THỰC HÀNH ĐỘNG VẬT HỌC (PHẦN HÌNH THÁI – GIẢI PHẪU) part 3 potx - Pdf 19



27
Loài Chronogaster typicus (họ Leptolaimidae, bộ Araeolaimida, lớp Nematoda). Loài
này thường sống trong đất ẩm hay trong xác thực vật đang phân huỷ, gặp nhiều ở các ruộng
lúa nước trong cả nước. Lấy các búi rễ lúa có vết bầm đen, rửa nhẹ cho hết bùn, dùng kéo cắt
rễ thành từng đoạn ngắn 3 - 5mm cho vào lọc. Chú ý là lọc qua rây và dưới rây đặt phễu gắn
với ống thu mẫu. Giun tròn sẽ từ mô rễ, bò xuống phía đáy rây, rơi vào phễu và xuống ống
thu mẫu. Quan sát Chronogaster typicus qua kính lúp hai mắt và thấy được hình dạng ngoài
cũng như một số nội quan.
Loài Prismatolaimus intermedius (họ Prismatolaimidae, bộ Enoplidae): Cơ thể dài
0,45mm - 0,70mm, ăn thịt, sống trong đất ẩm và nước ngọt.
Loài Mononchus truncatus (họ Monchidae, bộ Monchida): Cơ thể dài 1,3mm - 2,0mm,
ăn thịt, thức ăn là giun tròn, trùng bánh xe, giun ít tơ và động vật nguyên sinh ở đất, sống
trong đất ẩm và nước ngọt.
Loài Mesorhabditis monhystera (họ Rhabditidae, bộ Dorylaimida): Cơ thể dài 0,4mm -
0,7mm, ăn vi khuẩn, thường gặp nhiều loại đất khác nhau.
Loài Panagrolaimus vigidus (họ Panagrolaimidae, bộ Rhaditida): Cơ thể dài 0,7mm -
1,3mm, ăn xác thực vật và vi khuẩn, gặp ở các tổ chức thực vật quanh rễ cây.
b. Các loài giun tròn ký sinh thực vật thường gặp:
Giun tròn ký sinh thân lúa Dilylenchus angustus (họ Anguinidae, bộ Tylenchida): Cơ
thể dài 0,6mm - 1,1mm, thường gặp ở thân lúa nổi ở đồng bằng sông Cửu long
Giun tròn ký sinh cây Cà phê Pratylenchus coffeae (họ Platylenchidae, bộTylenchida):
Cơ thể dài 0,4mm - 0,7mm, ký sinh rễ cà phê và hơn 80 loại cây khác nhau.
Giun tròn gây nốt sần rễ Meloidogyne incognita (họ Meloidogynidae, bộ Tylenchida):
Cơ thể dài 1,2mm - 2,0mm, ký sinh ở 100 loài thực vật ở nước ta.
Giun tròn ký sinh truyền bệnh vi rut Xiphinema brevicolle (họ Xiphinemidae, bộ
Dorylaimida): Cơ thể dài 1,7mm - 2,2mm, ký sinh nhiều loại cây khác nhau.

Câu hỏi đánh giá
1. Nêu đặc điểm chứng minh Sán lá gan tiêu biểu cho sự thích nghi với đời sống ký sinh?

bằng nước nóng, có thể gây mê bằng hơi chloroform hay nước có pha chloroform 1%.
+ Tôm càng Macrobrachium nipponense thường sống phổ biến ở sông suối, ao, hồ,
ruộng Chúng bò dưới đáy, ở trong các hang hốc của các bến đá, ao ngâm tre gỗ, hay bơi
trong nước. Tôm càng ăn côn trùng dưới nước, nòng nọc, giáp xác nhỏ. Để có mẫu vật sống
có thể mò tôm bằng tay ở nơi có các rễ cây si, cây sung hay câu tôm bằng rớ, vó, lờ. Tốt
nhất là đặt cho các vó bè hay mua ở chợ vào lúc sáng sớm. Có thể nuôi tôm trong phòng thí
nghiệm bằng các bể kính hay các bô can thủy tinh lớn. Chú ý tính phàm ăn của tôm và nhu
cầu ô xy rất cao, thức ăn là cám rang, tép, giun và cá con. Phân biệt tôm đực và tôm cái bằng
cách so sánh 2 con cùng kích thước, con nào có càng lớn hơn thì đó là con đực.
2. Dụng cụ
Chậu mổ, bộ đồ mổ, kim găm, khăn lau, lúp cầm tay, lúp bàn, một mảnh giấy crôki
3. Hóa chất
Formalin 5%, cồn 70
0
, chloroform, xanh metylen, đỏ trung tính, thuốc nhuộm
hematocylin hay eozin

II. Nội dung tiến hành
2.1 Nghiên cứu Giun đất (Giun khoang - Pheretima sp)
a) Nghiên cứu hình dạng ngoài 29
+ Giun đất trưởng thành dài khoảng 20 - 30cm, có tới 100 đốt khá giống nhau. Các đốt
phân biệt rõ nhờ các vách ngăn đốt. Màu sắc khác nhau: Xám đỏ có ánh kim, mặt bụng sáng
hơn mặt lưng. Mặt ngoài cơ thể khá nhẵn, luôn nhờn, ẩm rất thích ứng với sự chui luồn trong
đất. Dùng tay sờ hay quan sát dưới kính lúp thì mới thấy rõ ranh giới của các đốt và thấy mỗi
đốt có một vòng tơ, gồm nhiều tơ ngắn đều đặn.
+ Giữa mặt lưng, tại ranh giới của các đốt, bắt đầu từ đốt thứ XI -XII trở về sau đều có
lỗ sinh dục xếp thành hàng dọc. Đai sinh dục được hình thành từ 3 đốt: Đốt thứ XIV, XV và

30 Giun đất có 4 đôi tim bên, nằm ở phía trước vách giữa các đốt từ thứ X đến XIII, riêng
đôi tim bên thứ nhất gắn chặt vào vách ngăn giữa đốt X và XI. Tim bên là các mạch ngắn,
phình to dần, nối liền giữa mạch trên ruột xuống mạch máu bụng. Mạch máu lưng lớn, nằm
trên rãnh ruột, đoạn phía trước các đôi tim bên bé dần và phân làm nhiểu nhánh ở đầu, tới
đoạn gốc mề thì tách làm 2, một nhánh lớn chạy vòng xuống bụng và nhánh trên hình thành 2
mạch nhỏ khác chạy vào mề, hầu
Mạch máu bụng nằm ở dưới ruột. Về phía đầu cũng nhỏ dần và mạch máu trên ruột là
một mạch ngắn, mỏng, nằm sát ruột (hình 3.2).
Cung tuần hoàn ngoại biên đều có ở mỗi đốt, đó là các mạch nhánh đi từ mạch bụng đến

14
15
17
18
AQ

B 31
kinh đi tới thành cơ thể và một đôi
dây thần kinh phía trước đi tới vách
đốt. Như vậy cấu tạo chuỗi thần
kinh sắp xếp đều đặn trong mỗi đốt
cũng thể hiện tính chất phân đốt
đồng hình ở Giun đất.
Cơ quan cảm giác ở dạng tế
bào riêng lẻ hay tập trung.
+ Hệ sinh dục:
Giun đất là động vật lưỡng tính (trong một cá thẻ có cả hệ sinh dục đực và cái).
Cơ quan sinh dục đực gồm 2 đôi tuyến tinh có hình khối bầu dục, màu vàng nhạt, nằm ở
phía bụng của các đốt X và XI. Túi chứa tinh lớn hơn, chia thùy, màu trắng và phủ quanh dạ
dày ở các đốt từ XI - XIII. Từ 2 phễu sinh dục trước và sau ở mỗi bên, có 2 ống dẫn đổ ra phía
sau, phần cuối tạo thành óng phóng tinh, có thành cơ phát triển và đổ ra ngoài qua lỗ sinh dục
đực ở mặt bên bụng đốt XVIII. Cạnh ống phóng tinh dễ dàng nhìn thấy tuyến tiền liệt hình hạt
đậu nhiều thùy màu trắng, nằm dọc chiều dài mỗi đốt, từ đốt XVII - XIX, có ống dẫn ngắn đổ
thẳng vào ống phóng tinh.
Cơ quan sinh dục cái gồm một đôi tuyến trứng hình hạt tròn, màu vàng nhạt, nhỏ hơn
tuyến tinh và nằm sau tuyến tinh, sau vách đốt XII và XIII. Hai phễu trứng nằm trong đốt
XIII, từ đó có ống dẫn trứng ngắn, xuyên qua vách ngăn đốt XIII và XIV rồi đổ chung ra
ngoài qua lỗ sinh dục cái ở mặt bụng đốt XIV (đốt thứ nhất của đai sinh dục). Cơ quan sinh
dục cái còn có 2 đôi túi nhận tinh nằm trong các đốt VII và VIII. Mỗi túi nhận tinh gồm 2
phần: túi chứa lớn và ống dẫn dài, cả 2 đều thông ra ngoài theo lỗ nhận tinh.
c. Nghiên cứu lát cắt ngang
Từ ngoài vào trong, có các bộ phận sau:
+ Thành cơ thể còn giữ cấu tạo kiểu bao biểu mô
cơ: ngoài cùng là lớp cuticun mỏng, trong suốt rồi đến
lớp biểu bì. Trong lớp biểu bì là lớp cơ gồm cơ vòng
mỏng, cơ dọc rất dày. Cơ của Giun đất cấu tạo đồng đều,
không phân hóa thành các dải cơ dọc như ở một số bọn

Tế bào tiết 33 2.2 Nghiên cứu tôm càng (Macrobrachium nipponense)
a. Vị trí phân loại
Loài Macrobrachium nipponense
Họ Palaemonidae
Bộ Mười chân - Decapoda
Lớp Giáp xác - Crustacea
Ngành Chân khớp - Arthropoda
b. Kỹ thuật tiến hành
+ Dùng mẫu vật tươi hay định hình trong cồn 700 để nghiên cứu hình dạng ngoài.
+ Gỡ nhẹ nhàng các phần phụ theo thứ tự từ trước ra sau và quan sát dưới kính lúp bàn
hay lúp cầm tay.
+ Để quan sát nội quan cần phải gỡ một phần vỏ giáp đầu ngực về phía mặt lưng và
Phần bụng (kể cả telson) gồm 7 đốt, mỗi đốt có một vòng vỏ, vòng vỏ trước che lấp vòng vỏ
sau. Trên mặt telson có 2 đôi gai bất động, đầu telson có 2 gai động.
Tùy theo chức
phận mà phần phụ của
tôm có cấu tạo khác
nhau, tuy nhiên về cơ
bản vẫn là phần phụ
hai nhánh điển hình
cho giáp xác: Mỗi
phần phụ gồm có 2
đốt gốc (đốt thứ nhất
là coxopodite nối với
thân, đốt thứ 2 gọi là
basipodite nối với 2 nhánh ngọn). Nhánh ngọn có 2 là nhánh ngọn ngoài (exopodite) và nhánh
ngọn trong (endopodite) (hình 3.9).
Tôm càng có tất cả 19 đôi phần phụ, sắp xếp theo thứ tự từ đầu xuống đuôi như sau: 2
đôi anten (râu); 1 đôi hàm trên; 2 đôi hàm dưới; 3 đôi chân hàm; 5 đôi chân bò (chân ngực); 5
đôi chân bơi (chân bụng); 1 đôi chân đuôi, còn telson không có phần phụ.
Anten I (râu I): Phần gốc có 3 đốt, đốt thứ nhất dài có hốc lõm ở mặt lưng và có gai cảm
giác nhỏ ở mặt bụng, đốt thứ 3 có 3 nhánh là nhánh trong, nhánh ngoài và nhánh phụ ngoài.
Hình 3.8 Mặt ngoài giáp đầu ngực của Tôm càng
Hình 3.7 Hình dạng ngoài của tôm càng (Macrobrachium nipponennse) 35
Râu II: Phần gốc 2 đốt, đốt thứ 2 mặt lưng
có có một gai, mặt bụng có lỗ bài tiết. Phần ngọn
2 nhánh: nhánh ngoài dẹt gọi là vảy anten, nhánh
36
và 2 nhánh trong và ngoài dài ngắn khác nhau, các đôi còn lại có độ dài của nhánh trong và
ngoài gần như nhau. Riêng con đực có thêm phần phụ sinh dục hình que dài, có lông cứng ở
đôi chân bơi II.
Chân đuôi: Đôi chân đuôi khớp sát với telson, mỗi bên có 2 nhánh xòe rộng. Cùng với
telson có nhiệm vụ giữa thăng bằng và hướng chuyển động của tôm.
2) Cấu tạo trong
+ Hệ tiêu hóa: Miệng nằm ở
mặt bụng của đầu, phía trước có môi
trên che kín, phía sau thông với thực
quản. Thực quản của tôm ngắn,
thẳng góc với trục cơ thể, đổ vào dạ
dày. Mặt trong của thành thực quản
có 5 bó cơ sắp xếp xung quanh. Dạ
dày là là một bao cơ dài, phía sau
phình ra thành 2 túi nhỏ ở hai bên.
Mổ dọc dạ dày theo mặt lưng có thể
thấy dạ dày được chia làm 2 phần:
Phần trên là thượng vị lớn và có
nhiều dải cơ tham gia điều khiển
họat động và vùng hạ vị nhỏ hơn, có
các gờ cơ tham gia điều khiển họat động. Mặt bụng của dạ dày có lỗ thông với tuyến gan.
Ruột giữa ngắn, ruột sau dài, chạy suốt phần bụng, tiếp theo đoạn cuối của ruột sau là
ruột thẳng, đổ ra hậu môn nằm ở gốc telson (hình 3.11).
+ Hệ tuần hoàn: Tôm có hệ tuần hoàn hở, cấu tạo gồm có các phần sau: Tim, các động
Hình 3.13 Cấu tạo nội quan của Tôm càng
Hình 3.12 Hệ thần kinh của Tôm càng
Hình 3.11 Nội quan của tôm càng

nối với hạch dưới hầu. Hạch dưới hầu lớn, do nhiều đốt của vùng này hợp lại. Mặt lưng của
hạch dưới hầu có 4 đôi dây thần kinh đi vào các cơ quan của vùng đầu ngực, từ mặt bụng của
hạch dưới hầu có có 8 đôi dây thần kinh đi tới phần phụ miệng và các tuyến bài tiết.
Tiếp theo là 5 đôi hạch ngực nằm sát nhau, hạch trái và phải dính liền nhau, từ mỗi đôi
hạch này có 2 dây thần kinh đi tới 2 phần phụ ở hai bên. Chuỗi thần kinh bụng gồm 6 hạch,
nằm xa nhau, có các dây thần kinh điều khiển các
phần phụ bụng và các cơ bụng tương ứng.
+ Hệ hô hấp: Cơ quan hô hấp của Tôm càng
là mang. Mang nằm ở gốc các đôi phần phụ của
phần đầu ngực, từ đôi chân hàm thứ nhất đến đôi
chân bò thứ V. Khoảng trống giữa nội quan và vỏ
của giáp đầu ngực gọi là xoang mang, thông với
ngoài về phía bụng của phần đầu ngực. Sự họat
động của các đôi phần phụ vừa có ý nghĩa dinh
dưỡng, vừa có ý nghĩa tạo ra dòng nước để làm
giàu ô xy, thuận lợi cho sự hô hấp.
+ Hệ bài tiết: Gồm 2 đôi tuyến xanh lục nằm
ở gốc anten II (được gọi tuyến anten). ống dẫn bài
tiết ngắn, đổ ra ngoài qua lỗ bài tiết nằm ở mặt bụng của gốc thứ 2 của anten II (hình 3.14).

Hình 3.15 Mặt bụng phần đầu - ngực của Tôm càng

+ Tôm: Từ trứng nở ra ấu trùng nauplius hình quả lê, chưa phân đốt, có 1 mắt trán rất
đặc trưng, đôi anten I có 1 nhánh, anten II dạng 2 nhánh. Nội quan đã có ống ruột, hạch não,
hạch thần kinh bụng và đôi tuyến bài tiết. Tiếp theo là ấu trùng metanauplius có thân dài hơn,
nhú thân hàm dưới và các mầm chân ngực. Tiếp theo là các giai đoạn đặc trưng là protozoea
cơ thể đã chia làm 2 phần đầu ngực và bụng, zoea có phần đầu ngực và bụng dài, phân đốt, đã
roz giáp đầu ngực, 2 mắt kép, các phần phụ miệng, chân hàm, chân ngực, chân bụng và đôi
chân đuôi. Dạng ấu trùng cuối cùng là mysis gần giống với tôm trưởng thành, sau khi lột xác
sẽ biến thành tôm trưởng thành.
+ Cua: Từ trứng nở ngay thành zoea (không qua nauplius và metanauplius), zoea phát
triển thành megalopa có đầu to phần bụng chưa gập dưới phần đầu ngực, sau một số lần lột
xác phát triển thành cua trưởng thành. Câu hỏi đánh giá

1. Cho biết các đặc điểm hình thái ngoài chứng minh tính chất phân đốt đồng hình của giun
đất Pheretima ?
2. Cấu tạo phân đốt của hệ tuần hoàn, thần kinh và bài tiết của giun đất Pheretima sp?
3. Tính chất phân đốt dị hình căn cứ vào hình dạng ngoài của tôm càng? 39
4. Trình bày các phần phụ phân đốt của tôm càng, nêu rõ tính chất phần phụ hai nhánh điển
hình ở tôm càng tiêu biểu cho động vật giáp xác?
5. Nêu một số đại diện tiêu biểu về tôm nước ngọt và nước lợ thường gặp? Trình bày cấu tạo
hình thái của các pha phát triển của tôm?


tạm thời (lấy từ mẫu vật sống) hay tiêu bản cố định để quan sát dưới kính lúp hai mắt.

III. Nội dung nghiên cứu
1. Nghiên cứu biến thái của côn trùng
Côn trùng có các kiểu phát triển biến thái cơ bản sau:
+ Biến thái không hoàn toàn (hay còn gọi là biến thái thiếu - hemimetamorphosis) là
kiểu biến thái đặc trưng cho nhiều loài côn trùng thuộc bộ Cánh thẳng (Orthoptera), Gián
(Blattoptera), Cánh nửa (Hemiptera), Cánh giống (Homoptera), Bọ trĩ (Thysanoptera) Các
côn trùng này quá trình phát triển trải qua 3 pha là trứng (ovar), thiếu trùng (nympha) và
trưởng thành (imago). Thiếu trùng gần giống với trưởng thành về hình thái và sinh học. Sự


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status