Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ
CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT
NGUYỄN PHƢỢNG MINH
NGHIÊN CỨU BIỂU HIỆN GEN PAGA MÃ HÓA
KHÁNG NGUYÊN BẢO VỆ PA CỦA VI KHUẨN
BACILLUS ANTHRACIS TRONG VI KHUẨN E. COLI BL21 Chuyên ngành: Vi sinh vật học
Mã số: 60 42 01 03 LUẬN VĂN THẠC SỸ SINH HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS NGÔ ĐÌNH BÍNH
bp base pair
CA Casamino Acid
dH
2
O deion water
DNA Deoxyribonucleic Acid
dNTP Deoxyribonucleotide Triphosphate
EDTA Ethylene Diamine Tetraacetic Acid
EF Edema Factor
FAO Food Agricultural Organisation
h giờ
kDa Kilo Dalton
LB Lauria Betani
LF Lethal Factor
MPA Meat Pepton Agar
MPB Meat Pepton Broth
ORF Open Reading Frame
PA Protective Antigen
PCR Polymerase Chains Reaction
SDS Sodium Dodecylsulphate
TAE Tris – Acetate EDTA
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƢƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1. Sơ lƣợc về bệnh than 3
1.1.1. Lịch sử xuất hiện và phát triển của bệnh than 3
1.1.2. Các dạng bệnh than 4
2.3.1. Phƣơng pháp tách chiết DNA plasmid từ vi khuẩn [30]. 35
2.3.2. Phƣơng pháp tinh sạch plasmid [30]. 35
2.3.3. Phƣơng pháp PCR 36
2.3.4. Phƣơng pháp điện di trên gel agarose [30]. 36
2.3.5. Phƣơng pháp cắt bằng enzym giới hạn [30] 37
2.3.7. Phƣơng pháp làm tế bào khả biến E. coli 39
2.3.8. Phƣơng pháp biến nạp vào tế bào khả biến [30] 39
2.3.9. Phƣơng pháp điện di trên gel polyacrylamide 12,6 % [30] 40
2.3.10. Phƣơng pháp biểu hiện gen 41
2.3.11. Khảo sát điều kiện biểu hiện thích hợp cho quá trình biểu hiện 41
2.3.12. Xác định khả năng hoà tan của protein 42
2.3.13. Tinh chế protein dung hợp bằng cột Probond Nikel Resin 42
2.3.14. Phƣơng pháp Western Blot [3, 25] 44
CHƢƠNG 3-KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 46
3.1. Tách chiết DNA tổng số 46
3.2. Khuếch đại đoạn gen pagA bằng phản ứng PCR 46
3.3. Tách dòng gen pagA 47
3.3.1. Biến nạp vector mang gen pagA vào tế bào khả biến E. coli chủng
DH5α 47
3.3.2. Kiểm tra sự tồn tại của gen pagA trong vector tái tổ hợp 47
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
3.3.3. Đọc trình tự nucleotide của gen pagA 51
3.4. Biểu hiện gen pagA mã hóa kháng nguyên bảo vệ PA 54
3.4.1. Thiết kế vector biểu hiện mang gen pagA 54
3.4.2. Gắn đoạn gen pagA vào vector biểu hiện pET-TRX-FUS 54
3.4.3. Tạo chủng E. coli BL21 tái tổ hợp mang gen pagA 55
3.4.3.1. Biến nạp vector tái tổ hợp pET-TRX-FUS-pagA vào chủng trung
gian E. coli DH5α 55
3.4.3.2. Kiểm tra sự tồn tại của pagA trong plasmid tái tổ hợp 55
Hình 3.1. Điện di DNA tổng số trên gel 0,8% agarose 46
Hình3.2. Điện di sản phẩm PCR của gen pagA trên gel 0,8% agarose 46
Hình 3.3. Khuẩn lạc E. coli DH5α trên môi trường LBA chứa X - gal và
ampicillin 47
Hình 3.4. Điện di DNA plasmid từ các dòng khuẩn lạc xanh và trắng trên gel
0,8 % agarose 48
Hình 3.5. Điện di sản phẩm cắt bằng EcoRI trên gel 1,5% agarose 49
Hình 3.6. Điện di sản phẩm cắt DNA plasmid tách chiết từ các khuẩn lạc trắng
dòng 1, 10 bằng enzyme BamHI và XhoI trên gel 1 % agarose 50
Hình 3.7. Điện di sản phẩm PCR khuếch đại gen pagA với cặp mồi BA1 và
BA2 từ các dòng khuẩn lạc 1,2 trên gel 0,8% agarose 51
Hình 3.8. So sánh trình tự gen pagA của chủng B. anthracis VCM1167 với
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
các trình tự đã công bố trên ngân hàng gen quốc tế 52
Hình 3.9. Sơ đồ thiết kế vector biểu hiện pET-TRX-FUS-pagA 54
Hình 3.10. Điện di sau khi thôi gel trên gel 1% agarose 55
Hình 3.11. Khuẩn lạc của E. coli DH5α trên môi trường LBA 55
Hình 3.12. Điện di plasmid từ các khuẩn lạc E. coli DH5a trên gel 1 %
agarose 56
Hình 3.13. Điện di sản phẩm cắt plasmid tái tổ hợp trên gel 1 % agarose 56
Hình 3.14. Điện di sản phẩm PCR trên gel 1 % agarose 57
Hình 3.15. Trình tự acid amin của protein kháng nguyên bảo vệ trên lý thuyết 58
Hình 3.16. Khuẩn lạc của vi khuẩn E. coli chủng BL21 trên môi trường LBA 58
Hình 3.17. Điện di sự biểu hiện protein PA trên gel 12,6 % polyacrylamide 59
Hình 3.18. Điện di protein tái tổ hợp PA theo nhiệt độ trên gel 12,6 %
polyacrylamide 60
Hình 3.19. Điện di biểu hiện protein tái tổ hợp PA theo nồng độ IPTG 61
Hình 3.20. Điện di mẫu protein PA theo thời gian trên gel 12,6 %
polyacrylamide 62
bệnh than. Chính vì vậy, hiện nay có nhiều nghiên cứu sử dụng kháng nguyên
bảo vệ PA để tạo protein tái tổ hợp làm nguyên liệu để tạo kit chuẩn đoán
bệnh than cũng như tạo vaccine phòng chống bệnh than.
Xuất phát từ tính cấp thiết chúng tôi tiến hành đề tài: “ Nghiên cứu
biểu hiện gen pagA mã hóa kháng nguyên bảo vệ PA của vi khuẩn
Bacillus anthracis trong vi khuẩn E . coli BL21”.
Mục tiêu của đề tài:
1. Biểu hiện Protein PA của vi khuần Bacillus anthracis trong vi khuẩn
E . coli BL21,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
2. Thu nhận kháng nguyên bảo vệ PA tái tổ hợp phục vụ các nghiên
cứu chuyên sâu.
Nhiệm vụ của đề tài:
1. Tách dòng và giải trình tự gen pagA mã hóa kháng nguyên bảo vệ PA,
2. Thiết kế vector biểu hiện pET-TRX-FUS mang gen pagA,
3. Nghiên cứu tạo chủng vi khuẩn E . coli BL21 tái tổ hợp mang gen
pagA,
4. Nghiên cứu tìm ra điều kiện thích hợp cho quá trình biểu hiện về
nhiệt độ, nồng độ chất cảm ứng (IPTG), thời gian,
5. Tinh sạch được protein PA trên cột sắc ký ái lực Probond Nikel
Resin,
6. Kiểm tra khả năng phản ứng của protein PA tái tổ hợp với kháng thể
đặc hiệu kháng PA bằng phản ứng Western blot.
Cập làm chết nhiều gia súc, và làm nóng lên sự kiện bệnh than.
Năm 1789, một trận dịch bệnh than lan tràn ở vùng Tresnobin (Nga).
Những năm 1960, bệnh than đã làm chết khoảng 60.000 gia súc ở
Châu Âu.
Tháng 4 năm 1979, ở Sverdlovsk, Liên Xô nay là Ekatarinbua, xảy ra
một trận dịch than thể hô hấp làm chết 66 người [18]. Sau đó vài năm, một
trận dịch tương tự xảy ra ở Paraguay.
Năm 1978 – 1980, một trận dịch than ở Zimbabwe làm hơn 6.000
người bị nhiễm bệnh và 100 người chết.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Năm 1989, ở miền Bắc xứ Wales xảy ra một trận dịch than lớn. Người
ta phải giết 4.492 con gia súc bị nhiễm than và áp dụng các biện pháp sát
trùng chất thải, nhà cửa, thiết bị, đường sá, đất đai bằng fomalin.
Sau sự kiện ngày 11/9/2001, bọn khủng bố sinh học đã dùng bào tử của
vi khuẩn B. anthracis tấn công một số bưu điện của Mỹ bằng các phong bì thư
làm 5 người chết và 17 người bị nhiễm bệnh [1].
Trận dịch than gần đây nhất là ngày 14/6/2005 xảy ra ở một quốc gia
nhỏ ở Châu Phi làm chết 4 người và hơn 80 người bị nhiễm bệnh.
Ở Việt Nam, bệnh than cũng đã xuất hiện từ lâu nhưng ít được thông
báo. Theo số liệu thống kê của Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương, năm 1997
có 30 người mắc bệnh than, năm 1998 có 59 người, năm 1999 có 58 người.
Riêng năm 2000 có 27 người mắc bệnh than, trong đó có 12 ca ở Cao Bằng,
11 ca ở Lai Châu, 4 ca ở Đồng Nai, tuy nhiên không có ca nào bị tử vong.
Tháng 5/2008 ở Điện Biên có 22 người mắc bệnh nhưng không có ai bị tử
vong. Từ tháng 6 đến nay, tại huyện Mèo Vạc, Hà Giang đã xảy ra các vụ trâu
bò, lợn, dê chết. Người dân đã ăn thịt các gia súc này và kết quả xét nghiệm
của Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương kết luận có 13 ca nghi nhiễm mắc bệnh
than, một người đã tử vong [32].
khi nhiễm bệnh sẽ xuất hiện các mủ và các hiện tượng đau nhức, mệt mỏi, sốt,
bạch cầu tăng, các hạch bạch huyết tăng lên. Sau đó vùng thương tổn sẽ
chuyển sang dạng tự phát. Nếu bệnh nặng thêm vết loét sẽ lan rộng và ăn sâu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
làm nhiễm trùng máu dẫn đến không thể chữa khỏi. Than da gây tử vong
khoảng 20 % các trường hợp không được điều trị kịp thời.
1.1.2.2. Bệnh than thể tiêu hoá
Nguyên nhân của bệnh than thể tiêu hoá là do ăn phải thịt gia súc đã bị
nhiễm bào tử than mà không được nấu chín, thậm chí cả khi được nấu chín thì
khả năng gây bệnh vẫn cao [2]. Người ta tìm thấy vi khuẩn than trong dịch ruột
của bệnh nhân mắc bệnh than. Đầu tiên vi khuẩn sẽ tấn công vào những vị trí
thương tổn của màng ngoài ruột và dạ dày. Từ những vị trí này sẽ xuất hiện
những vết loét, lan rộng và lan vào hệ bạch huyết. Bệnh than tiêu hoá thường ít
gặp nhưng lại có tỷ lệ tử vong khá cao. Bệnh thường có hai thể lâm sàng [11]:
– Thể bụng: dấu hiệu đầu tiên và rất dễ nhận biết là có thương tổn xuất
huyết hoại tử ở manh tràng và các vùng lân cận. Triệu chứng ban đầu không
đặc biệt với những cảm giác buồn nôn, biếng ăn, sốt cao. Sau đó là các triệu
chứng đau bụng, tiêu chảy, sốc do nhiễm trùng và tử vong. Bệnh nhân có thể
viêm phúc mạc hoặc viêm lá lách do vi khuẩn tấn công vào khu bạch huyết.
Sau 2– 3 ngày kể từ khi xuất hiện dấu hiệu của bệnh sẽ gây tử vong.
– Thể họng, miệng: tại vùng thương tổn thấy xuất hiện hoại tử ở vùng
vòm họng, cổ họng cứng, sưng amidan. Bệnh nhân sốt cao, khó nuốt, hạch
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
dẫn đến hôn mê. Đa số bệnh nhân thường dẫn đến tử vong sau 1– 2 ngày kể
từ khi mắc bệnh. Thể than này có tỷ lệ tử vong rất cao, thường là 100%.
1.1.3. Bệnh than và chiến tranh sinh học
Sức tàn phá của bệnh than là vô cùng to lớn, đồng thời nó dễ chuẩn bị
và phát tán nhanh nên đã được sử dụng như một loại vũ khí sinh học làm tê
liệt cả một thành phố, thậm chí cả một quốc gia.
Trong chiến tranh thế giới thứ nhất, bệnh than đã được sử dụng như
một thứ vũ khí vô cùng lợi hại. Một vài nước như Đức, Nhật, Hoa Kỳ, Liên
hiệp Anh, Iraq và Liên Xô cũ đã thừa nhận là sử dụng bệnh than làm phương
tiện của chiến tranh.
Năm 1915, Mỹ đã tiêm vi khuẩn bệnh than vào ngựa, la, trâu, bò, để
cung cấp cho các nước trong chiến tranh thế giới thứ nhất.
Năm 1937, Nhật bắt đầu thử nghiệm vũ khí bệnh than ở Mãn Châu Lý
(Trung Quốc).
Năm 1942, Liên hiệp Anh cũng tiến hành thử nghiệm vũ khí bệnh than
ở Gruinard Island, vùng duyên hải Scotland.
Năm 1943, Mỹ bắt đầu phát triển vũ khí bệnh than. Sau chiến tranh thế
giới thứ hai, Mỹ vẫn tiếp tục thực hiện chiến tranh sinh học ở Fort Detrick,
Maryland.
Hình1. 4: Não của người bị nhiễm bệnh
than
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
và cộng sự (1877), Xenkovck và cộng sự (1883). Năm 1877, Kock đã nuôi
cấy vi khuẩn B. anthracis trên môi trường tinh khiết và chứng minh nó có khả
năng hình thành bào tử và có thể gây chết cho động vật. Ông đã chứng minh
sự có mặt của vi khuẩn này trong máu của động vật chết bởi bệnh than.
Năm 1822 – 1905, Pasteur và cộng sự đã tìm thấy bào tử B. anthracis ở
nơi chôn xác động vật bị chết bởi bệnh than.
1.2.1. Đặc điểm vi khuẩn Bacillus anthracis
Vi khuẩn B. anthracis thuộc nhóm I, chi Bacillus, tồn tại trong đất,
nước và không khí. B. anthracis là vi khuẩn Gram dương sinh bào tử (trong
điều kiện kị khí hay kị khí không bắt buộc) không có lông roi nên không có
khả năng di động. Kích thước tế bào từ 3 – 5 m, rộng từ 1 – 2 m. Tế bào
hình que, vuông đầu, sắp xếp với nhau thành chuỗi dài hoặc chỉ vài tế bào nối
với nhau [19].
Bào tử B. anthracis có hình elip nằm ở trung tâm tế bào, kích thước
khoảng từ 1 – 1,5 m, nang bào tử không phồng, bào tử được hình thành vào
thời kỳ cuối của pha sinh trưởng logarit [13].
Khuẩn lạc B. anthracis có màu trắng sữa hoặc trắng xám tới xám, bề
mặt sần sùi, dính, ướt, đường kính 3 – 5 mm [5].
Điều kiện thích hợp cho B. Anthracis phát triển là ở điều kiện nhiệt độ
28 – 32
o
C, pH= 7, thời gian nuôi cấy từ 3 – 5 ngày. Khi gặp điều kiện bất lợi
A
B
nằm trên plasmid pX01 (185kb) [7, 13].
1.2.2.1. Độc tố vỏ nhày
Độc tố vỏ nhày hay vỏ capsulee có bản chất là acid poly – – D –
glutamic trong khi vỏ capsulee của hầu hết các loài vi khuẩn khác lại có bản
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
chất polysaccharides. Độc tố vỏ nhày có trọng lượng phân tử là 215 kDa ở
trong tế bào và ở ngoài tế bào là 20 – 55 kDa. Nó được mã hoá bởi các gen
cap nằm trên plasmid pXO2 có trọng lượng phân tử là 95kb [19, 20].
Tất cả các dòng độc của B. anthracis đều tạo ra vỏ nhày. Vỏ nhày giúp
cho vi khuẩn B. anthracis tránh được sự bảo vệ của hệ thống miễn dịch vật
chủ và kích thích gây nhiễm trùng. Vỏ nhày ức chế đại thực bào và gây ra đáp
ứng miễn dịch yếu. Ngoài ra vỏ nhày còn có tác dụng bảo vệ làm tăng tính
độc của vi khuẩn bệnh than. Thông thường các khuẩn lạc xù xì sẽ độc hơn các
khuẩn lạc nhẵn [19].
Vỏ nhày không được hình thành khi nuôi cấy vi khuẩn trên môi trường
dinh dưỡng thông thường. Nó chỉ hình thành trong môi trường thạch huyết
ngựa hoặc môi trường có bổ sung 0,7 % Na
2
CO
3
, ủ ở 37
o
C, trong điều kiện kị
khí [11]. Bản thân chuỗi poly – – D – glutamic không gây độc nhưng có
chức năng bảo vệ vi khuẩn chống lại thành phần diệt khuẩn của huyết thanh
và bạch huyết, chống lại hiện tượng thực bào. Vì vậy, vỏ nhày có vai trò trong
suốt quá trình xâm nhiễm và có vai trò nhất định trong giai đoạn cuối của
bệnh [11].
pH, không giống như LF, EF còn liên kết với các lỗ màng sau khi được
chuyển vào trong tế bào chất [19]. Khi EF được kháng nguyên bảo vệ PA dẫn
vào trong tế bào vật chủ, độc tố EF sẽ gây nên hiện tượng mất cân bằng
enzym và dẫn đến làm mất tính thấm của tế bào vật chủ. Dịch tế bào bị dồn ứ
Hình 1.6: Nhân tố gây chết EF Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
và gây nên hiện tượng trương bào, màng tế bào căng ra mọng nước, đây chính
là nguyên nhân gây phù thũng ở tế bào vật chủ [16].
Nhân tố gây phù thũng EF được tạo bởi ít nhất 3 vùng chức năng riêng
biệt, trong đó có vùng EF3 (là phức tạp bởi phần enzyme của EF với CaM và
adennosine 5’– α – β – Methylene – triphosphat, đây là vùng quan trọng nhất,
nó kết hợp với CaM để gây phù thũng cho tế bào vật chủ.
1.2.2.2.3. Nhân tố gây chết (Lethal factor – LF)
Nhân tố gây chết LF là một protein gồm 776 acid amin, trọng lượng
phân từ 90kDa, được coi là một nhân tố quan trọng do vi khuẩn B. anthracis
tiết ra [19].
LF chứa một loạt 4 trình tự lặp lại không hoàn toàn trong phần trung
tâm, sự mất đoạn trong vùng này làm protein bị bất hoạt hoặc không hoạt
động. Sự đột biến ở những gốc có tính chất quyết định sẽ tiêu huỷ hoạt tính
độc tố gây chết và gắn Zn
2+
với LF. Vì thế, LF được coi là một
metalloprotease kẽm [9]. Gần đây, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng LF phân giải
các acid amin đầu N của protein kinase hoạt hoá quá trình phân bào (Mitogen
Activated Protein Kinase – MAPKs) [19]. Sự đột biến ở vùng xúc tác của LF
dương cho sự hoạt hoá quá trình dịch mã của các gen độc tố. Sự hoạt hoá này
phải thực hiện trong môi trường có nồng độ CO
2
/bicarbonate cao. Ngoài ra
atxA còn thực hiện một vai trò khác là điều chỉnh sự biểu hiện của các gen
độc tố khi nó xâm nhiễm vào tế bào vật chủ để gây độc [19].
Để hiểu rõ vai trò của nhân tố điều hoà atxA, người ta tiến hành gây đột
biến để tạo một thể đột biến atxA. Khi nuôi cấy trong môi trường giàu dinh
dưỡng, thể đột biến atxA và chủng gốc có sự phát triển như nhau. Nhưng trên
môi trường nghèo dinh dưỡng như môi trường tổng hợp XO hoặc các môi
trường tương tự khác thì thể đột biến không gây độc chủng Sterne (pXO1
+
pXO2
–
) rất khó phát triển. Thể đột biến này tạo ra những đám khuẩn lạc nhỏ
hơn so với chủng gốc. Như vậy gen atxA có liên quan trực tiếp đến sự tổng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
hợp vỏ capsulee có nghĩa là nó liên quan đến gen mã hoá vỏ capsulee. Đồng
thời sự có mặt của atxA còn có tác dụng rõ rệt đến sự hình thành bào tử. Thể
đột biến atxA của chủng Sterne tạo nhiều bào tử hơn khi phát triển trong môi
trường giàu dinh dưỡng, còn các chủ Sterne ban đầu mang đột biến atxA
nhưng đã loại bỏ các gen độc tố thì không có đặc tính trên. Điều đó thể hiện
sự liên quan chặt chẽ của atxA và các gen độc tố [14].
Cùng với hai nhân tố điều hoà acpA và atxA, người ta cũng tìm thấy
một gen pag kích thước 300 bp, nó cùng được dịch mã xuôi chiều với gen
pagA. Gen pagR mã hoá cho một protein có trình tự acid amin giống các
tác nhân điều hoà dịch mã trong các sinh vật khác. Gen pagR ức chế sự
cũng chi phối sự biểu hiện của các gen độc tố [7, 19, 20]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
1.3. Kháng nguyên bảo vệ PA
1.3.1. Vai trò của kháng nguyên bảo vệ PA
Kháng nguyên bảo vệ PA là thành phần quan trọng trong quá trình gây
độc của vi khuẩn B. anthracis. Phân tử PA hoàn chỉnh có trọng lượng 83 kDa,
gồm 735 acid amin, kích thước không gian 3 chiều là 100 x 50 x 30 Å. Kháng
nguyên bảo vệ PA do gen pagA mã hoá, gen này nằm trên plasmid pXO1
(185 kb) [19, 20].
Mặc dù bản thân PA không gây độc nhưng nó lại có khả năng truyền
dẫn các độc tố vào bên trong tế bào vật chủ. PA83 có khả năng kết hợp với
thụ thể trên bề mặt tế bào. Dưới tác dụng của protease nội bào họ furin, PA83
sẽ bị phân tách thành 2 phần là PA20 và PA63, để lộ ra vị trí liên kết với LF
và EF [19, 20] Đây là bước rất nguy hiểm trong quá trình gây độc của PA.
Các nghiên cứu gần đây cho thấy nếu trên phân tử PA83 không chứa vị trí
phân cắt này thì không có khả năng gây độc. Sau đó, các mảnh PA63 sẽ liên
kết với nhau để tạo thành vòng heptam có 7 nhánh. Khi vòng heptam kết hợp
với nhân tố LF sẽ gây chết và kết hợp với nhân tố EF sẽ gây phù thũng cho tế
bào vật chủ. Vì vậy, kháng nguyên bảo vệ PA được coi là tác nhân gián tiếp
gây độc cho tế bào vật chủ làm tăng hiệu quả gây độc của nhân tố gây chết và
phù thũng [19, 20].
Bên cạnh đó PA còn có vai trò chính trong miễn dịch bệnh than. Người
ta đã nghiên cứu khả năng kích thích gây đáp ứng miễn dịch của nhiều kháng
nguyên vi khuẩn B. anthracis như vỏ capsulee, S – layer hay các protein khác,
kết quả cho thấy chỉ có các protein hình thành độc tố than mới có khả năng
kích thích miễn dịch sinh kháng thể nhờ khả năng trung hoà độc tố than [9].
Kháng thể PA sẽ phá huỷ protein PA ở vị trí liên kết với thụ thể trên tế bào