111
nên hình chữ “Z” ngược, năng đỡ cơ thể chim khi bay và tham gia vào các động tác
khởi động trước khi bay của chim.
- Sọ chim thuộc kiểu sọ hai hố thái dương và chỉ còn lại cung thái dương dưới.
Gốc sọ có một lồi cầu chẩm như các loài bò sát.
3.2 Mẫu vật, dụng cụ để nghiên cứu bộ xương Bồ câu
- Bộ xương chim Bồ câu nguyên vẹn làm sẵn
- Bộ xương chim Bồ câu làm sẵn tháo rời
- Các đốt sống cổ
- Kim mũi nhọn và kim mũi mác để chỉ xương
- Tranh vẽ:
+ Bộ xương chim bồ câu .
+ Cấu tạo các đốt sống của chim.
+ Cấu tạo xương đai và xương chi của chim Bồ câu.
3.3 Nội dung
3.3.1 Quan sát xương đầu
a) Hộp sọ
Có thể phân hộp sọ thành năm vùng:
1) Vùng chẩm: Là thành sau của hộp sọ (occipitalea), được tạo nên do bốn
xương chẩm ghép lại. Chính giữa có một lỗ chẩm. Dưới là xương gốc chẩm, hai bên
là hai xương cánh chẩm. Hai xương này cùng với xương gốc chẩm tạo nên một lồi cầu
chẩm.
2) Vùng nóc: Được phủ bởi hai xương đỉnh nằm ở phía sau thành vòm sọ.
Trước xương đỉnh là đôi xương trán dài, là phần chủ yếu của nóc sọ. Hai bên xương
trán tạo thành trên ổ mắt. Trước xương trán là đôi xương mũi nằm phía trước ổ mắt.
Mỗi xương mũi có đôi mấu lồi ra trước giới hạn phần sau phía trên và lỗ mũi.
3) Vùng bên: Phía ngoài xương bên chẩm, dưới xương trán là đôi xương vảy có
mấu nhô ra phía trước và hơi chếch xuống dưới, giới hạn một phần thành sau ổ mắt.
Giới hạn này chủ yếu là xương cánh bướm. Vách ngăn giữa hai ổ mắt là xương ổ mắt
bướm ở phía sau và xương sàng phía trước. Thành bên sọ, phía trước ổ mắt là xương
Hình 9.11 Hộp sọ bồ câu
I. Nhìn bên; II. Nhìn dưới; III. Nhìn trên
1. x. đáy chậu; 2. x. bên chẩm; 3. Lồi cầu; 4. Lỗ chẩm; 5. x. trên chẩm; 6. x. tai; 7- 8. x. bướm; x. 9 -
10. x. ổ mắt; 11. vách giữa 2 ổ mắt; 12. x. sàng; 13. x. đỉnh; 14. x. trán; 15. x. mũi; 16. x. lệ; 17. x.
trước hàm; 18. x. hàm trên; 19. x. má; 20. x. vuông - má; 21. x. vảy; 22. x. vuông; 23. x. lá mía; 24. x.
cánh; 25. x. khớp; 26. x. răng; 27. x. góc 113
Phần còn lại là sọ tạng (cung móng và cung mang) đã tiêu giảm. Phần móng hàm
chuyển vào tai giữa hình thành xương bàn đạp giữ chức năng thính giác như các động
vật có xương sống ở cạn. Các phần khác tạo bộ máy dưới lưỡi của chim.
3.3.2 Quan sát cột sống
Cột sống chia làm bốn phần cổ, ngực, chậu và đuôi (hình 9.12).
114
3.3.3 Quan sát xương đai và chi
a) Đai vai
Xương bả hình kiếm chạy dọc cột sống. Xương quạ hình ống tương đối lớn.
Một đầu xương quạ khớp với xương ức, đầu kia khớp với xương bả và xương đòn.
Xương đòn mảnh, hợp lại thành hình chữ “V” có tác dụng như cái “ZIP” đóng góp
vào động tác nâng cánh của chim.
b) Chi trước
Ở Bồ câu và các loại chim bay chi trước biến đổi thành cánh bao gồm các phần
điển hình của chi trước động vật có xương sống trên cạn nhưng có nhiều thay đổi,
nhất là phần cổ bàn.
+ Xương cánh tay có đầu gần khớp với đai vai đầu xa khớp với xương ống tay.
Ống tay gồm hai xương: Xương trụ lớn hơi cong nằm bên ngoài, xương quay nhỏ nằm
bên trong.
Phần cổ tay có xương cổ tay quay đã gắn với xương trung tâm. Xương cổ tay trụ
gắn với xương centrale. Hai xương này khó nhận biết nhất là đối với xương chưa làm
sạch.
Tiếp đến là xương cổ bàn phức tạp là hai xương dài có thể đạt đến 2/3 chiều dài
xương ống tay. Xương bên ngoài lớn hơn và tương đối thẳng. Xương bên trong nhỏ,
mảnh hơn và hơi cong. Đầu gần xương cổ bàn phức tạp với hai xương nhỏ phần cổ và
xương ống tay. Bờ ngoài gốc xương cổ bàn phức tạp có ngón I một đốt. Đầu xa ngón
II gồm hai đốt là hai tấm xương. Tấm gốc có bờ trước dày, bờ sau mỏng. Tấm ngọn
hình tháp. Bên trong ngón II là ngón III chỉ gồm một đốt xương nhỏ.
c) Đai hông
+ Xương hông đã gắn chặt với các đốt sống phần chậu và các đốt đầu phần đuôi.
Xương háng mảnh kéo dài về sau và có đầu tự do. Xương ngồi đã gắn chắc với xương
hông không còn ranh giới. Đai hông hình thành do sự gắn liền của các xương đai và
cột sống phần sau ngực, phần chậu và phần trước đuôi tạo nên kiểu chậu tổng hợp. Hố
khớp hình thành do sự tham gia của cả ba xương đai hông, nghĩa là ranh giới của ba
hóa thích nghi với lối sống bay?
5. So sánh cấu tạo não bộ của chim Bồ câu với não bộ Thằn lằn bóng, từ đó thấy được
sự phát triển tiến hóa của hệ thần kinh của Chim so với Bò sát?
6. Anh (chị) hãy nêu các đặc điểm thích nghi với hoạt động bay của bộ xương chim
Bồ câu?
116
Bài 10.
Lớp Thú - Đại diện Thỏ nhà
I. Vị trí phân loại
Thỏ nhà Oryctolangus cuniculus
Họ Thỏ Leporidae
Bộ Thỏ Lagomorpha
Ngành phụ Có sọ Craniota
Hay Ngành phụ Có xương sống Vertebrata
Ngành Có dây sống Chordata
II. Mẫu vật, dụng cụ
- Thỏ sống
- Hộp đồ mổ
- Ván mổ lớn
- Dây gai để buộc chân Thỏ
- Khăn lau, bông thấm nước
- Tranh vẽ về nội quan:
+ Cấu tạo nội quan Thỏ
+ Sơ đồ hệ tuần hoàn thú
+ Cơ quan niệu sinh dục Thỏ
Miệng nằm ở bờ trước và hai bên phần mặt. Quanh miệng là môi. Bên trong miệng,
phía trước có đôi răng cửa và đôi răng cửa dưới. Đầu ngoài răng cửa vát nhọn và nhô ra trước.
Gốc trong của đôi răng cửa trên có răng nhỏ, là răng cửa phụ. Vì vậy người ta gọi Thỏ là bọn
răng cửa kép. Thỏ không có răng nanh và răng trước hàm trên nên hai hàm Thỏ có một
khoảng trống.
Hai bên mõm có nhiều lông dài làm nhiệm vụ xúc giác gọi là lông xúc giác. Trước mõm
có đôi lỗ mũi ngoài. Môi trên xẻ rãnh đến tận mũi. Mắt nằm ở hai bên đầu. Mắt Thỏ có ba mí:
mí trên, mí dưới và mí thứ ba bé ở góc trước của hai mắt gọi là màng nháy. Ở sau mắt là tai.
Tai Thỏ có vành tai rất phát triển (hình 10.1).
b) Cổ:
Ngắn, khá linh hoạt.
c) Thân:
Hình trụ, có hai đôi chi và
đuôi. Chi sau của Thỏ phát triển
mạnh hơn hẳn đôi chi trước, do
cách chuyển vận chủ yếu của Thỏ
là động tác nhảy. Chi kiểu năm
ngón điển hình, nhưng ở chi sau
ngón I tiêu giảm. Đầu ngón chân
có móng sùn nhưng cùn. Thỏ đi
kiểu nửa bàn, nghĩa là khi đi toàn
bộ ngón và một phần bàn chạm
đất.
Hình 10.1 Hình dạng ngoài của Thỏ
1. Tai; 2. Lông mi; 3. Mắt; 4. Miệng; 5. Cổ; 6. Chân trước; 7.
Bụng; 8. Bàn chân sau; 9. Chân sau; 10. Đuôi; 11. Lưng; 12. Lườn
118
Toàn thân Thỏ phủ lớp lông mao, mềm mại. Cũng như tất cả lông thú, lông Thỏ có hai
loại : lông phủ dài và dày bao bọc bên ngoài cho hình dáng của Thỏ, lông nệm ngắn và mềm
ra hai phần biệt lập, nửa trái chứa máu động mạch
và nửa phải chứa máu động mạch. Tim chia bốn
ngăn hoàn toàn. Các buồng tim cùng bên khác tên
thông với nhau bởi van nhĩ thất (hình 10.3).
+ Hệ mạch
Động mạch có thành dày và màu trắng. Tĩnh
Hình 10.2 Vị trí nội quan tự nhiên của Thỏ
1. Mấu xương ức; 2. Gan; 3. Dạ dày; 4. Manh
tràng; 5. Đoạn vòng lên của ruột già
119
mạch thành mỏng và màu thẫm. Cung chủ động mạch đi ra từ tâm nhĩ trái, vòng qua phế quản
và vòng về bên trái – là điểm đặc trưng của thú. Từ chỗ uốn cong của cung chủ động mạch
phát ra hai động mạch lớn là động mạch dưới đòn trái đi vào chi trước trái và động mạch
không tên hướng thẳng về phía trước và phân thành ba nhánh là các động mạch: dưới đòn trái
và hai động mạch cảnh trái phải đi lên cổ dọc hai bên khí quản.
Sau khi vòng về phía sau, cung chủ động mạch đi dọc cột sống gọi là động mạch chủ
lưng đi xuyên qua cơ hoành xuống dưới và phát nhánh tới các nôi quan như: động mạch mạc
treo ruột đưa máu tới dạ dày, ruột; động mạch thận đi vào thận; động mạch sinh dục đến nuôi
tuyến sinh dục. Động mạch chủ lưng tiếp tục đi xuống chia đôi thành động mạch chậu chung.
Đó là những động mạch thuộc vòng tuần hoàn lớn.
Vòng tuần hoàn nhỏ có động mạch phổi đi ra từ tâm thất phải, vòng về phía lưng của
cung chủ động mạch rồi tách ra hai nhánh đi vào hai là phổi.
máu từ đầu về và tĩnh mạch dưới
đòn đưa máu từ chi trước cùng bên
về. Tĩnh mạch lẻ phải nằm ở bên
phải cột sống trong lồng ngực nhận
máu các cơ gian sườn. Một số thú
còn có thêm tĩnh mạch lẻ trái hoặc
nhóm khác có cả tĩnh mạch lẻ phải
và tĩnh mạch lẻ trái. Các tĩnh mạch
lẻ này đều là di tích của tĩnh mạch
bên ở cá sụn. Máu tĩnh mạch phần
sau cơ thể theo các tĩnh mạch: tĩnh
mạch chậu trong, tĩnh mạch chậu
ngoài, tĩnh mạch đai chậu, tĩnh mạch
sinh dục… đổ vào tĩnh mạch chủ
sau. Tĩnh mạch chủ sau đưa máu về
tâm nhĩ phải. Đó là những tĩnh mạch
thuộc vòng tuần hoàn lớn (hình
10.3).
Thuộc vòng tuần hoàn nhỏ có
tĩnh mạch phổi mang máu từ phổi đã
oxy hóa trở thành máu động mạch
về tâm nhĩ trái. 120
2.3 Cơ quan hô hấp
+ Đường hô hấp bắt đầu từ lỗ mũi ngoài mở ra phía trước mõm, thông với xoang khứu
giác. Trong này có nhiều xương noãn phức tạp được bao phủ bởi màng nhày mà bên trong có
nhiều mao mạch giúp cho việc sưởi ấm không khí thở vào, đồng thời cản bụi đi vào đường hô
hấp. Xoang khứu giác thông với lỗ mũi trong hay lỗ khoan mở ra phía trên vòm miệng. Tiếp
tụy đổ vào phần sau ruột tá phía đầu ruột non (hình 10.3).
2.5 Cơ quan niệu sinh dục
+ Thận hình hạt đậu màu đỏ thẫm nằm sát thành lưng xoang cơ thể hai bên cột sống
121
vùng thắt lưng. Thận phải nằm cao hơn thận trái, quanh thận được bao bởi màng mỡ giúp cho
thận ở vị trí tự nhiên (hình 10.3).
Bờ trong thận có rốn thận phát ra ống dẫn niệu nhỏ màu trắng. Ống dẫn niệu hai bên đổ
vào bóng đái ở vùng chậu. Tuyến trên thận tròn nhỏ, màu vàng nằm ở ngã ba giữa động mạch
chủ lưng và động mạch thận.
+ Cơ quan sinh dục Thỏ đực (hình 10.4A) là đôi tinh hoàn hình bầu dục dài, màu trắng.
Tinh hoàn Thỏ non nằm ở phía lưng vùng chậu của xoang bụng. Giai đoạn trưởng thành, tinh
hoàn chui qua ống bẹn chuyển xuống bìu. Mặt lưng của mỗi tinh hoàn có phụ tinh hoàn. Phụ
tinh hoàn dẫn vào tinh quản là ống dẫn ngoằn ngoèo dẫn vào ống niệu sinh dục ở mặt lưng
bóng đái. Ống này sẽ dẫn đi vào dương vật.
+ Cơ quan sinh dục Thỏ cái là đôi buồng trứng (hình 10.4B) hình trứng dẹp, nhỏ, được
treo bởi mạc treo buồng trứng ở thành lưng xoang bụng. Noãn quản còn gọi là ống Fanlop
tương đồng với ống Mulle ở nhóm thấp. Đầu noãn quản có phễu nhỏ mở ra ở xoang bụng.
Gốc noãn quản phình rộng thành tử cung dẫn vào âm đạo theo hai lỗ riêng biệt. Âm đạo là
ống rộng đổvào xoang niệu sinh dục. Lỗ sinh dục cái là một khe rộng, xung quanh được bao
bởi nếp môi lớn. Trong khe đó có âm vật nhô ra, tương đồng với dương vật con đực nhưng
nhỏ hơn. Vì vậy khó phân biệt Thỏ đực hay cái lúc còn non.
2.6 Hệ thần kinh
Có thể dùng dao cắt rời đầu Thỏ phía dưới đầu 2 – 3 đốt sống cổ. Bóc da đầu để mổ sọ
Thỏ và quan sát (hình 10.5).
+ Não trước gồm hai bán cầu đại não phát triển khá mạnh. Phía trước hai bán cầu đại
não là đôi thùy khứu giác phát ra đôi dây thần kinh khứu giác – đôi dây I.
A
B
Tiểu não có cầu Varon. Hành tủy mặt dưới thấy rõ hơn, là nơi đi ra của phần lớn dây
thần kinh não. Từ não bộ phát ra 12 đôi dây thần kinh não (hình 10.5), cụ thể như sau:
* Đôi dây I – Thần kinh khứu giác đi ra từ thùy thị khứu giác đên xoang mũi.
* Đôi dây II – Thần kinh thị giác đi ra từ đáy não trung gian, có gốc bắt chéo tạo nên
giao thoa thị giác và đi vào đáy nhãn cầu.
* Đôi dây III – Thần kinh vận nhỡn trung đi từ cuống não đến cơ thẳng mắt.
* Đôi dây IV – Thần kinh cảm động đi ra từ phía trước mặt lưng hành tủy đến cơ chéo
ngoài của mắt.
* Đôi dây V – Thần kinh tam thoa (nervus trigeminus) đi ra từ mặt ngoài cầu Varon.
Mỗi dây chia thành hai rễ: Rễ ngoài lớn là rễ cảm giác, rễ ngoài nhỏ là rễ vận động.
* Đôi dây VI – Thần kinh vận nhỡn ngoài đi từ mặt bụng hành tủy sau cầu Varon đến
cơ thẳng ngoài mắt.
* Đôi dây VII – Thần kinh mặt đi từ mặt bụng hành tủy sau đôi dây V.
* Đôi dây VIII – Thần kinh thính giác đi từ phía sau đôi dây VII đến cơ quan thính giác.
* Đôi dây IX – Thần kinh lưỡi hầu đi ra từ phía sau đôi dây VIII đến vùng hầu và lưỡi.
* Đôi dây X – Thần kinh mê tẩu thấy ngay sau đôi dây IX phát nhiều nhánh đi các vùng
cơ thể như vùng hầu, cổ, ngực, bụng.
* Đôi dây XI – Thần kinh bổ huyết rất phát triển ở thú. Là đôi dây thần kinh được tách
từ đôi dây X. Vì vậy nên nó cũng có mặt ở nhiều nơi trong cơ thể.
* Đôi dây XII – Thần kinh dưới lưỡi xuất phát từ chỗ ranh giới hành tủy và tủy sống đi
vào cơ lưỡi và các cơ móng.
3. Nghiên cứu bộ xương
Để tiện nghiên cứu, người ta chia bộ xương của thỏ thành 3 phần chính là phần đầu,
phần cột sống và phần xương chi (hình 10.6).
hình thành từ xương vuông có dạng hình vuông, các cạnh hơi lõm vào, xương bàn đạp từ
xương móng hàm có dạng như cái bàn đạp để chân ở yên ngựa.
+ Vùng đáy: Phía sau cùng là gốc xương chẩm. Trước xương chẩm là xương gốc bướm.
Trước xương này là xương trước bướm. Hai bên xương trước bướm và xương gốc bướm là
xương cánh bướm gồm hai cánh. Cánh lớn phát triển từ xương gốc bướm. Cánh nhỏ phát triển
từ xương trước bướm. Phía trước xương bướm là xương lá mía (hình 10.7).
3.1.2 Sọ tạng
Sọ tạng ở thú đã tiêu giảm rất nhiều.
+ Hàm trên: Tận cùng là đôi xương gian hàm trên có răng cửa dài và hơi cong. Sau răng
cửa này có răng cửa phụ nhỏ nằm ngay phía sau gốc. Vì vậy Thỏ thuộc bọn có răng cửa kép.
Hai bên phía sau xương gian hàm là xương hàm trên. Mặt dưới xương hàm trên có một
khoảng trống không có răng. Sau khoảng trống là sáu răng hàm.
Sau xương hàn trên là đôi xương cánh. Đôi xương khẩu cái nằm giữa đôi xương hàm
trên ở phía sau. Đôi xương hàm này cùng với mấu khẩu cái của xương hàm trên tạo nên khẩu
cái cứng chính thức của thú. Đó là vòm miệng của Thỏ. Trước khẩu cái cứng có hai lỗ cửa.
Phần sau khẩu cái cứng cùng với xương cánh giới hạn lỗ mũi trong.
+ Hàm dưới thú gồm một đôi xương hàm dưới là đôi xương răng. Nhánh lên có củ lồi
để khớp với hõm khớp ở gốc mấu gò má của xương vẩy.
+ Bộ máy dưới lưỡi của Thỏ nằm trong cơ móng ở phía trước thanh quản, gồm các que
xương nhỏ nằm trong dây chằng cơ trâm lưỡi. Bộ máy dưới lưỡi gồm thân và hai đôi sừng.
Thân móng phát triển từ sụn tiếp hợp. Đôi sừng trước phát triển từ xương góc lưỡi. Đôi sừng