69
Dọc trên lưng phần sau có hai vây lưng, vây trước nhỏ, vây sau lớn và nối tiếp với vây
đuôi nhỏ. Vây đuôi không phân thùy, khá tròn đều, các tia đối xứng hai bên trụ sống đặc
trưng của kiểu đuôi nguyên vĩ. Đây là kiểu đuôi nguyên thủy nhất là nguồn gốc của 3 kiểu
còn lại ở cá sụn và cá xương.
Cuối phần thân ở mặt dưới có lỗ hậu môn, phía sau có núm niệu sinh dục nhỏ. Hai bên
đầu và thân có cơ quan đường bên là những ống nhỏ nằm dưới da và thông với bên ngoài qua
những lỗ nhỏ.
Da trần có phủ một lớp nhày do tuyến nhày tiết ra. Các cơ thân và đuôi gồm nhiều khúc
hình chữ Z xếp lồng vào nhau. Đó là hiện tượng phân đốt của cơ. Giữa các tiết cơ là vách cơ,
có thể quan sát được khi cá được lột da.
3.2 Quan sát cấu tạo nội quan
Quan sát các lát cắt của cá Miệng tròn cho thấy :
Trên cùng là da bao phủ toàn bộ cơ thể. Dưới da là tầng cơ. Tiếp dưới tầng cơ là tổ chức
liên kết.
Trên lát cắt dọc (hình 6.10) có thể dễ dàng quan sát được:
a) Hệ thần kinh
Hệ thần kinh của cá Miệng tròn là một ống dài nằm trong bao liên kết.
Phía trước ống thần kinh là não bộ (hình 6.11) và phần sau là tủy sống. Não bộ còn rất
nguyên thủy nhưng cũng phân ra các phần: Não trước, não trung gian, não giữa, tiểu não và
hành tủy. Các phần của não bộ chưa phân biệt rõ ràng. Chúng đều nằm trên một mặt phẳng vì
chưa có hiện tượng uốn khúc não. Có thể thấy thùy khứu giác khá lớn nằm phía trước bán cầu
não trước. Sau đó là não trung gian bị kẹp chặt vào giữa hai bán cầu não trước. Mặt trên não
trung gian có cơ quan đỉnh và mấu não trên. Nhưng hai bộ phận này rất nhỏ và khó quan sát.
Mặt dưới não trung gian có phễu não hình vòm gắn với mấu não dưới, là một tuyến nội
tiết và là nơi xuất phát của các dây thần kinh não. Não giữa phát triển chưa đầy đủ, ở nóc lỗ
hổng phủ màng biểu mô. Tiểu não chỉ là nếp thần kinh mỏng nằm sau não giữa. Hành tủy lớn
chiếm gần một nửa chiều dài não bộ.
b) Bộ xương
Hình 6.10. Lát cắt dọc cá Bám
Tiếp sau miệng là hai ống
là ống tiêu hoá và ống hô hấp
(ống nhỏ và dài ở phía trên là
ống tiêu hoá, ống lớn ngắn phía
dưới là ống hô hấp).
Phần đầu ống tiêu hóa là
thực quản dẫn đến dạ dày chưa
phân hóa, là đoạn ruột trước có
kích thước lớn hơn đoạn ruột sau
một chút. Sau dạ dày đến ruột
thẳng và dẫn ra ngoài qua lỗ hậu
môn nằm ở mặt bụng. Tuyến tiêu hóa là gan lớn hình túi, nằm phía dưới dạ dày và tụy phân
tán ở thành ruột (hình 6.10).
d) Hệ hô hấp
Cơ quan hô hấp là ống hô hấp nằm phía dưới ống tiêu hóa. Ống này có đầu trong bịt
kín, được hình thành từ phần trước của hầu. Hai bên thành của ống có bảy đôi lỗ túi mang
Hình 6.11 Cấu tạo não bộ của cá Bám
I. Mặt trên; II. Mặt dưới
1. Bán cầu não; 2. Thuỳ khứu giác;
3. Dây khứu giác; 4. Não trung gian;
5 6. Hạch habenula; 7. Cơ quan đỉnh;
8. Dây thị giác; 9. Phễu não; 10. Thuỳ thị
giác; 11.Lỗ thủng nóc; 12. Dây não giữa;
13. Dây vận nhỡn; 14. Dây sinh ba;
15. Dây thíng giác; 16. Hành tuỷ; 17. Hố
trám; 18. Tiểu não thô sơ
Hình 6.12 Sọ và xương tạng của cá Bám
1. Dây sống; 2. Cung trên; 3. Hộp sọ; 4. Sụn nóc sau; 5. Túi khứu giác; 6. Túi
thính giác; 7. Sụn vòng; 8. Sụn nóc trước; 9. Sụn bên trước; 10. Sụn bên sau;
11. Sụn dưới lưỡi; 12. Sụn que; 13. Sụn lẻ dưới; 14. Cung mang; 15. Dải sụn
dục, đổ ra ngoài qua lỗ niệu sinh dục ở đầu núm niệu sinh dục.
Cơ quan sinh dục là một buồng trứng hay một tinh hoàn không có ống dẫn (hình 6.14B).
Hình 6.13 Tuần hoàn của cá Bám
1 - 2. Động mạch tới và rời mang; 3. Động mạch rời mang của nửa mang trái; 4. Động mạch đuôi; 5 - 6. Động mạch cảnh
ngoài và trong; 7. Động mạch phân đốt; 8. Động mạch mạc treo; 9. Ống liên hệ; 10 - 11. Động mạch chủ lưng và bụng;
12. Động mạch bụng; 13. Động mạch gan; 14. Tâm thất; 15. Bầu chủ động mạch; 16. Xoang tĩnh mạch; 17. Tâm nhĩ; 18-
19. Tĩnh mạch chính trước và sau; 20. Tĩnh mạch đuôi; 21. Tĩnh mạch gan; 22. Tĩnh mạch dưới ruột; 23. Tĩnh mạch cảnh
đuôi
72
Lớp Cá sụn Chondrichthyes
Nhóm Có hàm Gnathostomata
Ngành phụ Có sọ Craniota
Hay ngành phụ Có xương sống Vertebrata
Ngành Có dây sống Chordata
2. Dụng cụ và mẫu vật
- Hộp đồ mổ
- Chậu mổ
- Ván mổ
- Khăn lau tay
- Kim găm
- Cá Nhám tươi ướp lạnh hay đã ngâm trong formalin
- Các tranh vẽ: Hình dạng ngoài, cấu tạo nội quan, sơ đồ hệ tuần hoàn, não bộ, hệ niệu
sinh dục cá Nhám.
3. Kỹ thuật giải phẫu
Trước khi giải phẫu để quan sát hệ cơ, ta dùng dao rạch một hình chữ nhật có kích
thước 3cm x 4cm ở bên thân cá. Sau đó dùng kẹp nâng lên rồi lấy mũi dao lột bỏ mảng da đó
sẽ thấy cách sắp xếp cơ của cá Nhám. Cơ của cá nhám phân đốt, các đốt cơ hay tiết cơ xếp
theo hành chữ “S” hơi thẳng. Các tiết cơ nằm song song với nhau và được ngăn cách bởi các
vách cơ (hình 7.1).
Hình 7.1 Đường mổ cá nhám tro
74
Sau khi đã quan sát hình dạng ngoài và hệ cơ ta tiến hành mổ cá. Dùng dao cắt bỏ bớt
phần cơ lưng con vật rồi đặt ngửa cá trong chậu mổ. Dùng dao rạch ngang một đường 0,5cm
ở dưới vây lưng một chút. Lấy kẹp nâng da và cơ bụng lên. Dùng kéo lớn cắt theo đường mũi
tên lên đến qua đai ngực. Khi cắt chú ý không để kéo hướng sâu xuống sẽ dễ xuyên vào bụng
và cạm vào nội quan bên trong, nên cho kéo nằm ngang và cắt ít một (hình 7.1).
Tiếp tục dùng kéo cắt bỏ đai ngực và cắt dọc lên đến tận hàm dưới. Cắt sang hai bên, bỏ phần
cơ vùng ngực ta sẽ thấy nội quan bên trong xoang ngực. Chú ý trước khi gỡ phần này phải xác
8
Hình 7.2 Hình dạng ngoài của cá nhám
1. Mõm; 2. Lỗ mũi; 3. Lỗ thở; 4. Tia vây; 5. Vây lưng trước; 6. Vây lưng sau; 7. Vây đuôi; 8. Vây bụng; 9.
Vây ngực; 10 Các khe mang ngoài
75
Dùng kẹp mở miệng cá Nhám ta sẽ thấy có nhiều răng nhỏ nằm trong xoang miệng.
Răng có dạng hình côn nhọn hướng vào trong có nguồn gốc từ vẩy tấm. Xung quanh phía
trước miệng có nhiều chấm đen, xếp theo đường cong là cơ quan xúc giác, bao gồm nhiều ống
nhỏ bên trong chứa dịch.
b) Thân
Được giới hạn từ sau khe mang thứ năm đến phía trước lỗ hậu môn, được phủ bởi lớp
vẩy tấm. Cá Nhám có hai đôi vây chẵn là vây ngực và vây bụng nằm ở mặt bụng thân cá. Các
đôi vây chẵn đều xếp theo vị trí nằm ngang, thể hiện tính chất nguyên thủy của kiểu xếp vây.
Bờ trong mỗi bên vây bụng của cá đực có gai giao cấu do cơ vân biến đổi, là đặc điểm nổi bật
để phân biệt với cá cái.
Trên lưng cá Nhám có hai vây lưng. Vây lưng trước lớn nằm phía trước thân, vây lưng
sau nhỏ nằm ở ranh giới giữa đuôi và thân ở mặt lưng cơ thể. Vây lưng sau chưa có cấu tạo
điển hình mà chỉ là nếp da nhô lên, nên gọi là vây giả hay vây mỡ. Trung gian giữa thân và
đuôi là lỗ huyệt, là nơi đổ ra của các ống dẫn sinh dục, ống dẫn niệu và lỗ hậu môn (hình 7.2).
c) Đuôi
Có giới hạn trước là lỗ hậu môn, phía sau là mút đuôi cơ thể, được phủ vẩy tấm. Trên
phần đuôi có vây đuôi bao quanh. Vây đuôi có hai thùy. Phía trên là thùy lưng lớn, phía dưới
thùy bụng nhỏ. Vây đuôi cá Nhám cấu tạo theo kiểu dị vĩ để thích nghi với việc bơi nhanh
trong tầng nước. Mặt dưới đuôi là vây hậu môn lẻ.
Dọc hai bên thân cá có hai hàng chấm nhỏ. Đó là cơ quan đường bên. Cơ quan này còn
phân bố ở vùng đầu, quanh mắt dưới dạng những đường cong phức tạp (hình 7.2).
4.2 Quan sát cấu tạo trong
4.2.1 Cấu tạo nội quan
a) Cơ quan tiêu hóa
sẽ thấy tâm nhĩ có thành mỏng hơn. Tâm thất hình chóp có thành dày, đỉnh nhọn hướng về
phía trước. Côn chủ động mạch có dạng hình chóp nằm phía trước tâm thất, được xem là một
phần của tâm thất phân hóa thành, có van và có thể co bóp để cho máu chảy theo một chiều.
+ Từ côn chủ động mạch phát ra động mạch chủ bụng đi lên phía trước. Từ động mạch
chủ bụng phát ra bốn đôi gốc động mạch tới mang. Động mạch tới mang trên cùng chia làm
hai nhánh đi vào hai cung mang đầu tiên (I) và (II). Nhánh trên cùng phát ra hai nhánh nhỏ là
động mạch dưới lưỡi đi tới cung dưới lưỡi. Các gốc động mạch còn lại đưa máu tới các cung
mang theo thứ tụ III, IV, V (hình 7.3).
c) Cơ quan hô hấp
Dùng kẹp mở rộng xoang miệng cá để quan sát ta thấy sau xoang miệng là hầu. Hầu
thủng thành năm đôi lỗ khe mang trong và thông với bên ngoài bởi năm đôi khe mang ngoài.
Cơ quan hô hấp của cá Nhám là mang. Cá Nhám có ba loại mang :
1
2
4
3
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
ống dẫn tinh có túi chứa tinh rất dễ bị rách khi cắt bỏ màng bụng.
+ Cá Nhám cái có hai buồng trứng dài màu vàng nhạt, nằm sát với thận. Hai ống dẫn
trứng chính là hai ống Mulle. Phần đầu ống này mở rộng thành phễu nằm ở xoang ngực. Phần
sau ống phình rộng thành tử cung có thể thấy rõ ở cá Nhám đang đẻ. Phần gốc tử cung hai bên
chập lại cũng đổ vào huyệt.
f) Hệ thần kinh
Dùng dao và kéo lột bỏ da đầu cá. Sau đó dùng mũi dao mở nóc hộp sọ, chú ý không
chọc sâu mũi dao sẽ làm nát não. Sau khi đã mở nóc sọ, dùng mũi kéo cắt hai bên sẽ thấy
được các phần của não bộ và vài đôi dây thần kinh.
Não cá Nhám gồm 5 phần kể từ trước ra sau:
+ Não trước gồm hai bán cầu não nhỏ, chưa tách biệt. Phía trước não có hai thùy khứu
giác khá phát triển liên hệ với bao khứu giác nhờ đôi dây thần kinh khứu giác là đôi dây thần
kinh số I.
+ Não trung gian nằm sau não trước. Mặt lưng hoàn toàn bị che khuất. Mặt bụng có thể
xác định được nhờ gốc đôi dây thần kinh thị giác. Bóc màng não mỏng sẽ thấy não thất ba là
một túi rỗng. Nóc não trung gian có mấu não trên.
+ Não giữa nằm ngay sau não trung gian, gồm hai thùy thị giác khá phát triển. Xoang
bên trong là rãnh Sylvius.
+ Tiểu não là khối lớn phân thùy. Tiểu não là trung khu điều khiển hoạt động vận động
thứ cấp nên khá phát triển do cá Nhám hoạt động tích cực trong tầng nước. 78
+ Hành tủy phía trên có hố trám. Trên hố trám là não thất tư được che phủ bởi túi mạch
(plexus chorioideus). Từ hành tủy phát ra nhiều đôi dây thần kinh đi tới các cơ quan hô hấp,
tuần hoàn, tiêu hóa và cảm giác (hình 7.4).
Phần cuối hành tủy liên hệ với tủy sống. Nóc não cá Nhám đã có chất thần kinh. Trục
não có hiện tượng uốn khúc. Đó là hai đặc điểm tiến bộ của hệ thần kinh cá Nhám.
4.2.2 Bộ xương cá Nhám
Phía sau hộp sọ có lỗ chẩm lớn là nơi hành tủy thông với tủy sống. Hai bên lỗ chẩm có
hai lỗ nhỏ là nơi đi ra của đôi dây thần kinh mê tẩu. Phía dưới là lỗ thần kinh lưỡi hầu.
Sọ tạng: Gồm một dãy đôi cung sụn bao quanh phần đầu ống tiêu hóa (vùng miệng
hầu). Có bảy đôi cung sụn chia ba loại là cung hàm, cung móng, cung mang.
Cung hàm: Là cung lớn nhất bao quanh miệng, gồm hai phần. Phía trên là sụn khẩu cái
vuông làm nhiệm vụ hàm trên. Phía trước có mấu khẩu cái nhô lên và được treo vào hộp sọ
bởi dây chằng. Thân sau là nơi khớp với hàm dưới. Phần dưới cung hàm là sụn Mecken khớp
với sụn khẩu cái vuông ở phía sau, làm nhiệm vụ hàm dưới. Phía sau sụn Mecken nối với sụn
móng hàm nhờ tổ chức liên kết (hình 7.5).
Trên cung hàm có hai đôi sụn môi. Đôi thứ nhất ở phía trước sụn khẩu cái vuông, gồm
hai que sụn nhỏ nằm trên đôi sụn này. Đôi thứ hai nằm sát khớp sụn khẩu cái vuông và sụn
Mecken, mỗi sụn gồm hai que sụn nhỏ: Một nằm trên sụn khẩu cái vuông và một nằm trên
Hình 7.5 Sọ cá nhám
1. Sụn mõm; 2. Bao khứu giác; 3. Dây chằng; 4. Sụn khẩu cái vuông; 5. Sụn môi; 6. Sụn mecken; 7. Lỗ dây
sinh ba; 8. Lỗ dây ròng rọc; 9. Lỗ dây thị giác; 10. Lỗ dây vận nhỡn; 11. Lỗ nhánh thị giác sâu; 12. Dây sinh
ba; Sụn móng hàm; 14. Sụn móng; 15. Que sụn mang; 16. Sụn ngoài; 17. Sụn hầu mang; Sụn trên; 19. Sụn
sừng mang; 20. Sụn móng
80
sụn Mecken. Vì vậy, về giải phẫu so sánh, giải thích cung hàm bắt nguồn từ cung tạng III.
Sụn môi là đặc trưng cho cá sụn.
Cung móng: Còn gọi là cung dưới
lưỡi, gồm hai đôi sụn chẵn và một sụn lẻ.
Sụn móng hàm chẵn, nằm phía trên gắn vào
hộp sọ, tạo nên kiểu treo hàm hyoxtin. Sụn
móng chính thức cũng là sụn chẵn nằm dưới
sụn móng hàm. Sụn gốc lưỡi là sụn lẻ còn
gọi là sụn tiếp hợp nối hai bên với sụn móng
chính thức. Sụn này có dạng hình tam giác
nhưng đỉnh không nhọn, là sụn nâng đỡ lưỡi
thần kinh; 5. Thân đốt
II. Đốt sống phần đuôi: 1. Gai sống; 2. Cung thần kinh; 3. Thân đốt;
4. Lỗ động mạch đuôi; 5. Lỗ tĩnh mạch đuôi; 6. Gai huyết
Hình 7.6 Sọ tạng cá nhám (nhìn phía dưới)
81
khỏi thân đốt. Mặt lưng cung thần kinh có gai thần kinh. Giữa cung thần kinh là lỗ tủy, nơi đi
qua của tủy sống. Hai bên thân đốt, gần mặt bụng là nơi đi ra của đôi mấu ngang. Đầu mấu
ngang có đính sườn (hình 7.7).
Các sống đuôi khác đốt sống thân là không có mấu ngang. Mặt dưới thân đốt có cung
huyết tạo nên ống huyết để động mạch và tĩnh mạch đuôi đi qua. Mặt bụng cung huyết là gai
huyết (hình 7.7).
- Xương chi: Cá Nhám có hai loại vây là vây lẻ và vây chẵn.
Vây lẻ: Bao gồm vây lưng, vây đuôi và vây hậu môn. Các vây này gắn với bộ xương
bởi những hàng tia sụn, vây lưng và vây hậu môn có ba hàng, vây đuôi chỉ có một hàng. Bên
ngoài là tia da (hình 7.8).
Vây chẵn: Là vây ngực và vây bụng. Vây chẵn được gắn với bộ xương đai.
+ Đai ngực là cung sụn bao quanh phần ngực. Mỗi bên đai ngực gồm hai phần : trên là
phần bả, dưới là phần quạ .
+ Chi tự do vây ngực gồm ba tấm sụn gốc nối với đai. Bên ngoài các tấm sụn gốc là ba
hàng sụn tia. Ngoài cùng là tia da (hình 7.9).
+ Đai bụng chỉ là tấm sụn lẻ. Vây bụng tự do gồm hai tấm sụn gốc gắn với đai. Bên
ngoài là hai hàng sụn tia. Ngoài cùng là tia da. Mép trong vây bụng của cá Nhám đực có gai
giao cấu.
Họ Cá Chép Cyprioidea
Bộ phụ Cá Chép Cyprinoidae
Bộ Cá Chép Cypriniformes
Tổng bộ Cá xương Teleostei
Lớp phụ Cá vây tia Actinoptrygii
Lớp Cá xương Osteichthyes
Nhóm Có hàm Gnathostomata
Ngành phụ Có sọ Craniota
hay ngành phụ Có xương sống Vertebrata
Ngành Có dây sống Chordata
2. Phương pháp giải phẫu
Cầm ngửa cá lên tay trái. Dùng kéo cắt một đường từ lỗ huyệt lên đến góc mang. Sau đó
cắt vòng bên thân từ lỗ huyệt lên đến phía trên hộp mang theo đường mũi tên. Chú ý không
chọc sâu mũi kéo tránh làm hỏng nội quan bên trong. Dùng dao lược bỏ bớt phần cơ lưng đến
sát gai thần kinh.
3. Nội dung nghiên cứu
3.1. Quan sát hình dạng ngoài
Cá chép có cơ thể hình thoi chia làm ba phần: đầu, thân và đuôi (hình 7.10).
a) Đầu
Được giới hạn từ sau khe mang trở về trước. Mút trước của đầu là miệng có hình bán
nguyệt. Quanh miệng có nếp môi trên và nếp môi dưới. Bên miệng có hai đôi râu là cơ quan
xúc giác của cá Chép. Mắt cá tròn, không mí nằm hai bên đầu. Trước mắt, phía trên miệng là
đôi lỗ mũi thông với xoang khứu giác. Trong lỗ mũi có van mũi ngăn đôi. Sau mắt, ở hai bên
đầu là hộp mang che các cung mang nằm bên trong. Sau hộp mang là khe mang. Viền quanh
hộp mang ở khe mang là nếp da mỏng đóng vai trò quan trọng trong động tác hô hấp.
b) Thân
Từ sau khe mang đến trước lỗ huyệt. Trên thân phủ lớp vẩy xương tròn. Dọc hai bên
thân có cơ quan đường bên là hai hàng chấm chấm chạy từ khe mang đến tận đuôi. Số vẩy của
cơ quan đường bên cũng như số vẩy một hàng thẳng đứng với trục cơ thể phía trên và phía
dưới cơ quan này có ý nghĩa quan trọng trong phân loại cá. Phía sau lưng thân cá có vây lưng.