Sự vận động trong tư tưởng nghệ thuật Nguyễn Du qua những bài thơ tự thuật_1 - Pdf 19


Sự vận động trong tư tưởng
nghệ thuật Nguyễn Du qua
những bài thơ tự thuật

Nguyễn Du được xếp vào hàng những cây bút lớn nhất của văn học
Việt Nam trung đại. Tác phẩm của ông được đưa vào giảng dạy với thời
lượng đáng kể ở cả Trung học cơ sở và Trung học phổ thông. Cùng với
kiệt tác Đoạn trường tân thanh, Nguyễn Du còn để lại ba tập thơ chữ
Hán: Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm và Bắc hành tạp lục. Các thi
tập này không chỉ góp phần làm nên diện mạo thơ ca trung đại mà còn là
nguồn tư liệu giúp chúng ta tìm hiểu thế giới nội tâm của chính tác giả. Vì
vậy, tìm hiểu sáng tác chữ Hán của Nguyễn Du có ý nghĩa quan trọng đối
với việc nghiên cứu và giảng dạy tác gia này.

Có thể nói, Nguyễn Du sáng tác thơ chữ Hán trước hết là để gửi gắm
nỗi niềm riêng. Cho nên, số lượng bài thơ, câu thơ có tính chất tự thuật
trong các thi tập của Nguyễn Du rất lớn. Chúng vượt xa một số tác giả
cùng thời: 107 bài (chiếm đến 43%)- trong khi Đoàn Nguyễn Tuấn, Ngô
Nhân Tĩnh, Lê Quang Định, Trịnh Hoài Đức, Ngô Thì Nhậm chỉ có từ 7
đến 25 bài (trên dưới 10% tác phẩm). Bộc lộ tâm trạng đã trở thành một
yếu tố đặc trưng cho thơ chữ Hán Nguyễn Du. Những vần thơ tự thuật
không chỉ phản ánh cách Nguyễn Du hình dung về bản thân mình mà còn
cho thấy quá trình vận động trong tư tưởng nghệ thuật của một nghệ sĩ
lớn. Quá trình này tương ứng với những biến động trên đường đời của

Thập tải trần ai ám ngọc trừ,
Bách niên thành phủ bán hoang khư.
Yêu ma trùng điểu cao phi tận,
Trỉ uế càn khôn huyết chiến dư.
Tang tử binh tiền thiên lí lệ

(Bát muộn)

(Bụi trần mười năm che tối thềm ngọc,
Thành phủ trăm năm một nửa thành gò hoang.
Những côn trùng, chim chóc nhỏ bé đều bay đi hết,
Đất trời nhơ nhớp sau cuộc huyết chiến.
Giọt lệ nơi nghìn dặm khóc cho cuộc binh đao ở quê hương)
(1)
.
Nguyễn Du chán chường, thất vọng đâu chỉ vì sự dở dang của cuộc
đời ông mà còn vì bao ngang trái, bất công của một xã hội đang thời hỗn
loạn: "Bốn bể gió bụi, lệ rơi vì tình nhà nợ nước" (My trung mạn hứng),
"Đêm tối sói hổ kiêu ngạo/ Trăng sáng chim hồng chim nhạn tản tác" (Biệt
Nguyễn Đại Lang) Ông bàng hoàng, tiếc nuối không chỉ vì sự đổ vỡ của
gia đình, của dòng họ mà còn vì cảnh thương hải tang điền của cuộc đời:
Nhất tự y thường vô mịch xứ,
Lưỡng đề yên thảo bất thăng bi.
Bách niên đa thiểu thương tâm sự,
Cận nhật Trường An đại dĩ phi.
(Giang đình hữu cảm)

(Từ khi áo xiêm không còn tìm đâu thấy,
Khói trên ngọn cỏ hai bờ sông khiến lòng khôn xiết bi thương.
Trăm năm của cuộc đời biết bao việc thương tâm,

giống như một người không muốn trôi theo dòng chảy kia nhưng chẳng
thể nào thoát khỏi được vòng xoáy dữ dội của nó nên đành chấp nhận.
Điều đau xót nhất là, khi bước chân vào nẻo thanh vân cũng là khi hoài
bão, ước mơ dần nguội tắt.

Nhưng trong chính khoảng thời gian này, tác giả Nam trung tạp
ngâm bắt đầu có những nhận thức sâu sắc về bản chất xã hội đương thời.
Đó không phải là nơi cho những con người có hùng tâm, tráng chí cất
cánh bay cao. Người nghệ sĩ trong ông khi nhìn lại những biến động của
thời đại đã không thể không đau đớn cho cuộc đời trong cảnh “Hán cướp
Tần tranh”: Tạc giả đại khuy sinh vật đức(Trước kia đã thương tổn rất
nhiều đến cái đức hiếu sinh của tạo hóa - Pháo đài), Tam quân cựu bích
phi hoàng diệp/ Bách chiến tàn hài ngọa lục vu (Trên lũy cũ ba quân lá
vàng bay lả tả / Xương tàn trăm trận đánh vẫn nằm trong bãi cỏ xanh - Độ
Linh giang),Khoáng dã biến mai vô chủ cốt (Trên đồng ruộng khắp nơi vùi
thân vô chủ - Ngẫu đắc), Phong xuy cổ trủng phù vinh tận/ Nhật lạc bình
sa cốt chiến cao (Gió thổi vào nấm mồ xưa, vinh hoa hư ảo tan hết/ Mặt
trời tà trên bãi cát, đống xương chiến trận đã cao -Ngẫu thư công quán
bích) Tâm sự của Nguyễn Du trong Nam trung tạp ngâm đã không còn
giới hạn trong những bất hạnh, đổ vỡ riêng tư mà phản chiếu cách nhìn
nhận, đánh giá về bản chất của một xã hội trong chiều đi xuống.

3. Bắc hành tạp lục và niềm trăn trở trước số phận con người

Hệ thống thơ tự thuật ở Bắc hành tạp lục cho ta thấy những biến đổi
lớn trong tư tưởng nghệ thuật của Nguyễn Du. Số lần tự thuật đã giảm đi
rất nhiều so với hai tập thơ đầu: 132 bài thơ mà chỉ có 22 câu, đoạn tự
thuật xen giữa các đề tài vịnh sử, vịnh cảnh (chiếm 16,7%). Đặc biệt, ở đây
không có bài nào nhà thơ chỉ viết riêng về mình. Các hình ảnh thơ phản
chiếu bi kịch trong tâm hồn ông cũng giảm đi đáng kể so với hai tập thơ

trước hết là đất nước của những Khuất Nguyên, Đỗ Phủ, Dự Nhượng,
Nhạc Phi Cho nên, cái nhìn của người nghệ sĩ trong ông đã xuyên qua
lớp vỏ của thực tại kia để thấu suốt bản chất của hiện thực - một hiện
thực được phản chiếu rõ nét qua từng dấu tích đau thương, oan trái từ
quá khứ. Để rồi từ đó, nhà thơ cất lên tiếng nói cảm thương, đau đớn,
phẫn uất cho thân phận con người trên suốt dòng thời gian kim cổ. Cái tôi
trữ tình Nguyễn Du luôn xuất hiện với trái tim mang nhiều cung bậc của
niềm thương cảm: liên, sầu, bi, cảm, ai, thán, trướng, bồi hồi, thương tâm,
kham ai Vì vậy, khả năng khái quát hiện thực của Bắc hành tạp lục là rất
to lớn - vượt xa tất cả các tập thơ đi sứ thời trung đại. Đồng thời, tập thơ
này còn thể hiện cảm hứng nhân đạo độc đáo, cao cả của tác giả Đoạn
trường tân thanh. Nguyễn Du đã đi từ cõi lòng ngổn ngang những thất
vọng, khổ đau của riêng mình để đến với bao nhiêu khắc khoải của nhân
sinh và cõi người. Trong đó, cung bậc buồn thương, đau đớn nhất chính
là nỗi tiếc hận muôn đời trước số phận của những kiếp tài hoa, trung
nghĩa.

Có thể nói, các bài thơ tự thuật đã lưu giữ lại cho chúng ta diện mạo
tâm hồn của chính Nguyễn Du. Ông đã “tự họa” chân dung như một con
người lẻ loi, nếm trải nhiều cay đắng, thất vọng song cũng thật cứng cỏi,
kiêu hãnh khi gìn giữ sự trong sạch, thanh cao của lòng mình. Và giữa
bao nhiêu ngổn ngang, bế tắc vẫn thấy ngời lên ánh sáng của một trái tim
chưa bao giờ nhầm lẫn trong yêu thương, đau đớn, phẫn nộ Hình tượng
“tự họa” của Nguyễn Du không chỉ thể hiện thế giới tâm hồn phong phú,
phức tạp của một nghệ sĩ lớn mà còn có khả năng phản ánh và khái quát
hiện thực sâu sắc. Bởi vì, ông đã không hề tách rời cuộc đời mình khỏi số
phận của một lớp người, một thời đại. Trái lại, mọi đau buồn, phẫn uất mà
Nguyễn Du bộc lộ đều gắn liền với những nỗi đau thương bao trùm lên
thân phận con người lúc bấy giờ. Chúng bắt nguồn từ bao nhiêu biến cố
của lịch sử. Trong những giọt lệ âm thầm thấm trên trang thơ chữ Hán có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status