55
+ Hệ hô hấp: Ốc nhồi có đặc điểm là vừa có phổi vừa có mang. Bên trái xoang áo là
phổi thông với ngoài qua xiphông hút. Phần bên phải của xoang áo là xoang mang, thông ra
ngoài theo xiphông thoát. Trong xoang mang có một dãy lá mang chạy song song với đoạn
ruột thẳng.
+ Hệ bài tiết: Gồm một tuyến Bojanus màu đen sẫm phủ trên đoạn ruột cạnh bao tim và
đổ ra đáy xoang áo.
+ Hệ sinh dục: Ốc nhồi là động vật phân tính, có thể phân biệt ốc nhồi đực và cái qua
hình dạng ngoài. Con cái lớn hơn, đỉnh vỏ thấp và không nhọn như ốc đực.
- Cơ quan sinh dục đực gồm một tuyến tinh nhỏ màu trắng nằm cạnh ruột xoắn gần dạ
dày. ống dẫn tinh nhỏ, màu trắng chạy qua tuyến gan - tụy và dưới trực tràng, đổ vào túi chứa
tinh dẫn đến cơ quan giao phối. Cơ quan giao phối có rãnh hình máng để dẫn tinh trùng.
- Cơ quan sinh dục cái gồm một tuyến trứng hình khối nhỏ màu trắng, nằm cạnh tuyến
anbumin. ống dẫn trứng màu trắng chạy xuyên qua tuyến anbumin rồi theo chiều từ trái sang
+ Muốn quan sát hệ tiêu hóa phải ghim chặt Trai vào tư thế thẳng đứng trong chậu mổ.
Từ từ lột bỏ áo, cơ và hệ sinh dục thì sẽ thấy hệ tiêu hóa. Chú ý là đường đi của hệ tiêu hóa
Trai rất phức tạp do đó phải giao phối thật cẩn thận.
+ Muốn quan sát hệ thần kinh thì giao phối Trai đã định hình bằng formalin thì tốt hơn
Trai còn sống vì hệ thần kinh của Trai đã định hình sẽ cứng và có màu sắc phân biệt rõ hơn so
với Trai còn sống.
2.2 Nội dung nghiên cứu
a) Quan sát hình dạng ngoài
Vỏ trai bao bọc bên ngoài cơ thể gồm nhiều lớp khác nhau: Ngoài cùng là lớp sừng
(conchiolin) màu nâu sẫm, tiếp đến là lớp đá vôi dày, màu trắng, trong cùng là lớp xà cừ có
màu sắc lóng lánh, sặc sỡ.
Vỏ Trai gồm 2 mảnh bằng nhau, xếp đối xứng trái, phải, dính với nhau ở phía lưng. Chỗ
2 vỏ dính với nhau có dây chằng và bản lề, đó cũng chính là đỉnh vỏ, là nơi được tạo ra sớm
nhất của Trai. Khi Trai lớn dần thì các vòng vỏ càng lớn, tạo ra các đường cong càng lớn
xung quanh đỉnh vỏ và được gọi là đường tuổi. Phân biệt phía đầu là vỏ hơi lồi, phía đuôi hơi
nhọn (hình 5.4).
Hai mảnh vỏ được khép chặt nhờ 2 khối cơ khép vỏ lớn và khỏe. Thấy rõ ở mặt trong
của vỏ Trai. Mặt trong của vỏ còn thấy rõ đường viền của áo Trai, nối liền 2 vết bám của khối
cơ khép vỏ (hình 5.5). 57
Nhìn chung cơ thể Trai giống như một quyển sách mà 2 bìa sách là 2 vỏ, còn các tờ giấy
bên trong là áo, mang và thân Trai. Sau khi bỏ vỏ thì ngoài cùng là áo, tiếp đến là mang (gồm
2 lá, lá mang ngoài và lá mang trong) và thân Trai ở giữa. Nhìn từ phía lưng còn thấy bao tim,
trong đó có 1 đoạn ruột chạy qua tâm thất. Trước bao tim có 2 dải màu hồng làm thành hình
chữ "V" ngược, đó là cơ quan Keber. Dưới xoang bao tim có hai vệt dài màu đen thẫm, đó là
thận. Phía dưới thận là chân. Khoảng trống nằm giữa 2 tấm áo là xoang áo. Về phía sau, 2
mép áo khớp lại với nhau tạo thành hai ống hình phễu gọi là xiphông, xiphông hút ở dưới,
xiphông thoát ở trên.
Hình 5.5 Mặt trong của vỏ Trai sông 58
+ Hệ tuần hoàn: Là hệ tuần hoàn hở, gồm 1 tâm thất và 2 tâm nhĩ, các động mạch và
tĩnh mạch cùng với các khe xoang. Xoang bao tim khá lớn, có thành mỏng, nằm phía sau
lưng. Tâm thất hình quả lê, nằm giữa xoang bao tim, phần sau lớn hơn phần trước. Hai tâm
nhĩ hình tam giác, đỉnh của chúng tiếp xúc với hai bên tâm thất, ở đó có lỗ nhĩ thất.
Hệ động mạch: Phần gốc của động mạch trước bao phủ hai bên của ống ruột sau. Phần
gốc của động mạch sau nằm dưới ruột sau. Từ động mạch trước có các nhánh đi vào khối gan
tụy, cơ khép vỏ trước, thùy miệng, mang, thận, chân và áo. Bờ mép áo có động mạch chứa
máu từ tâm thất theo động mạch trước và động mạch sau (hình 5.7).
miệng gần với gốc thùy miệng. Chúng nối với nhau bởi cầu nối nằm ngay trên thực quản. Từ
hạch thần kinh não - bên có dây thần kinh đi tới cơ khép vỏ trước, thùy miệng đi tới cơ khép
vỏ trước, thùy miệng và áo.
- Đôi hạch phủ tạng dính với nhau nằm ngay dưới bụng của cơ khép vỏ, gần hậu môn.
Từ đây có các dây thần kinh đi tới bụng và mang. Giữa hạch não - bên và phủ tạng có dây
thần kinh não - phủ tạng. Phía trước hai dây này xa nhau, còn về phía sau thì 2 dây này càng
gần nhau (hình 5.9).
Hình 5.9 Hệ thần kinh của Trai sông
Hình 5.8 Hệ tĩnh mạch của Trai sông 60
Đôi hạch thần kinh chân nằm sâu trong khối cơ chân. Muốn thấy được đôi hạch này thì
phải giải phẩu dọc cơ chân. Đôi hạch này liên hệ với nhau bằng một cầu nối ngắn, từ mỗi
61
Bài 6.
Kỹ thuật thực hành động vật Có xương sống,
Nghiên cứu cá Lưỡng tiêm và cá Miệng tròn I. Kỹ thuật thực hành động vật Có xương sống
1. Kỹ thuật giải phẫu
1.1 Yêu cầu
Đối với động vật Có xương sống, do kích thước cơ thể lớn, vỏ da phát triển, các hệ cơ
quan hoàn chỉnh, nhất là hệ cơ và xương nên có yêu cầu về kỹ thuật giải phẫu khác hơn so với
động vật Không xương sống.
Kỹ thuật giải phẩu rất cần thiết để hoàn thành nhanh, đúng với yêu cầu của bài. Yêu cầu
của kỹ thuật giải phẫu là:
+ Vận dụng được những kiến thức lý thuyết vào việc tìm kiếm, quan sát và phân tích
các hệ cơ quan.
+ Cần rèn luyện tính cẩn thận, kiên trì, tỉ mỉ và chính xác.
+ Sử dụng đúng dụng cụ giải phẫu, sắp xếp hợp lý và thuận tiện cho việc sử dụng. Sau
khi giải phẫu xong cần kiểm tra dụng cụ và rửa sách, lau khô và bảo quản cẩn thận.
1.2 Các dụng cụ thường dùng và cách sử dụng
+ Dao mổ sắc dùng để rách da, cắt cơ con vật
+ Kéo thẳng dùng để cắt da, cơ xương, những dây chằng hoặc các tổ chức cứng, dai nối
các cơ quan với nhau.
+ Kéo mũi cong để tách gỡ riêng biệt các bộ phận trong một cơ quan hoặc các cơ quan
mà không làm ảnh hưởng đến các cơ quan bên cạnh.
quan chủ yếu mà ít phải dùng đến kẹp gạt nội quan ra. Một mẫu mổ đẹp là trình bày đầy đủ
được mối quan hệ cấu tạo giữa các bộ phận trong một hoặc giữa các nội quan với nhau. Nên
việc nắm vững các khối kiến thức cấu tạo cơ thể động vật trước khi mổ là hết sức quan trọng.
2. Kỹ thuật vẽ tiêu bản sau khi giải phẫu
2.1 Yêu cầu
+ Cần phải trình bày mẫu mổ sao cho hình vẽ thể hiện được đầy đủ những bộ phận cần
thiết của những nội quan cần quan sát. Thiếu những nội quan này trong hình vẽ có nghĩa là
sinh viên chưa cắt bỏ trong khi giải phẫu hoặc không nắm được tên và tầm quan trọng của nó,
hoặc do trình bày chưa tốt nên bị che lấp.
+ Hình vẽ đã có trong giáo trình là tài liệu tham khảo giúp học sinh và sinh viên nắm
được các chi tiết giải phẫu, xác định được vị trí các nội quan và mối quan hệ giữa các cơ quan
đó với nhau. Yêu cầu sau khi đã quan sát kĩ lưỡng trên tiêu giải phẫu, sinh viên cần gập sách
hướng dẫn lại và vẽ theo mẫu giải phẫu của chính mình.
+ Hình vẽ cần đảm bảo tính chất khoa học và chính xác.
2.2 Kỹ thuật vẽ hình
+ Trước hết là đảm bảo tỉ lệ cân đối và chính xác hình dạng chung toàn bộ cơ thể cũng
như các nội quan. Muốn vậy cần phải chính xác một độ dài nhất định làm đơn vị để dựa vào
đó mà vẽ các chi tiết cấu tạo cho tỉ lệ với nhau. Trên hình vẽ cần thể hiện mối quan hệ chức
phận giữa các bộ phận với nhau. Ví dụ khi vẽ tuyến tiêu hoá cần vẽ túi mật, tụy tạng có ống
dẫn đổ vào ruột tá
+ Không sử dụng giấy có dòng kẻ ngang để làm vở thực hành, sử dụng giấy A
4
không
có dòng kẻ là thích hợp hơn cả để làm vở vẽ.
63
+ Sử dụng bút chì mềm để vẽ, tuyệt đối không vẽ và chú thích bằng bút mực. Nên dùng
bút chì 2B vì bút chì loại này không quá cứng và nét không lớn. Bút cần gọt nhọn, đầu nhọn
dài và đều. Không được dùng dùng dao mổ để gọt bút chì.
mát, chất đáy cát thô và xốp. Nó thường
cắm đuôi vào trong cát, thỉnh thoảng mới
bơi tự do. Cơ thể dài 1,5 – 2cm, có hai đầu
nhọn, hình lá tre (hình 6.1). Thức ăn của
cá Lưỡng tiêm là những sinh vật nhỏ.
Hình 6.1 Cá Lưỡng tiêm Branchinostoma
(Amphioxus ) sống ngoài tự nhiên 64
Quanh miệng có những xúc tu tạo nên dòng nước qua phễu miệng, vào xoang hầu. Các thức
ăn nhỏ bé theo dòng nước được láng xuống rãnh nội tiêm. Nhờ chất tiết của các tế bào tuyến ở
rãnh này, thức ăn được vo tròn lại. Sau đó nhờ các tế bào có tiêm mao rung động theo làn
sóng đưa khối thức ăn đó về phía trước và lên rãnh trên hầu. Từ đó thức ăn được chuyển dần
về sau và đi vào thực quản, dạ dày và ruột.
Ở Việt Nam, cá Lưỡng tiêm phân bố ở vùng biển gần đảo Bạch Long Vĩ, đảo Vĩnh
Thực thuộc vịnh Hạ Long và vùng biển Nam Trung Bộ có độ sâu hơn 60m.
Quan sát hình dạng ngoài cho thấy cơ thể cá Lưỡng tiêm thuôn dài, hai đầu nhọn, dẹp
bên, trong suốt nên có thể nhìn thấy các nội quan bên trong cơ thể khi cho ánh sáng đi qua.
Miệng ở mút trước cơ thể và hướng xuống mặt bụng của đầu. Quanh miệng có xúc tu.
Hai bên thân có cơ phân đốt rõ ràng bởi các vách ngăn cơ. Các đốt cơ xếp theo hình chữ
V có đầu nhọn theo thế cài răng lược giúp con vật uốn mình dễ dàng theo mặt phẳng ngang
khi vận chuyển.
Nếp vây lưng chạy dọc lưng từ sau đầu bao quanh đuôi. Ở phần lưng nếp vây thấp, đến
đuôi nhô cao lên ở nút đuôi nhọn. Mặt dưới đuôi gần như đối xứng phía lưng và thắt lại có
dạng mũi giáo gọi là nếp vây đuôi.
Hai nếp vây bụng chạy song song từ miệng đến lỗ thoát hây lỗ bụng. Hai nếp này là
nguồn gốc chi chẵn của các động vật tiến hóa về sau.
Lỗ bụng là lỗ thông xoang bao mang với môi trường bên ngoài.
Lỗ hậu môn nằm ở bên trái thân phía trên mép dưới vây đuôi. Vì vậy cơ thể Lưỡng tiêm
Dọc ống thần kinh có nhiều chấm đen, là
những mắt Hesse, là cơ quan cảm giác ánh sáng
của cá. Nó được cấu tạo bởi hai loại tế bào cảm
quang và tế bào sắc tố. Nhờ hệ cơ quan trong suốt
nên mặc dù nằm sâu trong cơ thể, mắt Hess vẫn
có khả năng cảm thụ ánh sáng. (hình 6.3).
b) Quan sát khoang miệng hầu và lát cắt ngang
cơ thể ở vùng hầu
Nếp vây lưng nhô lên phía trên, phía dưới tổ
chức liên kết. Trong tổ chức liên kết là ống thần
kinh với nhiều mắt Hess cạnh bên. Dưới ống thần
kinh là dây sống cũng nằm trong tổ chức liên kết.
Hai bên dây sống và ống thần kinh là những đốt cơ lưng. Hai bên thành hầu là những đốt cơ
bụng. Dưới xoang hầu là cơ ngang bụng. Hai bên mặt bụng là hai nếp vây bụng.
Hầu rộng, thủng nhiều lỗ khe mang, bên
trong là xoang hầu. Hàng dãy khe mang tạo nên
thành hầu. Phía trên xoang hầu là rãnh trên hầu.
Dưới xoang hầu là rãnh nội tiêm (endostyl)
được cấu tạo bởi tế bào tiêm mao rung động và
tế bào tiết chất nhày. Bao quanh khe mang là
xoang bao mang. Thành hầu giới hạn xoang hầu
và xoang bao mang. Giới hạn ngoài xoang bao
mang là thành cơ thể (hình 6.4 và 6.5).
Hình 6.3 Mắt Hess ở tuỷ sống của cá Lưỡng tiêm
Hình 6.4 Khoang miệng - hầu của cá Lưỡng tiêm
1
2
cảnh đưa máu lên đầu. Dòng
máu chính chảy về sau hình
thành động mạch chủ lưng đi
về phía đuôi và phân máu tới
nội quan.
Máu tĩnh mạch phần sau
cơ thể tập trung vào tĩnh mạch
dưới ruột đổ vào hệ gánh gan
sau đó đi vào tĩnh mạch gan đổ
vào xoang tĩnh mạch.
Phần sau cơ thể, máu
tĩnh mạch còn theo hai tĩnh
mạch chính sau đi về phía trước.
Máu tĩnh mạch phần đầu tập trung đổ vào đôi tĩnh mạch chính trước.
Tĩnh mạch chính trước và tĩnh mạch chính sau ở mỗi bên tập trung đổ vào ống Cuvier
cùng hai bên. Hai ống Cuver hai bên đổ dồn vào phần phình của động mạch chủ bụng (do cá
chưa có tim chính thức) (hình 6.6).
d) Quan sát hệ bài tiết
Hệ bài tiết: Gồm 100 đôi đơn thận nằm dọc 2 bên phần lưng của hầu. Mỗi đơn thận gồm
một ống đơn thận ngắn, uốn cong nằm giữa 2 khe mang. Ống này có một lỗ thận mở vào
xoang mang và một dãy lỗ thông với xoang cơ thể được gọi là miệng thận. miệng thận được
Hình 6.6 Hệ tuần hoàn cá Lưỡng tiêm
Hình 6.5 Cắt ngang qua vùng hầu của cá Lưỡng tiêm)
67
bịt kín và trên đó có nhiều tế bào mặt trời,
hình ống dài, bên trong có nhiều tiêm mao
rung động (hình 6.7).
Chất cặn bã được lọc từ xoang cơ thể,
Hình 6.7 Cơ quan bài tiết của Lưỡng tiêm
68
Đầu và thân tròn, đuôi dẹp bên. Hai bên đầu có đôi mắt tương đối phát triển. Phía trên
đầu, giữa hai mắt là mũi lẻ. Phía sau lỗ mũi là cơ quan đỉnh có thể nhìn thấy qua lớp da mỏng
dưới dạng một chấm sáng (hình 6.8).
Ở cá Mixine, phía
trước đầu là phễu miệng có
diềm da viền quanh. Bên
trong phễu miệng có nhiều
“răng sừng”. Số lượng
răng sừng và cách sắp xếp
chúng là đặc tính phân loại
của lớp cá Miệng tròn.
Đáy phễu miệng có lỗ
miệng. Trong miệng có
phần đầu lưỡi trên có răng
sừng (hình 6.9) .
Sau mắt là bảy đôi
khe mang ngoài xếp thành
hàng thẳng ở hai bên đầu.
11
10
9
8
1