của
người Nhật 44 lít/năm,Singapore 33 lít/năm và Thái Lan 15 lít/năm. Vì vậy ngành
công nghiệp chế biến sữa được dự đoán sẽ phát triển mạnh trong tương lai. Đặc
biệt, các phân ngành có mức tăng trưởng vượt trội là sữa tươi (20%), sữa chua
(15%), sữa bột (10%) và kem (10%). Ngoài ra, chính phủ còn có kế hoạch đầu tư
vào các trang trại nuôi bò sữa và công nghệ chế biến sữa để tăng sản lượng sữa
tươi trong nước và giảm lệ thuộc vào sữa bột nhập khẩu.
1.1.Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của VINAMILK.
1.1.1.lịch sử hình thành:
Công ty sữa Việt Nam Vinamilk là doanh nghiệp nhà nước trực thuộc
Bộ Công Nghiệp, được thành lập ngày 20/8/1976, trên cơ sở tiếp quản 6
nhà máy thuộc ngành nghề chế biến thực phẩm sau ngày miền nam
hoàn toàn giải phóng:
• Nhà máy sữa Thống Nhất
• Nhà máy sữa Trường Thọ
• Nhà máy sữa Dielac
• Nhà máy Café Biên Hòa
4
• Nhà máy Bột Bích Chi
• Nhà máy bánh kẹo Lubico
1978 : Công ty được chuyển cho Bộ Công Nghiệp thực phẩm quản lý
và Công ty được đổi tên thành Xí Nghiệp Liên hợp Sữa Café và Bánh Kẹo I.
1988 : Lần đầu tiên giới thiệu sản phẩm sữa bột và bột dinh dưỡng trẻ
em tại Việt Nam.
1991 : Lần đầu tiên giới thiệu sản phẩm sữa UHT và sữa chua ăn tại
thị trường Việt Nam.
1992 : Xí Nghiệp Liên hợp Sữa Café và Bánh Kẹo I được chính thức
đổi tên thành Công ty Sữa Việt Nam và thuộc sự quản lý trực tiếp của Bộ
Công Nhiệp Nhẹ. Công ty bắt đầu tập trung vào sản xuất và gia công các sản
phẩm sữa.

* Mở Phòng Khám An Khang tại Thành phố Hồ Chí Minh vào tháng
6 năm 2006. Đây là phòng khám đầu tiên tại Việt Nam quản trị bằng hệ
thống thông tin điện tử. Phòng khám cung cấp các dịch vụ như tư vấn dinh
dưỡng, khám phụ khoa, tư vấn nhi khoa và khám sức khỏe.
* Khởi động chương trình trang trại bò sữa bắt đầu từ việc mua thâu
tóm trang trại Bò sữa Tuyên Quang vào tháng 11 năm 2006, một trang trại
nhỏ với đàn bò sữa khoảng 1.400 con. Trang trại này cũng được đi vào hoạt
động ngay sau khi được mua thâu tóm.
6
2007 : Mua cổ phần chi phối 55% của Công ty sữa Lam Sơn vào
tháng 9 năm 2007, có trụ sở tại Khu công nghiệp Lễ Môn, Tỉnh Thanh Hóa.
1.1.2. Tầm nhìn, sứ mệnh và giá trị cốt lõi:
TẦM NHÌN
“Trở thành biểu tượng niềm tin số một Việt Nam về sản phẩm dinh dưỡng
và sức khỏe phục vụ cuộc sống con người “
SỨ MỆNH
“Vinamilk cam kết mang đến cho cộng đồng nguồn dinh dưỡng tốt nhất,
chất lượng nhất bằng chính sự trân trọng, tình yêu và trách nhiệm cao của mình
với cuộc sống con người và xã hội”
GIÁ TRỊ CỐT LÕI
Chính trực
Liêm chính, Trung thực trong ứng xử và trong tất cả các giao dịch.
Tôn trọng
Tôn trọng bản thân, tôn trọng đồng nghiệp. Tôn trọng Công ty, tôn trọng đối
tác. Hợp tác trong sự tôn trọng.
Công bằng
Công bằng với nhân viên, khách hàng, nhà cung cấp và các bên liên quan
khác.
Tuân thủ
7

WIPO
2006
“Siêu Cúp” Hàng Việt Nam chất lượng cao
và uy tín
Hiệp hội sở hữu trí
tuệ & Doanh
nghiệp vừa và nhỏ
Việt Nam
8
1991-2005
Liên tục nhận cờ luân lưu là "Đơn vị dẫn đầu
phong trào thi đua Ngành Công Nghiệp VN"
Chính Phủ
Các năm từ
1995-2009
Top 10 “Hàng Việt Nam chất lượng cao”
Báo Sài Gòn tiếp
thị
2009
Giải vàng thương hiệu an toàn vệ sinh an
toàn thực phẩm
Cục An toàn thực
phẩm
2009 Thương hiệu ưa thích nhất năm 2008-2009
Báo Sài Gòn giải
phóng cấp giấy
chứng nhận và cúp
2009
“Doanh nghiệp xanh” cho 3 đơn vị của
Vinamilk: Nhà máy sữa Sài gòn; Nhà máy

Thương Hiệu Quốc Gia Bộ Công Thương
SCANha đam và STNC100% được nhiều
NTD yêu thích
Báo Ngon bình
chọn
1 trong 10 TH nổi tiếng nhất Châu Á
Superbrands
nghiên cứu
Thương hiệu nổi tiếng tại Việt Nam
Tạp Chí Thương
Hiệu Việt
Cúp"Tự hào thương hiệu Việt"
Báo Đại Đoàn kết
phối hợp
1 trong 15 DN được chọn Đài THVN
200DN tốt nhất tại Châu Á-TBD
Của tạp chí Forbes
Asia,
Thượng hiệu chứng khoán uy tín 2010
HH kinh doanh
CK
31/1000 DN đóng thuế thu nhập lớn nhất VN V1000
Top 5 DN lớn nhất VN VNR
Top 10 Thương người tiêu dùng thích nhất
VN
AC
10
1.1.4. Cơ cấu tổ chức quản lý:
1.1.4.1. Cơ cấu tổ chức theo hệ thống:
1.1.4.2. Cơ cấu bộ máy quản lý:

có thành phần dinh dưỡng phù hợp với nhu cầu của khách hàng.
Các nhà máy: thực hiện kế hoạch sản xuất đảm bảo về số lượng và
chất lượng.
12
Phòng kiểm soát nội bộ: kiểm soát việc thực hiện quy chế, chính sách,
thủ tục của Công ty đề ra.
Xí nghiệp kho vận: thực hiện giao hàng và thu tiền, quản lý cơ sở vật
chất, nguyên vật liệu.
Các chi nhánh: giám sát việc thực hiện các chính sách, quyết định của
Công ty đề ra, đề xuất cải tiến sản phẩm.
13
1.1.4.3. Các dòng sản phẩm chính của công ty:
Vinamilk không ngừng đưa vào thị trường các sản phẩm mới thông
qua bộ phận nghiên cứu và phát triển đầu ngành của công ty để dần dần phát
triển ở các sản phẩm có tỷ suất lợi nhuận cao và chào bán nhiều loại sản
phẩm đa dạng, đáp ứng được nhu cầu của nhiều thành phần khách hàng khác
nhau trong ngành sữa. Hiện tại, các sản phẩm của Vinamilk bao gồm:
Doanh thu của Vinamilk tính theo dòng sản phẩm (2007)
Dòng sản phẩm
Thị
phần
% doanh thu
(bình quân)
Tỷ lệ tăng trưởng năm
2007
Sữa đặc 79% 34% 38%
Sữa tươi 35% 26% 18%
Sữa bột ngũ cốc ăn
liền
14% 24% -21%*

(cùng với Abbott và Dutch Lady) là một trong ba công ty dẫn đầu thị trường
Việt Nam về doanh số sữa bột, trong đó Vinamilk chiếm 14% thị phần.
Vinamilk chào bán sữa bột và ngũ cốc ăn liền dành cho trẻ nhỏ, phụ nữ
mang thai và người lớn tuổi. Các nhãn hàng nổi tiếng gồm Dielac, Dielac
16
Mamma, Dielac Alpha, Dielac Sure, Ridielac Riadvance… Đối với dòng sản
phẩm này, Vinamilk tập trungvào các thị trường cấp trung và Dutch Lady là
đối thủ cạnh tranh sát cánh với Vinamilk với các sản phẩm Dutch Lady 123
và Dutch Lady 456. Trong khi đó, Abbott lại tập trung chủ yếu vào thị
trường cấp cao. Bất chấp sự canh tranh gay gắt đang diễn ra trong ngành
sữa, doanh thu từ sữa bột của Vinamilk trong năm 2006 vẫn tăng đáng kể so
với năm 2005. Tuy nhiên doanh thu năm 2007 đã giảm 21% do doanh thu từ
xuất khẩu, chủ yếu sang Iraq, giảm mặc dù đã hồi phục vào năm 2008.
Sữa chua (chiếm 10% doanh thu)
Sữa chua uống Vinamilk chiếm 26% thị phần và sữa chua ăn chiếm
96% thị phần. Năm 2007, dòng sản phẩm này đạt mức tăng trưởng 10%
so với năm 2006.
Các sản phẩm khác (chiếm dưới 2% doanh thu)
Nhóm sản phẩm này bao gồm nhiều sản phẩm khác nhau như kem,
phô mai, bánh flan, sữa đậu nành, nước ép trái cây, nước tinh khiết và
trà. Cà phê là sản phẩm mới nhất của Vinamilk, với các nhãn hiệu như
Moment Coffee, True Coffee và Kolac Do cà phê vẫn còn trong giai
đoạn phát triển thí điểm nên chỉ chiếm 1% trong tổng doanh thu của
công ty.
Bia (được tính vào thu nhập tài chính)
Mới đây, Vinamilk đã thành lập liên doanh với SAB Miller (công ty
sản xuất bia lớn thứ nhì thế giới về sản lượng bia) để sản xuất bia Zorok
với tổng vốn đầu tư 27 triệu USD. Vinamilk đã góp khoảng 50% vốn
trong liên doanh này. Hiện nay, bia là một loại thức uống rất phổ biến
tại Việt Nam, được minh chứng qua sản lượng bia sản xuất và tiêu thụ

động đan xen lẫn nhau và ảnh hưởng đến quản trị chiến lược của công ty,và
Vinamilk cũng không phải là ngoại lệ. Vì vậy,nhà quản trị cần phải xem xét tính
chất tác động của từng yếu tố, mối tương tác giữa các yếu tố… để dự báo mức độ,
bản chất và thời điểm ảnh hưởng nhằm xử lý tình huống một cách linh hoạt, đồng
thời có giải phát hữu hiệu để tận dụng tối đa các cơ hội, hạn chế hoặc ngăn chặn
kịp thời các nguy nhằm nâng cao hiệu quả và giảm thiểu tổn thất trong quá trình
quản trị chiến lược.Môi trường vĩ mô bao gồm các yếu tố:
2.1.1 Thị trường thế giới:
Giá các sản phẩm sữa trên thế giới có xu hướng ngày càng tăng nên Việt nam
có lợi thế cạnh tranh khi xuất khẩu sản phẩm, giúp tăng thu ngọai tệ.
Năm 2007 được coi là năm “con lợn vàng” ở Trung Quốc và nhiều nước châu Á
khác, một năm quý giá để sinh em bé. Với số lượng những em bé mới sinh ra đời
vượt trội so với những năm trước, thị trường sữa thế giới bắt đầu giai đoạn nhu cầu
tăng mạnh, trong bối cảnh giá sữa và nhiều nông sản khác vốn đang cao ngất
ngưởng do nguồn cung khan hiếm và chi phí đầu vào tăng mạnh.
21
Trung Quốc chỉ là một ví dụ điển hình. Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao khiến
người dân nhiều nước châu Á, châu Mỹ La tinh và thậm chí là ở Trung Đông thoát
khỏi cảnh nghèo đói, làm gia tăng nhu cầu tiêu thụ những sản phẩm mà trước đây
họ không dám mua, như sữa. Trước nhu cầu ngày càng lớn, mức cung hiện nay
không đáp ứng kịp. Theo tính toán của các chuyên gia, nhu cầu sữa trên toàn cầu
mỗi năm tăng thêm 15 triệu tấn, tức bằng tổng lượng sữa và chế phẩm từ sữa mà
New Zealand sản xuất hằng năm. New Zealand là nước xuất khẩu sản phẩm sữa và
chế phẩm từ sữa lớn nhất thế giới với 12,7 triệu tấn/năm, bằng lượng sữa xuất khẩu
của toàn châu Âu.
Hai nước xuất khẩu sữa hàng đầu thế giới là New Zealand và EU đều khó lòng
có thể tăng sản lượng sữa. Sản lượng của Áchentina năm qua rất kém, New
Zealand thì đang bị hạn hán, còn Liên minh châu Âu (EU) bị kiềm chế bởi hạn
ngạch. Như vậy, gần như tất cả các nước sản xuất sữa lớn đều không thể tăng
nguồn cung.

giới nhưng thu nhập bình quân đầu người vẫn tăng đều đặn. Điều này đã tác
động tích cực đến sức mua trong nước, trong đó có ngành chế biến sữa. Thu
nhập được nâng cao, người dân sẽ quan tâm hơn đến sức khỏe của bản thân
24
và sẵn sàng gia tăng chi tiêu cho các lọai thực phẩm giàu chất dinh dưỡng
như sữa, dẫn đến lượng khách hàng tiêu thụ sữa ngày càng gia tăng.
Lạm phát vẫn chưa bị đẩy lùi và bùng phát trở lại vào năm 2010.
không phải là vấn đề của năm 2009, nhưng năm 2010 là một năm lạm phát
bùng lên trở lại do các nguyên nhân gây ra lạm phát bị tích lũy ngày càng
nhiều trong năm 2009.Cụ thể, như các chính sách hỗ trợ lãi suất làm tăng
trưởng tín dụng, nới lỏng kiểm soát giá một số mặt hàng như điện, nước,
xăng dầu, điều chỉnh tăng lương và có thể là cả những nỗ lực phát hành tiền
mà không được công bố chính thức. Nguy cơ lạm phát càng rõ ràng hơn nếu
tiếp tục thực hiện gói kích thích kinh tế trong điều kiện mà chưa có giải pháp
dài hạn hơn để đảm bảo chắc chắn nguồn vốn đạt được hiệu quả sinh lời cao
và có khả năng tái tạo nguồn thu trong nước.
2.1.2.2 Dân số:
Theo thống kê của Tổng cục Dân số công bố ngày 04/07/2008, dân số
Việt nam đã đạt tới 86,5 triệu người; đồng thời theo các kết quả suy rộng
mẫu chủ yếu của cuộc Tổng điều tra dân số thực hiện ngày 01/04/2009, Việt
nam đang trong thời kỳ “cơ cấu dân số vàng”, thời kỳ mà nhóm dân số trong
độ tuổi lao động cao gần gấp hai lần nhóm dân số trong độ tuổi “phụ thuộc”.
So với kết quả điều tra năm 1999, tỷ trọng dân số dưới 15 tuổi giảm từ 33%
năm 1999 xuống còn 25% năm 2009, trong khi tỷ trọng dân số của nhóm 15-
59 tuổi tăng từ 58% năm 1999 lên 66% và nhóm dân số từ 60 tuổi trở lên
tăng từ 8% năm 1999 lên 9% năm 2009. Ngòai ra, dân số sống ở khu vực
thành thị tăng từ 23,7% năm 1999 lên 29,6% năm 2009 với tỉ lệ tăng bình
quân là 3,4%/năm trong khi ở khu vực nông thôn tỉ lệ này chỉ có 0,4%/năm.
Đây là yếu tố thuận lợi cho việc phát triển ngành sữa ở nước ta, và thực tế
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status