A
B
C
E
H
G
F
D
Hình 5.1. Đặc điểm cấu tạo họ Tetranychidae
A. Mặt lưng loài T. mcdanieli McGregor; B. Đốt ống và đốt bàn đôi chân I con đực loài Tetranychuss urticae
K.; C. Đầu nhìn từ phía trên; D. Loài Tetranychus sp nhìn từ mặt bụng, trên đỉnh: Lông kép của bàn chân I,
Stylophore; Hình dạng lỗ hậu môn; E. Dương cụ nhìn mặt bên của Tetranychus; F. Vuốt có lông hình lược
của Tetranycopsis; G. Đệm có lông hình lược Petrobia; H. Vuốt và đệm của Tetranychus
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội – Giáo trình Động vật hại nông nghiệp……… …………………42
1.2. Họ Tenuipalpidae (Berlese, 1913)
Năm 1975, Jeppson và ctv. đã xây dựng khóa phân loại các loài nhện hại thường gặp ở
Mỹ và đến năm 1979, M. Meyer (1979) đã xây dựng khóa phân loại chi tiết về họ
Tenuipalpidae ở châu Phi và thế giới.
Đặc điểm chung:
Có kìm nhỏ như
kim thò ra ngoài
stylophora, có xúc biện
cấu tạo đơn giản, không
có vuốt ở đốt cuối. Các
đốt xúc biện tiêu giảm.
Ống khí quản ở trên
lưng có tầm quan trọng
nhất định với các dạng
cam chanh, nho, cây cảnh ở Nhật Bản, Bungari, Úc, Liban, Mỹ; loài B. obovatus
Donnadieu, ngoài cam chanh còn hại trên 50 loài cây cảnh ở Mỹ, Pháp, Tây Ban Nha,
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội – Giáo trình Động vật hại nông nghiệp……… …………………43
Srilanka, Nhật Bản, Venezuela ; loài B. phoenicis Geijkes là loài gây hại quan trọng trên
chè, cam chanh, đào, cà phê, dừa, táo, ổi, nho và trên 50 loài cây khác, phân bố loài này
mang tính thế giới; loài Tenuipalpus pacificus Baker gây hại chủ yếu trên hoa phong lan ở
nhiều nước trên thế giới, tạo nên các chấm đen trên lá và các vết đen đều trên lá hoặc trên
cây; loài Dilichotetranychus floridanus Banks hại trên cây dứa, phân bố mang tính thế
giới, tác hại trực tiếp không lớn nhưng gây nên vết thương cơ giới để nấm và vi khuẩn gây
bệnh thố
i lan rộng.
1.3. Họ Tarsonemidae (Kramer, 1877)
Từ 1877 đã phát hiện loài Steneotarsonemus bancrofti Michael gây hại nặng trên mía ở
vùng Queensland. Ngoài ra, chúng có phương thức dinh dưỡng phong phú như nhiều loài
ký sinh trên rệp sáp, động vật, một số loài ăn nấm, nhiều loài tấn công gây hại cây trồng.
Đặc điểm chung:
Có cơ thể rất nhỏ 0,1 - 0,3mm. Trưởng thành có cơ thể tương đối cứng và bóng sáng.
Cơ thể và chân sau có lông mỏng và thưa. Chân trước, đặc biệt là đốt cuối có nhi
ều lông
rậm và lông chuyên cảm giác với các hình dạng và kích thước khác nhau.
Cơ thể chia làm 3 phần rõ rệt: Phần miệng giống như hình đầu (capitulum), phần này
bao gồm 1 đôi xúc biện to và 1 đôi kìm dạng trâm mỏng cùng gốc với đôi xúc biện; phần
thứ 2 là idiosoma có rãnh rõ ở giữa. Rãnh này phân biệt chân trước và chân sau, nhờ nó dễ
thấy 2 phần: phía trước là propodosoma và phía sau hysterosoma; phần propodosoma,
phần đầu ngực có tấm đầu ngực
Có tính dị hình rõ rệt. Con đực không ch
ỉ nhỏ hơn con cái nhiều mà các đai vân cũng
khác biệt (hình 5.3).
Phía cuối mình con đực có cấu tạo đặc thù được gọi là u lồi sinh dục hay đĩa sinh
dục (dương cụ). Đĩa này thấy ở vùng opisthosoma. Trong đĩa sinh dục có dương cụ
Lịch sử nghiên cứu nhóm Eriophid có nhiều điểm đặc biệt. Thứ nhất họ này được ghi
nhận cách đây gần 2 thế kỷ, năm 1737 Reaumur trong cuốn “Lịch sử côn trùng” đã mô tả
các bệnh u sần và lông của cây, nhưng không chỉ ra được là do nhện gây hại. Đến thời
Nalepa (cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX) với dụng cụ tốt nhất thời đó là kính hi
ển vi,
Nalepa đã phân biệt rõ được sự khác biệt cấu trúc cơ thể giữa con đực và con cái Eriophid.
Từ giữa đến cuối thế kỷ XX đã xác định khá rõ nét tầm quan trọng của nhóm Eriophid đối
với nông nghiệp, nhận biết nhiều loài mang virus hại cây trồng, sự đa hình
(polymorphism), việc con đực đính túi tinh trên cuống gắn vào giá thể và con cái nhặt túi
tinh và đưa vào cơ thể qua lỗ nhận tinh (spermatophore) và đặc biệt là các mối quan hệ
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội – Giáo trình Động vật hại nông nghiệp……… …………………45
giữa cây, nhện hại, kẻ thù tự nhiên và quản lý tổng hợp dịch hại (IPM) trong đó có nhóm
Eriophid.
Đặc điểm chung:
Eriophid có 2 đôi chân là chân trước và chân sau, cả 2 đôi đều hướng về phía trước. Cơ
thể hình củ cà rốt, trên lưng có nhiều hàng gờ nhỏ nằm ngang và có 2 đôi lông trên lưng, 1
đôi lông bên. Phía cuối cơ thể có 1 đôi lông cảm giác. Mặt bụng cũng có nhiều hàng gờ
nhỏ và có một số lông cứ
ng khá dài. Các loài khác nhau có các tấm trước với các vạch dọc
thân khác nhau. Điểm khác biệt dễ nhận thấy là sự khác biệt hình dáng vuốt bàn chân.
Vuốt bàn chân với các lông nhỏ có nhiều hình dạng: hình cầu lông, hình răng lược, hình
chuỳ
Eriophid có 3 họ là Nalepellidae, Eriophyidae và Rhyncaphytopidae.
- Họ Nalepellidae: có kìm ngắn, có lông và các dãy nếp nhăn tiêu giảm. Điểm đặc
trưng nhất là có 1 - 2 đôi lông phía trước đầu.
- Họ Eriophyidae: Đa số chúng tạo nên các u sần hoặc lông cây (hình 5.4). Có kìm
ngắn, nhưng khác biệ
t với Nalepellidae ở chỗ không bao giờ có lông phía trước đầu. Ống
dẫn tinh ngắn và kéo dài sang bên hoặc xiên về sau.
- Họ Rhyncaphytopidae: Về mặt cấu tạo tương đối giống Eriophyidae, nhưng chiều
cam chanh.
I
E F
G
H
Hình 5.4. Họ Eriophyidae, Loài Aculus camatus Nalepa
A-D: Tư thế cơ thể khi chích hút (a:Kim hỗ trợ; an: ống hút phía hậu môn; ch: Chân kìm; cr: Khoá kìm; m:
cơ; os: Ngòi châm ở miệng; ph: Họng, b, c, d, g, l, lc, lm và v là các lông); E-H: Phản ứng của cây khi bị
nhện tấn công: E và F. Khoang kín, G. Tạo thành lông và H. Chỗ (gồ) phồng của lá hoặc thân I. Hình dạng
túi nhận tinh của loài Aculops pelekassi Keifer. (Theo Jeppson và CTV)
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội – Giáo trình Động vật hại nông nghiệp……… …………………47
CÂU HỎI ÔN TẬP
1. Đặc điểm phân loại họ Tetranychidae và các loài gây hại quan trọng?
2. Đặc điểm phân loại họ Tenuipalpide và các loài gây hại quan trọng?
3. Đặc điểm phân loại họ Tarsonemidae và các loài gây hại quan trọng?
4. Đặc điểm phân loại của nhóm Eriophid và các loài gây hại quan trọng?
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội – Giáo trình Động vật hại nông nghiệp……… …………………48
Chương VI
ĐẶC ĐIỂM SINH VẬT HỌC
Trong qua trình sống nhện nhỏ trải qua pha trứng, nhện non các tuổi và trưởng thành.
Nhện nhỏ sinh sản hữu tính là chủ yếu. Chúng đẻ ra trứng. Chúng có vòng đời ngắn, sức
sinh sản cao dẫn đến sức tăng quần thể cao. Dó đó nếu gặp điều kiện thuận sự gây hại của
chúng mang tính bột phát. Chúng có thể làm cho cây còi cọc, chết điểm sinh trưởng hoặc
một số bộ phận nh
ư lá, quả non bị biến dạng Một số loài còn có thể truyền các bệnh virus
cho cây trồng.
1. ĐẶC ĐIỂM SINH SẢN
Nhóm ve bét nói chung chủ yếu sinh sản hữu tính với sự kết hợp tế bào sinh dục đực
và cái. Một số loài có kiểu sinh sản đơn tính không bắt buộc.
được phân chia trong tế bào chất rồi di chuyển đến bề mặt. Sau đó nhân tiếp tục phân chia
và hình thành bì phôi, phía trong là noãn hoàn. Một số nhân bì phôi đi vào trong noãn
hoàn. Chúng hoá lỏng noãn hoàn làm cho phôi phát triển hoàn chỉnh.
Khi đó, đỉnh cực xuất hiện và hệ thống thần kinh phát triển. Tiếp đó dải mầm phôi phát
triển và xuất hiện đồng thời đầu và các phần phụ cơ thể. Sau đó hình thành 3 đôi mầm phụ
bên rìa. Một số loài 4 đôi được hình thành và quan sát được nhưng đôi thứ 4 thu bé lại khi
xúc biện hình thành.
3. ĐẺ TRỨNG
Khi trứng phát triển đầy đủ, nó đi qua ống dẫn trứng, van sinh dục và ra ngoài. Trứng
có thể được đẻ đơn lẻ hoặc đẻ thành cụm. Hình dạng thông thường của trứng là hình cầu,
hình oval trơn nhẵn (Hình 6.2). Màu trắng nhạt là phổ biế
n, nhưng cũng có các màu khác
như xanh, đỏ, hồng. Phía ngoài trứng thường có một lớp sáp để chống thấm nước. Trứng
của các loài nhện hại cây thường đẻ ở ngay trên nơi có thức ăn thích hợp, còn đối với
nhóm nhện bắt mồi hay nhện đất, trứng được con mẹ đẻ vào chỗ ít bị nhện bắt mồi khác
tấn công nhất.
Hình 6.2. Trứng của loài Petrobia latens (Muller)
A, B, Trứng không ngủ nghỉ chưa nở và nở. C, D, Trứng ngủ nghỉ chưa nở và nở.
E, Hình mặt cắt trứng ngủ nghỉ thể hiện khoang khí hô hấp.
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội – Giáo trình Động vật hại nông nghiệp……… …………………51
4. VÒNG ĐỜI
Chu kỳ phát triển của ve bét gồm có trứng (egg), ấu trùng (nhện non) (larva) các tuổi
và trưởng thành (adult) (hình 6.3). Giai đoạn nhện non tuổi 1 có 3 đôi chân, sau đó đến giai
đoạn tiền trưởng thành có 4 đôi chân (Nhóm nhện Eriophyoidea chỉ có 2 đôi chân). Giai
đoạn nhện non có thể có 2 đến 3 tuổi, thậm chí có loài có tới 4 tuổi (Tuổi 1 - Larva; Tuổi 2
- Protonymph; Tuổi 3 - Deutonymph và Tuổi 4 - Tritonymph).
Trøng
Tr−ëng
No
là mật độ chủng quần ở thời điểm ban đầu
e là cơ số lôgarit tự nhiên (Birch, 1948)
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội – Giáo trình Động vật hại nông nghiệp……… …………………52
Hay ú chớnh l t l sinh (b) tr i t l cht (d),
r = b - d (2)
Cú rt nhiu nghiờn cu v t l tng (thc) t nhiờn v nhng nghiờn cu ú cú ý
ngha lý gii ti sao mt loi hay mt s loi nhn hi li xut hin v gõy hi thnh
dch i vi mt loi cõy trng trong mt iu kin sinh thỏi no ú.
tớnh c t l
tng t nhiờn cn lp c bng sng (life table) bao gm:
- Tui nhn, thng c tớnh theo ngy tui (x),
- T l con cỏi sng sút t nhiờn (lx), ti thi im ban u (0)
lo = 1
- Sc sinh sn (mx) l s con cỏi c ra sng sút (bng 6.1). Do yu t tc
phỏt trin nh hng rt ln ti t l tng t nhiờn nờn tc phỏt trin phi c
theo dừi t m, c th, cỏc thi im theo dừi l ng u v tng i gn nhau,
chng hn 2 - 3 ln trong 1 ngy. Bng cỏch theo dừi ny, thi gian vũng i (trng
- trng) c tớnh chớnh xỏc hn v do ú t l tng t nhiờn cng chớnh xỏc.
Bng 6.1. Bng sng (life table) ca loi nhn Panonychus citri nhit 30
0
C
(Ngun: Nguyn Vn nh, 1992)
Ngy tui (x) S cỏ th cỏi (mx) ra T l sng (lx) lx.mx
1-6,5 0 1 0
7,0 0,15 1 0,15
7,5 0,25 1 0,25
8,0 0,86 1 0,86
8,5 2,25 1 2,25
= antilog r (7)
Từ bảng 6.1 các chỉ số sinh học cơ bản của Panonychus citri ở 30
0
C nh Ro = 23,99;
Tc = 10,65; T = 9,78; r = 0,311 và = 1,36
Đa số các nghiên cứu từ trớc đến nay đều tập trung nhiều vào việc theo dõi số lợng
trứng đợc 1 con cái đẻ ra nhng lại ít đề cập tới tỷ lệ cái sống sót của thế hệ sau. Chính tỷ
lệ cái hoặc số lợng con cái đợc sinh ra sống sót sẽ quyết định tới sức sinh sản của thế hệ
tới, vì vậy nếu chỉ theo dõi tổng số con (cả đực và cái) đợc đẻ ra trong một thế hệ sẽ
không có nhiều ý nghĩa.
Nhiều nghiên cứu đã tập trung vào việc xác định tính kháng hay tính mẫn cảm của một
loại cây trồng với nhện hại. Tuy nhiên, điều kiện cây chủ có thể là yếu tố chủ yếu xác
định sự phong phú của nhện hại. Những yếu tố nh thời tiết, sự phát triển theo mùa, yếu tố
đất, nớc, thuốc trừ dịch hại có thể làm thay đổi sinh lý cây và ảnh hởng tới sự thích hợp
của cây đối với nhện hại (Huffaker và ctv., 1969).
Tỷ lệ tăng tự nhiên phụ thuộc vào loài ký chủ. Chẳng hạn, nhện đỏ (Tetranychus
urticae) sống trong cùng điều kiện môi trờng nh nhau có r trên cây đậu là 0,270 trong 1
ngày, trong khi đó trên cây thờng xuân r chỉ đạt 0,091 trong 1 ngày.
Hai yếu tố tác động mạnh mẽ đến tỷ lệ tăng tự nhiên là thời gian/tốc độ phát triển và
sức sinh sản. Nhng tốc độ phát triển có ảnh hởng mạnh mẽ hơn so với sức sinh sản.
Chẳng hạn chỉ cần rút ngắn thời gian phát triển vòng đời xuống 10% cũng bằng tăng sức đẻ
trứng lên 100%.
Chỉ số sinh sản chịu ảnh hởng của các yếu tố nh nhiệt độ và độ ẩm hoặc tổng hoà
của 2 yếu tố này (bảng 6.2).
Trng i hc Nụng nghip H Ni Giỏo trỡnh ng vt hi nụng nghip 54
Tỷ lệ giới tính phụ thuộc vào chất lợng của thức ăn, mật độ (Wrench và Young,
1978), nhiệt độ (Hazan và ctv., 1973) và các yếu tố khác. Quả trứng đầu tiên luôn luôn là
trứng không đợc thụ tinh (Helle, 1967).
Bảng 6.2. nh hng ca nhit , m n t l tng t nhiờn (r)
Loi Nhit
giống chè khác nhau ở nhiệt độ 25
0
C và ẩm độ 84%
(Nguồn: Nguyễn Văn Đĩnh, 1994)
STT Ging chố R Ro
1 PH1 0,232 27,32 1,261
2 1a 0,228 25,89 1,256
3 Trung du 0,213 22,11 1,236
4 Tham vố 0,216 23.80 1,241
5 Gia vi 0,218 22,70 1,242
Ghi chỳ: r - t l tng t nhiờn
Ro - l s ln nhõn trong 1 th h
- l s ln chng qun gia tng trong 1 n v thi gian
6. C IM DINH DNG
a s nhn nh hi cõy l a thc, nhng cng cú nhiu loi cú tớnh chuyờn hoỏ theo
kiu ch dinh dng trờn mt nhúm thc n (n thc) hay ch dinh dng trờn mt loi
thc n nh mt loi cõy (hp thc).
Nhn hi cõy l nhng loi n thc vt in hỡnh, chỳng cú c quan dinh dng thớch
nghi vi vic n thc vt. Kỡm c h
p nht li to thnh ng stylophore v ngún linh
ng ca chõn xỳc giỏc to thnh ngũi chõm chớch vo mụ thc vt.
Nhúm Eriophid cú 5 ngũi chõm cũn nhúm Tetranychid cú 3 ngũi chõm. Hai ngũi
chõm phớa trc c coi nh kỡm, hai ngũi chõm ny cú gc lin k nhau nhng
on cui tỏch xa nhau v chuyn ng lờn xung luõn phiờn thay nhau khi chõm vo
Trng i hc Nụng nghip H Ni Giỏo trỡnh ng vt hi nụng nghip 55
mô cây. Sự chuyển động các ngòi châm phụ thuộc vào việc vươn ra hay co lại của
chân xúc giác.
Sự gây hại của nhện nhỏ trước hết đó là các vết thương cơ giới do kìm chích vào mô
cây, độ lớn và độ dài của kìm sẽ quyết định các vết thương. Tuy nhiên so với các loài dịch
Làm biến dạng cây và các bộ phận bị hại
Khi tấn công trên cây, nhện truyền các chất độc hoặc các chất có tác dụng điều tiết sinh
trưởng cho cây. Những chất này có thể kìm hãm hoặc gia tăng đột ngột sự phát triển của
các bộ phận bị hại. Điển hình cho hiệ
n tượng này là nhóm Nhện u sần Eriophyidae, trong
quá trình dinh dưỡng các chất do nhện tiết ra là các chất kích thích sinh trưởng mạnh đã
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội – Giáo trình Động vật hại nông nghiệp……… …………………56
làm các tế bào bị dài ra (Hình 6.4) tạo thành các lông như hiện tượng lông nhung trên lá
vải, quả vải (Nguyễn Văn Đĩnh, 1994).
Hình 6.4. A, Cấu trúc lông lá bị Eriophyes erineus (Can.) gây hại; B, Lá bị hại do
Eriophyes litchii K.; C, Dạng như cây trên Quercus ilex L. do Eriophyes ilicis Nal.
(Theo Jeppson và CTV)
Hiện tượng nhện gây hại làm cho cây còi cọc, lá bé lại, các đốt (lóng) ngắn lại thường
thấy trên cây đậu đỗ, ớt, khoai tây khi bị nhện trắng Polyphagotarsonemus latus tấn công.
Trên cây ớt, khi cây đang phát triển bị nhện trắng tấn công, cây có màu xanh sẫm hơn, các
chồi ngọn dừng phát triển, lá biến dạng cong 2 mép xuống phía dướ
i, dù có chăm bón tốt
cây vẫn “đứng im” không phát lộc. Nhưng nếu có một lý do nào đó như mưa lớn hoặc
phun thuốc trừ nhện thì sau 3 - 5 ngày lại thấy đợt lộc mới với các lá to bình thường còn
những lá bị nhện hại trước đó vẫn nhỏ và các mép lá vẫn bị cong xuống phía dưới.
Khi bị nhện đỏ Panonychus citri gây hại nặng, cây bưởi gốc ghép trong vườn ươm
không phát triển bình thường, vườn bưởi có màu trắng bạc, chiều cao cây bưởi con giảm
tới 30% (Nguyễn Văn Đĩnh, 1994).
Là môi giới truyền bệnh cho cây
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội – Giáo trình Động vật hại nông nghiệp……… …………………57
Loài nhện hại Eriophyes tulipae Keifer truyền bệnh đỏ (Kernel Red Streak) cho cây
ngô (Jepson và ctv., 1975) và bệnh cho lúa mỳ (Wheat Streak).
Loài Cecidophyopsis ribis Westwood & Nalepa truyền bệnh còi cọc cho cây Curant,
phát triển quần thể của nhện hại. Dưới đây đề cập tới những yếu tố mang tính chuyên biệt
đối với nhện nhỏ hại cây.
1. YẾU TỐ THỜI TIẾT
Nhện nhỏ hại cây sống phụ thuộc vào điều kiện thời tiết kể cả ở vùng ôn đới và vùng
nhiệt đới nóng ẩm. Nhiều loài nhện đã có những phản ứng thích nghi tốt đối với những
thay đổi bất lợi thông qua việc ngủ nghỉ (diapause), thông qua việc di trú tới nơi thuận lợi,
làm tăng cường sự phát triển của mô cây như tạo nên các u sần và cư trú trong đó. Nhi
ều
loài sống sót nhờ sự thích nghi với thay đổi của thời tiết bằng cách thay đổi tập tính sinh
sống và cấu tạo. Trong những ngày hè, khi cảm thấy nóng chúng di chuyển xuống chỗ thấp
râm mát, dưới các búp non hoặc sinh ra các thể mới với cấu tạo ngoài biến đổi để chống
chịu được với nóng và ẩm. Trưởng thành cái của một số loài trong điều kiện không thuận
lợi rơi vào trạng thái ng
ừng phát triển hoặc sản sinh ra trứng chịu được thời tiết bất thuận.
Trưởng thành cái của nhiều loài nhện hại thuộc cả 2 nhóm Tetranychid và Eriophyoid
thường chuẩn bị sẵn sàng cả về mặt cấu tạo và màu sắc để vào trạng thái ngủ nghỉ ngay
cuối mùa hè.
Ở Mỹ, nhóm Eriophyoid sống trên cây một vụ, những con cái ngủ đông thường có màu
nâu đậm hơn những con bình thường. Thời gian chuyển màu có th
ể kéo dài từ 3 - 8 ngày
đối với nhện đỏ T. urticae sống trên cây hoa bia. Trong thời gian này chúng vẫn ăn nhưng
không đẻ trứng. Khi đã chuyển màu xong, chúng không ăn nữa, thải toàn bộ thức ăn trong
hệ tiêu hoá và di chuyển đến những nơi kín đáo để trú đông. Sự khác biệt của 2 loại hình
này về cấu trúc hình thái cơ thể còn biểu hiện ở các vết nhăn trên mặt lưng (Prichard &
Baker, 1952). Các loài thuộc giống Tetranychus và Eotetranychus ở vùng khí hậ
u lạnh, loại
hình mùa hè có các nếp nhăn hoặc mấu lồi ở lớp biểu bì hình bán nguyệt, hình tam giác,
còn loại hình ngủ đông thì không có cấu tạo này ở trên lưng. Sự hình thành các đặc điểm
nghỉ đông thường xuất hiện khi có một hay tổ hợp các điều kiện ở nhiệt độ 13
0
1.2. Ẩm độ
Sự phát sinh gây hại mạnh mẽ của đại đa số nhện chăng tơ là ở trong điều kiện nhiệt
độ cao kèm theo khô hạn. Độ ẩm cao kìm hãm sự phát triển quần thể, chúng bị chết nhiều
trong lúc lột xác. Khi ẩm độ không khí cao chúng ăn ít đi, vòng đời dài hơn và tuổi thọ
ngắn lại.
1.3. Mưa
Mưa thường không ảnh hưởng tới đời sống của nhện, trừ trường hợp thời gian mưa
kéo dài hoặc mưa nặng hạt kèm theo gió lớn. Khi mưa, nhện thường chuyển xuống dưới
tán lá hay trú ở những nơi mà nước mưa không tới được. Lông cây là điểm bám lý tưởng
của nhện trong thời gian mưa bão. Tại vùng chè Phú Thọ những năm 1979 - 1983 thấy
rằng mưa phùn dài ngày cũng làm cho nhện bị chết nhiều, nhất là đối với nhóm nhện sống
trên mặt lá như nhện đỏ hại chè Oligonychus coffeae.
2. MỐI QUAN HỆ CÂY TRỒNG - NHỆN HẠI - THIÊN ĐỊCH
Mối quan hệ 3 chiều này là rất phức tạp. Khi dùng kìm chích vào cây và sau đó là
các chất tiết ra từ tuyến nước bọt trong quá trình tiêu hoá của nhện thấm vào mô cây làm
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội – Giáo trình Động vật hại nông nghiệp……… …………………61
cho chỗ bị hại thay đổi. Có 3 dạng tế bào cây khi bị hai: tế bào rỗng, tế bào bị phá huỷ
một phần và tế bào còn khoẻ. Những bộ phận bị gây hại không đảm bảo chức năng một
cách bình thường, ngay cả những tế bào còn khoẻ mạnh nhưng không hoà nhập được
với những tế bào khoẻ bình thường khác. Tác hại cơ học khi kìm chích vào biểu bì gây
nên hiện tượng mất nướ
c, ngoài ra những tế bào bị hại chất diệp lục còn bị mất chức
năng quang hợp. Điều này dẫn đến quá trình phát triển của cây bị giảm. Khi bị mất nước
sẽ làm thay đổi (tăng) nồng độ đường và amino acid hoà tan, sẽ là thức ăn nhiều dinh
dưỡng hơn cho nhện hại và chính sự thay đổi này sẽ làm giảm quá trình tổng hợp quang
học. Ngoài ra các chất trong tuyến nước bọt của nhện đưa vào mô cây có hàng loạt men
có ảnh hưởng đến quá trình quang hợp, chủ yếu làm giảm quá trình tổng hợp đường
(Tomczyk & Kropczinska, 1985).
Nghiên cứu chỉ ra rằng đối với loài nhện đỏ hại táo P. ulmi thì mật độ nhện, tốc độ
phát triển của nhện, số lượng trứng đẻ ra và tuổi thọ của chúng tỷ lệ thuận với đạm tổng