Tại sao nói phương pháp hành chính - luật pháp là phương pháp chủ đạo trong công tác quản lý? - Pdf 19

Đề tài: Tại sao nói phương pháp hành chính - luật pháp là phương pháp chủ đạo trong công tác
quản lý? Anh (Chị) đã vận dụng phương pháp đó như thế nào trong công tác quản lý.
A Đặt vấn đề:
Phương pháp quản lý có vai trò quan trọng trong hệ thống quản lý. Trong hoàn cảnh cụ thể,
phương pháp quản lý có tác dụng quan trọng đến sự thành công hay thất bại của các nhiệm vụ, mục tiêu
quản lý. Quá trình quản lý là quá trình thực hiện các chức năng quản lý theo đúng những nguyên tắc, qui
trình đã quy định. Những nguyên tắc đó chỉ được vận dụng và được thể hiện thông qua các phương pháp
nhất định. Vì vậy, vận dụng các phương pháp quản lý là một nội dung cơ bản của hoạt động quản lý.
Mục tiêu, nhiệm vụ quản lý được thực hiện thông qua tác động của các phương pháp quản lý. Vai trò của
phương pháp quản lý còn ở chỗ nó nhằm khơi dậy những động lực, kích thích tính năng động, sáng tạo
của người lao động và tiềm năng của hệ thống cũng như cơ hội có lợi ở bên ngoài.
Phương pháp quản lý là biểu hiện cụ thể của mối quan hệ qua lại giữa chủ thể với đối tượng và
khách thể quản lý. Đó là mối quan hệ rất sinh động với tất cả sự phức tạp của đời sống giữa những con
người cụ thể. Vì vậy các phương pháp quản lý mang tính chất đa dạng và phong phú, nó là bộ phận năng
động nhất của hệ thống quản lý. Phương pháp quản lý thường xuyên thay đổi trong từng tình huống cụ
thể tuỳ thuộc vào đặc điểm từng đối tượng, cũng như năng lực và kinh nghiệm của người quản lý.
Tác động của phương pháp quản lý luôn luôn là tác động có mục đích. Vì vậy, mục tiêu quản lý
quyết định việc lựa chọn phương pháp quản lý. Trong quá trình quản lý phải luôn luôn điều chỉnh các
phương pháp quản lý, nhưng không được chủ quan tuỳ tiện muốn sử dụng phương pháp nào cũng được.
Bởi vì, mỗi phương pháp quản lý khi sử dụng lại tạo ra một cơ chế tác động mang tính khách quan vốn
có của nó. Bên cạnh các yếu tố tích cực, phù hợp với mục tiêu dự đoán của chủ thể, cũng có thể xuất hiện
một số hiện tượng nằm ngoài dự đoán ban đầu , thậm chí trái ngược với mục tiêu đặt ra. Do đó, đòi
hỏi chủ thể quản lý phải tỉnh táo, sâu sát thực tế, kịp thời có biện pháp bổ sung để khắc phục các mặt tiêu
cực khi chúng xuất hiện. Trong quản lý chúng ta có rất nhiều phương pháp, nhưng chủ yếu là các phương
pháp: Giáo dục chính trị - tư tưởng, tâm lý - xã hội, hành chính - luật pháp, tổ chức - điều khiển và kinh
tế. Vậy tại sao nói phương pháp hành chính - luật pháp là phương pháp chủ đạo trong công tác quản lý?
Phương pháp đó như thế nào? Để tìm hiêu sâu hơn ta hãy phân tích phương pháp quản lý này và từ đó
vận dụng như thế nào trong công tác quản lý.
B. Phân tích:
Để phân tích phương pháp hành chính - luật pháp là phương pháp chủ đạo thì đầu tiên ta phải hiểu thế
nào là phương pháp hành chính-luật pháp.

• Cơ chế điều tiết bằng luật pháp các quan hệ kinh tế - xã hội:
Cơ chế này bao gồm hai yếu tố chủ yếu: quyết định ra các quy phạm pháp luật và sử dụng các quy
phạm đó để điều tiết các quan hệ.
Quy phạm luật pháp là các quy tắc được nhà nước quy định cho hành vi của mọi công dân, của
các tập thể, đơn vị, cơ quan. Quy phạm có các đặc trưng sau:
- Do nhà nước định ra.
- Có hiệu lực bắt buộc thi hành.
- Quy định cụ thể quyền hạn và nghĩa vụ của đối tượng.
- Được đảm bảo thực hiên bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước.
Ở nước ta, các quy phạm luật pháp được phản ánh qua các văn bản pháp luật. Có hai loại văn bản
pháp luật: văn bản luật và văn bản dưới luật (pháp quy).
* Các văn bản luật do Quốc hội, cơ quan quyền lức cao nhất ban hành có hiệu lực cao nhất, gồm có:
- Hiến pháp: là đạo luật cơ bản của nhà nước. Các quy định của hiến pháp là nguồn, là căn cứ cho tất
cả các ngành luật khác.
- Luật: là văn bản pháp luật có giá trị sau hiến pháp, được ban hành nhằm cụ thể hóa các quy định
của hiến pháp.
Thí dụ: Luật hành chính điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình quản lý của nhà nước
trên các lĩnh vực đời sống xã hội. Luật dân sự là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các
quan hệ tài sản mang tính chất hàng hóa - tiền tệ, quan hệ nhân thân phi tài sản như: danh dự, quyền
phát minh, sáng chế, quyền tác giả...
• Các văn bản dưới luật bao gồm các văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý thấp hơn luật.
Thí dụ: Pháp lệnh Ủy ban Thường vụ Quốc hội là những căn cứ pháp lý để các ngành, các cấp tổ
chức thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong thực tiển quản lý.
- Lệnh: quyết định của Chủ tịch nước là cơ sở pháp lý để Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ ban
hành các văn bản quản lý của mình.
- Nghị quyết của Chính phủ ban hành các chủ trương chính sách lớn, các chính sách cụ thể, thông qua
dự án kế hoạch về ngân sách nhà nước trước khi trình Quốc hội, phê duyệt điều ước quốc tế nhân
danh Chính phủ và những công tác quan trọng khác thuộc thẩm quyền của Chính phủ.
- Nghị định của Chính phủ: quy định cụ thể việc thi hành luật, pháp lệnh, ban hành các chế độ, thể lệ
cụ thể.

chú ý đến chế độ trách nhiệm vật chất.
• Cơ chế điều khiển hành chính - luật pháp trong quản lý.
Trong thực tế hoạt đông xã hội xuất hiện các bối cảnh và tình huống rất đa dạng, chỉ riêng các hệ
thống quy phạm luật pháp thì chưa đủ, cần phải có cơ chế điều hành hành chính phù hợp, linh hoạt và
nhạy bén để giải quyết mọi vấn đề lớn nhỏ nãy sinh. Nó là tiến trình đưa vào ứng dụng các quy phạm
luật pháp.
Việc điều chỉnh hành chính - luật pháp được thực hiện dưới nhiều hình thức, thông qua việc
hướng đẫn, đôn đốc và kiểm tra thực thi các chỉ tiêu kế hoạch, các quyết định, chỉ thị, điều lệ và các
văn bản hành chính, luật pháp khác. Trên thực tế, nhiều cơ quan, nhiều cá nhân lãnh đạo quan liêu,
duy ý chí, lạm dụng quyền hành đưa ra các mệnh lệnh, quyết định, chỉ thị thiếu cơ sở khoa học và
thực tế hoặc không dám chịu trách nhiệm trước các quyết định của mình.
c. Sử dụng các phương pháp hành chinh-luật pháp đòi hỏi các cấp quản lý phải tuân thủ các yêu cầu
sau đây:
Một là, quyết định hành chính - luật pháp chỉ có hiệu quả cao khi nó có căn cứ khoa học, được
luận chứng đầy đủ về mặt kinh tế xã hội.
Khi đưa ra một quyết định phải cân nhắc, tính toán hợp lý các loại lợi ích: kinh tế, chính trị, văn
hoá, giáo dục, xã hội, ngoài ra còn phải hiểu rõ tình hình thực tế, nắm vững tình huống cụ thể. Chủ
thể quản lý chỉ ra quyết định trên cơ sở có đầy đủ thông tin cần thiết. Tập hợp đủ thông tin, tính toán
đầy đủ đến các lợi ích, các khía cạnh có liên quan, đảm bảo cho quyết định hành chính - luật pháp có
căn cứ khoa học.
Người cán bộ quản lý giỏi, có nhiều kinh nghiệm không chỉ ra quyết định khi có đủ thông tin mà
còn dự báo được những nét phát triển chính, những mặt tích cực cũng như các mặt tiêu cực có thể
diễn ra khi quyết định được thi hành. Từ đó sẵn sang bổ sung các biện pháp, phát huy mặt tích cực và
hạn chế, ngăn chặn mặt tiêu cực nếu có.
Hai là, khi sử dụng phương pháp hành chính-pháp luật phải gắn chặt quyền hạn và trách nhiệm
của người ra quyết định. Mỗi đơn vị, mỗi cán bộ quản lý tùy quyền hạn của mình, phải có trách
nhiệm sử dụng các quyền hạn đó. Ở cấp càng cao, phạm vi tác động của pháp luật càng rộng, nếu sai
thì tổn thất càng lớn. Người ra quyết định phải chịu trách nhiệm đầy đủ về quyết định của mình.
Do vậy, phải đảm bảo gắn chặt quyền hạn và trách nhiệm, chống việc lạm dụng quyền hành nhưng
không dám chịu trách nhiệm, cũng như chống hiện tượng trốn tránh trách nhiệm, không dám ra quyết


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status