ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
*******
LƯƠNG QUẾ ANH
ĐÁNH GIÁ KỸ THUẬT CHẨN ĐOÁN SỚM
NHIỄM HIV VÀ XÁC ĐỊNH TỈ LỆ NHIỄM HIV Ở
TRẺ EM SINH RA TỪ MẸ NHIỄM HIV
Chuyên ngành: Di truyền học - Khoa Sinh học
Mã số: 60 42 70
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH DI TRUYỀN Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Trương Thị Xuân Liên
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2010
DANH MỤC SƠ ĐỒ
ĐẶT VẤN ĐỀ 9
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 10
CHƯƠNG I. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 11
I.1. ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA VIRÚT HIV 12
I.1.1. Phân loại virút 12
I.1.2. Cấu trúc hình thể và bộ gen virút HIV-1 13
I.1.3. Chu kỳ sống của virút 15
I.2. TÌNH HÌNH NHIỄM HIV CỦA PHỤ NỮ VÀ THAI PHỤ 17
I.2.1. Tình hình nhiễm HIV của phụ nữ và thai phụ trên thế giới 17
I.2.2. Tình hình nhiễm HIV của phụ nữ và thai phụ ở Châu Á và Việt Nam
19
I.3. CÁC CON ĐƯỜNG LÂY TRUYỀN HIV TỪ MẸ SANG CON 22
I.4. CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN LÂY TRUYỀN MẸ CON 24
I.4.1. Yếu tố liên quan đến HIV 24
I.4.2. Yếu tố của thai phụ 25
I.4.3. Các yếu tố liên quan đến bệnh sản khoa 26
I.4.4. Các yếu tố liên quan đến thai nhi 27
I.5. CHƯƠNG TRÌNH DỰ PHÒNG LÂY TRUYỀN MẸ SANG CON 27
I.5.1. Giới thiệu về chương trình dự phòng lây truyền mẹ sang con
(PMTCT) 27
I.5.2. Nuôi dưỡng trẻ sau sinh
31
I.6. CHẨN ĐOÁN SỚM NHIỄM HIV VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP CHẨN
ĐOÁN SỚM HIỆN NAY 32
I.6.1. Tầm quan trọng của chẩn đoán sớm 32
NHIỄM HIV TỪ RNA VÀ DNA 72
IV.2. TỶ LỆ NHIỄM HIV Ở TRẺ EM SINH RA TỪ MẸ CÓ HUYẾT
THANH DƯƠNG TÍNH TẠI CÁC TỈNH KHU VỰC PHÍA NAM 73
CHƯƠNG V. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 76
BÀI BÁO ĐÃ ĐƯỢC ĐĂNG 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
PHỤ LỤC 83
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
AIDS Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (Acquired immune
deficiency syndrome)
ANRS Cơ quan nghiên cứu về HIV- AIDS và viêm gan do vi rút của Pháp
(Agence Nationale de Recherche sur le Sida)
ART Antiretroviral therapy
ARV Antiretroviral
bp base pair
CRFs Dạng tái tổ hợp (circulating recombinant forms)
ct Chu kỳ ngưỡng (threshold cycle)
DBS Mẫu máu khô nhỏ trên giấy thấm (Dried Blood Spots)
DNA Acid deoxyribonucleic
gp glycoprotein
HIV Human immunodeficiency virus
OD Mật độ quang (optical density)
PBMC Tế bào trong máu ngoại vi (peripheral blood mononuclear cell)
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ III.1. Kết quả Real - time PCR RNA 20 lần chạy mẫu chứng dương
pha loãng các nồng độ khác nhau 57
Biểu đồ III.2. Theo dõi giá trị ct của mẫu chứng dương có nồng độ thấp (600
copies/mL) trên 25 lần chạy khác nhau của Real - time PCR RNA 58
Biểu đồ III.3. Kết quả Real - time PCR DNA 20 lần chạy mẫu chứng dương
pha loãng các nồng độ khác nhau 60
Biểu đồ III.4. Theo dõi giá trị ct của mẫu chứng dương có nồng độ thấp (3
copies/1 phản ứng) trên 20 lần chạy khác nhau của Real - time PCR DNA 61
Biểu đồ III.5. Tỉ lệ % mẫu phân bố theo độ tuổi và giới tính 65
Biểu đồ III.6. Tình hình can thiệp dự phòng lây truyền mẹ sang con trong
nhóm đối tượng nghiên cứu 66
Biểu đồ III.7. Thời điểm phát hiện mẹ nhiễm HIV 67
Biểu đồ III.8. Tỉ lệ nhiễm HIV phân bố theo nhóm tuổi 68
Biểu đồ III.9. Tỉ lệ nhiễm HIV khi trẻ được dự phòng đầy đủ, không dự
phòng và dự phòng không đầy đủ 69
Biểu đồ III.10. Tỉ lệ nhiễm HIV của trẻ theo thời điểm nhiễm HIV của mẹ 70
DANH MỤC HÌNH
Hình I.1. Phân loại virút HIV 13
Hình I.2. Cấu trúc của HIV-1 13
Hình I.3: Cấu trúc bộ gen của virút HIV 14
Hình I.4. Chu kỳ sống của virút HIV-1 15
Hình I.5. Phân tử gp120 gắn vào thụ thể CD4 và đồng thụ thể 16
Cho đến cuối năm 2009, ước tính có khoảng 33.3 triệu (31.4-35.3 triệu)
người sống chung với HIV trên thế giới. Hàng năm có khoảng 370.000 trẻ em dưới
15 tuổi phát hiện bị nhiễm HIV, mỗi ngày lại có 1.000 trẻ mới nhiễm (UNAIDS
Dịch tễ HIV cập nhật 2009). Ước tính có khoảng 260.000 trẻ tử vong do liên quan
tới AIDS. Lây truyền từ mẹ sang con là nguyên nhân chính gây nhiễm HIV ở trẻ
em, đặc biệt là ở các nước đang phát triển.
Nhiều bằng chứng cho thấy ở trẻ sơ sinh tốc độ tiến triển sang AIDS thường
rất nhanh, nhiều trẻ chết vì các biến chứng liên quan tới AIDS trước khi được chẩn
đoán khẳng định tình trạng nhiễm HIV. Nếu không được điều trị kịp thời, một phần
ba số trẻ sơ sinh sẽ chết trước một tuổi và 50% sẽ chết trước hai tuổi.
Tháng 3 năm 2008, Tổ chức Y tế thế giới đã khuyến cáo cần xét nghiệm
chẩn đoán sớm HIV cho tất cả trẻ em sinh ra từ mẹ có huyết thanh dương tính và
điều trị sớm những trường hợp trẻ nhiễm HIV mà không cần chờ có các chỉ số suy
giảm miễn dịch hay triệu chứng lâm sàng.
Tuy nhiên, các kỹ thuật xét nghiệm huyết thanh học thông thường không cho
phép xác định trẻ sinh từ mẹ có huyết thanh dương tính có thực sự bị nhiễm HIV
hay không vì trong quá trình mang thai, kháng thể kháng HIV từ mẹ được truyền
sang thai nhi và sẽ tồn lưu trong cơ thể trẻ cho đến tháng thứ 12 - 18. Tất cả các trẻ
được sinh ra từ mẹ nhiễm HIV sẽ có kết quả xét nghiệm kháng thể dương tính trong
những tháng đầu do các xét nghiệm huyết thanh học không phân biệt được giữa
kháng thể HIV do mẹ truyền sang hay kháng thể HIV do trẻ bị nhiễm sản xuất ra.
Kháng thể từ mẹ truyền sang con sẽ giảm dần theo thời gian, ở tháng tuổi thứ 12,
khoảng 94.5% trẻ sẽ không còn kháng thể của mẹ truyền cho, tới 18 tháng tuổi, gần
100% sẽ không còn kháng thể của mẹ và những trẻ không nhiễm HIV sẽ có huyết
thanh âm tính với HIV vào thời điểm này. Do đó, các xét nghiệm huyết thanh học
tìm kháng thể kháng HIV chỉ có gíá trị chẩn đoán nhiễm HIV khi trẻ trên 18 tháng
tuổi
(9,10)
.
Chẩn đoán sớm HIV ở trẻ sơ sinh không những cần thiết nhằm phát hiện các
HIV) tại khu vực phía Nam.
Chẩn đoán sớm nhiễm HIV ở trẻ em
Luận văn thạc sĩ sinh học 11 Lương Quế Anh CHƯƠNG I
Chẩn đoán sớm nhiễm HIV ở trẻ em
Luận văn thạc sĩ sinh học 12 Lương Quế Anh
I.1. ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA VIRÚT HIV
I.1.1. Phân loại virút
(21)
HIV (Human Immunodeficiency Virus) là tác nhân gây hội chứng suy giảm
miễn dịch mắc phải ở người (AIDS), đây là một Retrovirút thuộc họ Lentivirút có
vật liệu di truyền là RNA. Trong quá trình nhân lên, RNA của HIV phải trải qua
giai đoạn trung gian phiên mã phân tử RNA thành DNA sợi đôi nhờ enzyme phiên
mã ngược RT (reverse transcriptase) của virút. Do đặc tính này cũng như do tốc độ
nhân lên nhanh, HIV dễ tạo các đột biến gen và mang tính đa biến di truyền cao. Do
đó HIV có nhiều dòng khác nhau, các dòng này có thể cùng tồn tại trong cùng một
cơ thể của người bị nhiễm virút. Dựa trên những điểm tương đồng về di truyền, các
dòng HIV có thể được phân loại thành các týp, nhóm và các thứ týp.
HIV được phân làm hai týp là HIV-1 và HIV-2, cả hai týp đều lây truyền qua
HIV có hình khối cầu , đường kính khoảng 100nm.
Hình I.2. Cấu trúc của HIV-1
(21)
Virion HIV-1 được bao bọc bởi màng ngoài là lớp đôi lipid và khoàng 72 gai
nhô ra ngoài có bản chất là các glycoprotein (gp120 và gp41). Nằm ngay bên trong
lớp màng tế bào là lớp chất nền được tạo từ các protein p17. Bên trong là lớp vỏ
capsid và các protein lõi bao bọc quanh bộ gen của HIV-1 gồm hai sợi RNA (+)
mạch đơn cùng các enzyme tham gia trong quá trình sao chép virút là men phiên mã
ngược (RT), men xâm nhập (integrase - p32) và protease - p11.
Chẩn đoán sớm nhiễm HIV ở trẻ em
Luận văn thạc sĩ sinh học 14 Lương Quế Anh
Hình I.4. Chu kỳ sống của virút HIV-1
(25)
· Xâm nhập vào hoà màng tế bào
Tế bào đích của HIV-1 chủ yếu là các tế bào lympho TCD4 và một số tế bào
khác có thụ thể CD4. Đầu tiên phân tử gp120 sẽ gắn vào thụ thể CD4 và các đồng
thụ thể (CCR5 hoặc CXCR4) của tế bào đích, nhờ đó dẫn đến sự thay đổi cấu hình
không gian và làm bộc lộ vị trí tác động của phân tử gp41 tham gia trong quá trình
Chẩn đoán sớm nhiễm HIV ở trẻ em
Luận văn thạc sĩ sinh học 16 Lương Quế Anh
hòa màng giữa virút và tế bào đích. Nucleocapside của virút sẽ được phóng thích
vào trong tế bào chất.
Hình I.5. Phân tử gp120 gắn vào
thụ thể CD4 và đồng thụ thể
· Quá trình sao chép RNA
thành DNA tiền virút
Sau khi cởi bỏ lớp vỏ capsid,
nhờ có enzyme phiên mã ngược RT, RNA sẽ được sao chép thành DNA mạch đơn
Hình I.6. Tỉ lệ nhiễm HIV ở phụ nữ 15-19 tuổi phân bố theo vùng
(7)
Tại một quốc gia phát triển như Hoa Kỳ, tính đến năm 2007 đã có 1.2 triệu
người sống chung với HIV/AIDS, trong đó có 300.000 người là phụ nữ. Qua nhiều
khảo sát đã ghi nhận có khoảng 7.000 phụ nữ nhiễm HIV đến sanh ở các cơ sở y tế
vào những năm đầu thập niên 90. Sau đó số thai phụ gia tăng theo từng năm và các
cơ quan y tế Hoa Kỳ phải đưa ra chiến lược tư vấn rộng rãi tất cả các phụ nữ mang
thai đến khám thai, làm xét nghiệm tầm soát nhiễm HIV, tiến hành các nghiên cứu
nhằm mục đích giảm tỉ lệ lây truyền HIV từ mẹ sang con
(12)
.
Tình hình này diễn ra nghiêm trọng hơn ở các quốc gia đang phát triển thuộc
khu vực Châu Phi. Dịch HIV/AIDS tại Châu Phi lan rộng từ thành thị đến thôn quê
Trong năm 2005 - 2006, theo số liệu thống kê trung bình tỉ lệ nhiễm HIV của phụ
Chẩn đoán sớm nhiễm HIV ở trẻ em
Luận văn thạc sĩ sinh học 18 Lương Quế Anh
nữ mang thai đi khám thai ở các nước Nam Phi trên 15%. Một số nghiên cứu đã
chứng minh rằng trong quan hệ tình dục không an toàn, phụ nữ dễ nhiễm HIV hơn
đối chậm hơn ở Châu Phi. Ở Guyana, tỉ lệ phụ nữ đến khám tiền sản là 7% vào năm
1992, tỉ lệ nhiễm HIV vùng này khoảng 1-2 % những năm 1994 - 1997 và có thể
tăng đến 13% vào năm 2010
(3)
. Ở San Pedro, tỉ lệ nhiễm HIV ở thai phụ là 4% vào
năm 1994. Tại Sao Paulo, tỉ lệ nhiễm HIV ở thai phụ khoảng 1% năm 1990 đến
1995, trong khi đó ở Rio de Janeiro, tỉ lệ này vào khoảng 1 - 3%
(4)
.
I.2.2. Tình hình nhiễm HIV của phụ nữ và thai phụ ở Châu Á và Việt Nam
Tại Châu Á, tỉ lệ nhiễm HIV ở thai phụ gia tăng đều mỗi năm. Cuối năm
2003, 1.4% phụ nữ mang thai ở Port Moresby và 2.5% ở Lae bị nhiễm HIV. Đến
năm 2004, Papua New Guinea đã có 10.184 trường hợp nhiễm HIV, hơn một nửa là
phụ nữ, bao gồm 855 trẻ em dưới 18 tuổi.
Hình I.8. Tình hình nhiễm HIV ở phụ nữ mang thai tại một số quốc gia
(33)
Ở Châu Á có hai quốc gia đông dân nhất thế giới là Trung Quốc và Ấn Độ
với số người nhiễm HIV rất thay đổi. Trung Quốc có khoảng 400.000 người nhiễm
HIV Ấn Độ có 4 triệu người nhiễm HIV trong đó có hơn 1 triệu là phụ nữ. Tại Thái
Lan, tỉ lệ nhiễm HIV ở phụ nữ làm nghề mại dâm ở Bankok là 18% vào năm 1992,
7% vào năm 1996. Tỉ lệ phụ nữ mang thai đến khám thai ở các cơ sở y tế và phát
hiện bị nhiễm HIV vào khoảng 2.3% vào những năm 1990 - 1995. Ở Burma tỉ lệ
phụ nữ đến khám thai và các bệnh phụ khoa nhiễm HIV thay đổi từ 1-8 % năm
1993
1994
1995
1996
1997
1998
1999
2000
2001
2002
2003
2004
2005
2006
2007
2008
2009
2010
2011
2012
Ước tính thấp Ước tính cao Ước tính trung bình
Hình I.9. Ước tính và dự báo số người nhiễm HIV/AIDS ở Việt Nam
Chẩn đoán sớm nhiễm HIV ở trẻ em
Luận văn thạc sĩ sinh học 21 Lương Quế Anh
Trong đó tỷ lệ phụ nữ mang thai nhiễm HIV và số trẻ em dưới 14 tuổi nhiễm
HIV cũng có chiều hướng gia tăng.
0
1000
Hình I.10. Ước tính và dự báo số phụ nữ mang thai nhiễm HIV/AIDS
tại Việt Nam
0
1000
2000
3000
4000
5000
6000
7000
1990
1991
1992
1993
1994
1995
1996
1997
1998
1999
2000
2001
2002
2003
2004
2005
2006
2007
2008
lây truyền này chiếm tỉ lệ khoảng 50 - 60% các trường hợp lây truyền từ mẹ sang
con.
· Lây truyền sau khi sanh: con đường này liên quan chủ yếu đến việc bú mẹ
của trẻ với tỉ lệ trung bình vào khoảng 10 - 15%.
Trẻ bị nhiễm HIV lúc còn là bào thai có diễn tiến lâm sàng sang giai đoạn
AIDS rất nhanh chóng. Lây nhiễm HIV trong khi sanh được khảo sát ở những trẻ
sinh đôi hay sinh ba từ bà mẹ bị nhiễm HIV cho thấy trẻ sinh đầu tiên có tỉ lệ nhiễm
HIV cao gấp hai lần các trẻ sinh sau.
Chẩn đoán sớm nhiễm HIV ở trẻ em
Luận văn thạc sĩ sinh học 23 Lương Quế Anh Hình I.12. Ước tính tỉ lệ nhiễm trong tử cung và lúc sinh
(23)
Nhiều nghiên cứu gần đây về kiểu sanh cũng có liên quan đến tỉ lệ lây nhiễm
mẹ con. Mổ bắt con làm giảm tỉ lệ lây nhiễm, vỡ ối sớm và kéo dài trên 4 giờ làm
tăng nguy cơ lây nhiễm. Nhiều trẻ em sinh ra từ mẹ bị nhiễm HIV kết quả xét
nghiệm HIV âm tính lúc mới sanh nhưng sau đó vài ngày xét nghiệm là dương tính.
Điều đó cho thấy trẻ có thể bị lây nhiễm trong lúc sanh.
Ảnh hưởng của mỗi đường lây truyền đến tỉ lệ nhiễm HIV trẻ chưa được xác
định rõ, tuy nhiên đa số các nghiên cứu cho thấy đường lây truyền qua tử cung ít có
nguy cơ lây nhiễm hơn đường lây truyền trong lúc sinh hoặc giai đoạn cuối của thai