THỰC HÀNH ĐỘNG VẬT HỌC (PHẦN HÌNH THÁI – GIẢI PHẪU) part 4 doc - Pdf 19



41
khỏc bit rừ nht gia trng thnh v thiu trựng l thiu trựng cha cú cỏnh v c quan sinh
dc phỏt trin cha hon chnh.
+ Bin thỏi hon ton hay bin thỏi (holometamorphosis) c trng cho cỏc b cụn
trựng nh Cỏnh cng (Coleoptera), Cỏnh vy (Lepidoptera), Hai cỏnh (Diptera), Cỏnh mng
(Hymenoptera) cỏc cụn trựng ny trong quỏ trỡnh phỏt trin tri qua 4 pha l trng (ovar), u
trựng (larvar), nhng (pupa) v trng thnh (imago). Pha u trựng cú c im hỡnh thỏi v
sinh hc khỏc hn pha trng thnh, cũn nhng l pha trung gian bin i u trựng thnh
con trng thnh.
1.1 Kiu bin thỏi khụng hon ton
Quan sỏt qua cỏc pha phỏt trin ca co co, chu k phỏt trin ca co co gm 3 pha l
trng, thiu trựng v trng thnh (hỡnh 4.1).
na (Heteroptera). Hỡnh 4.2 trỡnh by cỏc pha phỏt
trin ca b xớt. 42
+ Bướm: có kích thước khá lớn,
cơ thể chia làm 3 phần là đầu ngực và
bụng. Phần đầu nhỏ, có một đôi râu
hình lông chim, một đôi mắt kép và
phần phụ miệng kiểu vòi hút nhưng đã
tiêu giảm. Ngực có 3 đốt, mang 3 đôi
chân kiểu bò, có hai đôi cánh trên đốt
2 và 3, đôi cánh trước lớn hơn đôi cánh
sau và trên cánh có nhiều vảy màu
vàng. Bụng có nhiều đốt và không
mang phần phụ (hình 4.3A).
+ Trứng có hình dạng khác nhau,
chẳng hạn có hình giỏ bắt cua, thường sắp
xếp thành một khối cạnh nhau (hình 4.3B).
+ Ấu trùng (sâu): Có đặc điểm dinh
dưỡng và hình thái khác hẳn trưởng thành.
Cơ thể ấu trùng dạng sâu, chia làm 3 phần là
đầu, ngực và bụng. Đầu có phần phụ miệng
kiểu nghiền, ngực có 3 đốt, mỗi đốt mang
một đôi chân có phân đốt ngắn, bụng có 9
đốt tương đối giống nhau và giống với ngực,
năm đốt bụng đầu tiên có mang 5 đôi chân
giả, đó là các nhú lồi không phân đốt. Sâu có
kích thước thay đổi sau mỗi lần lột xác, lần
lột xác cuối cùng hình thành nên nhộng

Trên các hình 4.4 và 4.5 trình bày các kiểu biến thái hoàn toàn của các nhóm côn trùng
khác nhau.
2. Nghiên cứu các pha phát triển
2.1 Pha trứng
Trứng côn trùng có kích thước và hình dạng khác nhau: Có loài rất nhỏ (0,02 - 0,03mm)
như trứng của các loài ong ký sinh hay rệp cây, có loài tương đối lớn (8 - 10mm) như sát
sành, ong bắp cày (hình 4.6).
Hình dạng của trứng thay đổi, có thể nêu các kiểu cấu tạo điển hình như sau:
+ Kiểu cần câu (Bọ nhảy, Bọ Cánh gân ), kiểu hình thận (Bọ trĩ ); kiểu giỏ (bọ xít
nhãn, bọ xít đen hại lúa ); kiểu lọ hoa (bọ xít xanh hại đậu ); kiểu chai (Bọ lạc đà, Bọ xít
bầu bí, Bọ xít cải ); kiểu hình cầu (bướm phượng, bọ cánh cứng); kiểu hình bán cầu (Bướm
cải, Sâu khoang, Sâu xám ).
Bên ngoài trứng có lớp vỏ cứng bao bọc (chorion), đó là màng cứng có cấu tạo nhiều
lớp, đôi khi rất phức tạp, được tạo thành từ chất chorionin và do lớp tế bào biểu mô pholicun
tiết ra sau khi trứng được hình thành. Bề mặt vỏ trứng được cấu trúc rất tinh vi và đặc trưng
cho từng giống hay loài. Dưới lớp vỏ trứng là lớp màng mỏng gọi là màng noãn hoàng
(membrana vitellina), đây chính là màng của tế bào trứng.
Trứng luôn có một lỗ nhỏ, nằm phía đầu, thông với bên ngoài và được gọi là lỗ trứng
(micropyle). Lỗ trứng cấu tạo đa dạng và nhiều khi rất phức tạp gồm nhiều khe hẹp, là nơi
xâm nhập của tinh trùng để vào thụ tinh cho trứng (hình 4.6).


+ Ấu trùng dạng tằm: Cơ thể dài dạng tằm có 3 đôi chân ngực, 2 - 8 đôi chân bụng
ngắn. Phần đầu tách biệt với phần ngực và hộp sọ được kitin hoá mạnh. Ấu trùng linh hoạt.
Dạng ấu trùng này đặc trưng cho côn trùng bộ Cánh vảy (Lepidoptera), Bướm giả
(Mecoptera), họ Tò vò (Cephidae).
+ Ấu trùng dạng bọ rùa: Cơ thể chia thành 3 phần rõ rệt, 3 đôi chân ngực phát triển,
không có chân bụng. Ấu trùng rất linh hoạt và phần lớn là bọn ăn thịt như ấu trùng Bọ rùa
(Coccinellidae), Bọ hổ trùng (Cicindellidae), Bọ chân chạy (Carabidae).
+ Ấu trùng dạng giun: Cơ thể thường có màu trắng và không có chân ngực và chân
bụng. Dựa vào hình dạng có thể chia dạng ấu trùng này thành các kiểu:
++ Ấu trùng kiểu bọ hung: Có đầu lớn, có chân bụng nhưng không tham gia vận
chuyển. Ví dụ như ấu trùng cánh cam, bọ hung, sùng
++ Ấu trùng kiểu ong mật: Ấu trùng có đầu lớn, không có chân, cơ thể có màu trắng. Ví
dụ như ấu trùng của Mọt đậu, ấu trùng bộ Cánh màng (Hymenoptera), ấu trùng bọ Vòi voi
(Curculionidae).
++ Ấu trùng kiểu giòi: Ấu trùng không có đầu lộ ra ngoài, cơ thể dài, hơi nhọn ở phía
đầu, hoàn toàn không có chân. Gặp ở ruồi nhà, nhặng
2.3 Pha nhộng
Nhộng là pha yên tĩnh, không dinh dưỡng và thường không hoạt động. Trên cơ thể
nhộng có các đặc điểm hình thái giống với trưởng thành như vị trí và hình dạng của các phần
phụ của đầu (râu, phần phụ miệng, mắt kép), phần phụ ngực (mầm cánh, chân). Lỗ miệng và
lỗ hậu môn chưa có.
Hình 4.7 Các dạng ấu trùng của côn trùng 45
Dựa vào cách sắp xếp các phần phụ, người ta phân biệt nhộng của côn trùng thành 2
loại là nhộng kín và nhộng hở.
+ Nhộng hở (nhộng trần) có các phần phụ của đầu, ngực nằm tự do, không dính sát
mặt bụng và bên ngoài không có màng mỏng bao bọc. Ví dụ nhộng của tò vò, của ong, của
côn trùng cánh cứng.

thức ăn rắn hay dùng hàm trên làm nhiệm vụ bảo vệ.
Hình 4.8 Các kiểu nhộng của côn trùng 46
+ Hàm dưới nằm sau hàm trên, có phân đốt như sau: đốt gốc (cardo), đốt ngọn (stipes),
phần ngọn mang xúc biện hàm (palpus maxillaris), tấm nghiền ngoài (lacinia hay lobus
internus) và tấm nghiền trong (galea hay lobus externus). Tấm nghiền trong là mảnh kitin
cứng, nhọn và sắc có nhiều răng nhỏ. Tấm nghiền ngoài là mảnh kitin mềm có lông bao phủ.
Xúc biện hàm dưới có cấu tạo phân đốt và số đốt thay đổi ở các nhóm côn trùng khác nhau.
+ Môi dưới nằm ở mặt dưới lỗ miệng do đôi hàm dưới thứ 2 dính lại với nhau, có cấu
tạo phân đốt gồm đốt ngọn cằm hay cằm phụ (submentum) do 2 đốt gốc dinh lại, đốt cằm
(mentum) do 2 đốt ngọn dinh lại với nhau, Phần trên môi dưới có mang 1 đôi xúc biện môi
(palpus labialis) có 3 đốt, tấm lưỡi (glossa) ở ngoài và tấm bên lưỡi (paraglossa)ở ngoài. Phần
bên của tấm bên lưới và tấm lưỡi dính lại với nhau để tạo thành phần trước cằm (prementum).
+ Tấm dưới lưỡi nằm trong xoang miệng, dính ở phần giữa môi dưới. Cấu tạo hình túi,
phần gốc hẹp, phần đỉnh rộng. Trên tấm dưới hầu có lỗ thoát của tuyến nước bọt. Khi ăn, côn
trùng dung hàm trên và tấm nghiền trong để bắt thức ăn, dùng tấm nghiền ngoài để giữ mồi,
sau đó hàm trên hoạt động nghiền và nhai mồi. Tấm cằm và trước cằm che kín cả phía sau
vòm miệng, tấm môi dưới làm nhiệm vụ giữ thức ăn không cho lọt ra ngoài (hình 4.9).
3.2 Phần phụ miệng kiểu dẫn ở ruồi
nhà
+ Miệng của ruồi nhà (Musca
domestica) là một vòi ngắn, mập gồm
2 phần là gốc vòi và thân vòi. Gốc vòi
ở dưới đầu, hình chóp cụt, phía trước
có đôi xúc biện hình thuỳ, không phân
đốt có nhiều lông. Vòi do cằm trước
môi dưới biến đổi thành. Mặt trước có
lòng máng sâu chứa các phần khác của

ống. Khi không hoạt động thì vòi cuộn lại nhiều vòng dưới đầu, còn khi hoạt động, máu dồn
về xoang ở thành máng và đẩy vòi duỗi thẳng ra.
+ Môi trên và môi dưới tiêu giảm gần hết, chỉ còn lại hai mảnh nhỏ nằm ngang phía
trước và sau gốc vòi, tuy nhiên xúc biện môi dưới vẫn phát triển bình thường (hình 4.12).
3.4 Phần phụ miệng chích hút của muỗi
Hình 4.11 Phần phụ miệng liếm hút của ruồi nhà
Hình 4.10 Cấu tạo tổng quát phần phụ
miệng kiểu liếm hút của ruồi nhà
Hình 4.12 Phần phụ miệng kiểu vòi hút của bướm
A và B Nhìn tổng quát; C. Lát cắt ngang qua vòi
A
C
B 48
Phát triển ở côn trùng hút máu động vật hay hút nhựa cây như muỗi, rệp giường, bọ
xít Chúng đều có đặc điểm cấu tạo là tất cả các phần đều biến đổi thành các kìm nhọn và
hợp lại thành bộ phận chích (vòi). Ở muỗi phần phụ miệng có cấu tạo như sau:
+ Môi trên biến đổi thành tấm mảnh, dài hình lòng máng úp lên môi dưới. Hàm trên
nằm dưới môi dưới và biến đổi thành 2 kìm nhọn, dài, vuốt nhọn phía sau. Cơ quan hút máu
của muỗi là tấm dưới hầu, biến đổi thành kim nhọn, bên trong có ống dẫn, trên đỉnh có lỗ
thoát của tuyến nước bọt.
+ Hàm dưới mất cấu tạo phân đốt hoàn toàn, biến đổi thành 2 kim chích có răng cưa ở
đỉnh (thực chất là do 2 tấm nghiền ngoài biến đổi thành, còn tấm nghiền trong tiêu giảm) Gần
gốc của kim chích có xúc biện hàm dưới 4 đốt.
+ Môi dưới kéo dài tạo thành hình lòng máng quay lên cùng môi trên tạo thành bao
chứa tất cả các phần của miệng. Đỉnh của môi dưới chẻ ra thành 2 thuỳ cảm giác.
Như vậy phần phụ miệng của muỗi gồm 2 lòng máng úp vào nhau (môi trên và môi
dưới) tạo thành ống đựng 5 kim chích (1 do tấm dưới hầu, 2 do hầm trên và 2 do hàm dưới

49
của động vật có xương sống. Sau đốt
chuyển là đốt đùi, dài mập và hơi vuốt nhỏ
về phía cuối. Tiếp theo là đốt ống, nhỏ hơn
đốt đùi nhưng dài hơn và có nhiều gai bất
động (spinae) (hình 4.14).
Cuối đốt chân còn có một gai lớn
khớp động gọi là cựa (calcaria). Bàn chân
của gián nhà có 5 đốt, đốt cuối có đôi có
đôi vuôt (clavus) khớp động thường chĩa
ra hai bên. Giữa 2 vuốt có tấm đệm chính (empodium) và 2 tấm đệm bên (pulvilius). Ở một số
côn trùng khác còn có thêm phần phụ khác là arolium (như ở ong). Nhờ có vuốt mà côn trùng
có thể bám trên giá thể, còn nhờ có tấm đệm mà côn trùng có thể bò hay bám trên các giá thể
dựng đứng (hình 4.15).

+ Các kiểu chân của côn trùng: Trên đây là cấu tạo điển hình của một chân kiểu chạy.
Chân côn trùng biến đổi các phần để thích nghi với hoạt động sống. Nhìn chung chân của côn
trùng dùng để chuyển vận (chạy, nhảy, bò, bơi ). Tuy nhiên không thể có một kiểu cấu tạo
như nhau mà chúng có thay đổi các phần cấu tạo để thực hiện chức phận tốt hơn. Căn cứ vào
chức phận có thể chia cấu tạo chân côn trùng thành các dạng chủ yếu sau:
- Chân kiểu chạy (pedes cursorii): Các bộ phận của chân đều phát triển kéo dài, các đốt

mép có một phiến cuticun mỏng nhô lên như một lưỡi trai nhỏ và một hàng lông ngắn. Đối
diện với mép trước của khuôn ép phấn là hàng lông thô, cứng, nằm ở mép sau của đốt ống là
bàn nạo phấn. Khi hoạt động nạo phấn, phấn hoa trên bàn chải phấn sẽ được ép thành viên
nhỏ và dồn vào giỏ phấn. Hai chân thay nhau dồn ép phấn hoa từ bàn chải vào giỏ để mang về
- Chân chải râu: Chức phận chính là cọ rửa râu. Gốc đốt bàn chân trước của ong mật có
một hốc tròn hở, bên trong có lông mịn, trên có một hai hai phiến nhỏ khớp với ngọn đốt ống
có thể chuyển động. Chân trước kéo râu lọt vào hốc và hai phiến nhỏ của đốt ống đậy lại và
râu được chải khi kéo qua hốc khép kín (hình 4.16). Hình 4.16 Các kiểu chân của côn trùng 51
- Chân bám: Chân cà niễng đực có 3 đốt bàn chân đầu tiên dẹp và tròn, mặt trong có
nhiều lỗ nhỏ và 2 lỗ lớn ở trên, miệng lỗ có vành cao giống như trôn chén. Chất bám dinh
được tiết ra từ lỗ này sẽ giúp cho con con đực bám vào lưng con cái khi hoạt động giao phối
hay giữ mồi.

lối sống định cư của trai.
+ Kỹ thuật sưu tầm, quan sát và giải phẫu các động vật Chân bụng và Hai mảnh vỏ.

II. Mẫu vật, dụng cụ và hoá chất cần thiết
1. Mẫu vật
1.1 Ốc nhồi (Pila polita):
Thường sống ở ao hồ và đồng ruộng, nhiều nhất là ở các ao, hồ có thả sen hay súng.
Chúng thường bò trên rong, bùn, ăn thực vật thối rữa và nổi lên mặt nước để thở. Có thể mò
ốc bằng tay. Khi trời lạnh giá hay nóng bức, ốc nhồi thường nổi lên mặt nước nên có thể dùng
vợt để vớt (chú ý sáng sớm ốc ăn gần bờ, chỗ cạn, trưa và chiều thường ở xa bờ và chỗ sâu).
Muốn bắt được nhiều ốc thì có thể thả xác thực vật thối rữa xuống ao hồ, để qua đêm và lượm
ốc vào sáng hôm sau. Cũng có thể mua ốc nhồi ở các chợ.
Để chủ động mẫu, có thể nuôi ốc trong các bể sạch mực nước sâu 7 - 8cm, đáy cát sạch
và thả rong đuôi chó, bèo cái. Cần đậy bể nuôi kín đẻ tránh óc bò ra ngoài và không bị chuột
ăn ốc. Cho ăn bằng thức ăn là cám, cơm, thay nước 3 - 4 ngày/lần. Do khả năng chịu hạn giỏi
nên cũng có thể bỏ ốc và giỏ trên gác bếp để dùng làm mẫu thực hành.
1.2 Ốc sên (Achatina fulica):
Là loài động vật thân mềm sống trên cạn trong các vườn cây quanh nhà. Hàng năm vào
tháng ba là mùa họat động cũng là mùa sinh sản mạnh. Chúng thường họat động vào ban đêm,
ban ngày chúng ẩn náu trong các hang hốc và treo lơ lửng bụi cây. Do vậy việc thu thập mẫu
vật vào thời kỳ này không có khó khăn gì.
Nuôi ốc sên trong bể cạn có trồng cây xanh, cỏ làm thức ăn cho ốc sên
1.3 Trai nước ngọt (Sinanodonta jourdyi):
Trai nước ngọt thường sống ở các thủy vực nước ngọt có đáy cát hay bùn. Chúng
thường vùi mình trong cát hoặc bùn, chỉ để lộ 2 xiphông ở cuối cơ thể. Có thể bắt trai ở các
thủy vực trên hay mua ở chợ. Sáng sớm có thể dò theo vết "đường cày" trên cát để bắt trai.
Nuôi trai trong bể nuôi hay chậu thuỷ tinh, có đáy cát 10cm, bùn non. Cho ăn cám
rang, thuỷ tao rận nước, ngày thay nước một lần và có sục khí. Thả thêm bèo, rong vào bể.
2. Hoá chất
Cồn, chất màu và chất gây mê (chi tiết tuỳ theo đối tượng nghiên cứu)

một đường dọc ở giữa đầu, từ phần đã cắt rời lên đến đỉnh đầu tới sát mép miệng (hình 5.1).
Lật mảnh áo đã cắt sang bên phải và ghim chặt vào chậu mổ. Đến đây đã có thể quan sát
được tim, phổi, tuyến Bojanus. Sau đó dùng kéo tiếp tục cắt bỏ màng bao nội quan ở phía
dưới và thành cơ thể ốc để có thể quan sát được hệ tiêu hóa, hệ sinh dục, tuần hoàn và thần
kinh.
1.3 Nội dung thực hành
a) Quan sát hình dạng ngoài
Vỏ của ốc nhồi nhẵn, bóng, màu xanh đen pha màu vàng, có 5 vòng xoắn, vòng xoắn
thứ 5 có miệng vỏ nên rất lớn. Vỏ có vòng xoắn thuận. Nắp miệng vỏ bằng tấm sừng, hơi dài,
tâm hơi lệch về một bên. Khi ốc thò đầu ra khỏi vỏ ta thấy ở giữa là thùy miệng, hai bên là
Hình 5.1 Đường mổ ốc 54
xiphông, ống bên trái rất lớn thông với xoang phổi được gọi là ống hút (hút nước vào). Còn
ống bên phải nhỏ hơn, thông với xoang mang được gọi là ống thoát (thải nước ra). Có nếp da
bao quanh miệng kéo dài thành mấu lồi, phía ngoài mấu lồi này là 2 tua đầu, khi vươn ra có
thể dài tới 5cm. Gốc của tua cảm giác có 2 mắt đính trên 2 cuống ngắn.
Phía dưới phần đầu là phần chân, có rãnh dọc chia chân thành 2 mảnh. Khi di chuyển,
chân thường bè rộng đẩy nắp miệng về phía sau.
Tiếp theo là phần áo: Cửa áo nằm ngay trên miệng và chạy từ trái sang phải. Bề mặt của
áo cũng như toàn thân ốc nhồi luôn có một lớp chất nhầy. Bên trong là xoang áo. Bên phải áo
có lỗ sinh dục cái hay cơ quan giao phối nếu là ở con đực và hậu môn. Bên trái áo có cơ quan
cảm giác hóa học osphradi, đó là một mấu lồi ngắn màu vàng nhạt.
b) Nghiên cứu nội quan
+ Phần lớn nội quan nằm ở vòng xoắn cuối. Qua lớp màng mỏng có thể phân biệt được
một số cơ quan như: khối gan - tụy có màu vàng xen lẫn với màu xanh đen; dạ dày màu đỏ
nằm trong khối gan tụy; đơn thận màu đen, phủ một đoạn ruột; con cái có tuyến anbumin màu
vàng; bao tim ở gờ bên trái; ống dẫn sinh dục (đực hay cái) ở bên phải (hình 5.2).
+ Hệ tiêu hóa:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status