1
Tổn thương mạch máu các chi trên và chi dưới do chấn thương là cấp
cứu ngoại khoa rất thường gặp, trong đó tổn thương mạch chi dưới chiếm tỷ
lệ cao hơn, do tư thế vận động và sinh hoạt và phần lớn bệnh nhân là những
người trẻ đang ở độ tuổi lao động [2], [3],[9], [17], [26], [48].
Cơ chế gây tổn thương mạch là khá nhiều và rất đa dạng, từ chấn thương
đụng giập, giằng xé, xoắn vặn ở phần ngoài chi cho đến vết thương đâm
xuyên do các vật sắc nhọn từ ngoài vào gây thương tổn thành mạch và từ trong
ra như đầu xương gãy [2], [3], [4],[9], [20], [29], [47].
Nguyên nhân chủ yếu là các tai nạn giao thông, tai nạn lao động, tai nạn
sinh hoạt. Các loại chấn thương này ngày càng gia tăng theo đà phát triển của
xã hội công nghiệp hoá [3], [9], [17].
Tổn thương mạch luôn luôn đòi hỏi được phát hiện và điều trị kịp thời,
nếu không sẽ gây mất máu ồ ạt nguy hiểm tới tính mạng người bệnh, hoặc
nhẹ hơn là tắc mạch gây thiếu máu chi không hồi phục dẫn đến hoại tử tổ
chức phải cắt cụt chi [9], [12], [20], [26].
Để chẩn đoán tổn thương mạch đến nay có nhiều phương pháp, ngoài
chẩn đoán lâm sàng, chẩn đoán hình ảnh có nhiều đóng góp và chiếm một vị
trí quan trọng. Siêu âm Doppler đánh giá tình trạng dòng chảy, phát hiện các
thương tổn mạch với độ nhạy và độ đặc hiệu khá cao tuy nhiên lại phụ thuộc
nhiều vào người làm [7], [13], [21], [28]. Chụp cắt lớp vi tính đa dãy đầu dò
với các phần mềm thể hiện hình cây động mạch rất chi tiết theo kỹ thuật tái
tạo xoá nền, hoặc không gian ba chiều. Chụp cộng hưởng từ với máy có từ
trường cao (1.5 Tesla) với các chuỗi xung chụp mạch, gúp thể hiện rõ hình
thái cây động mạch. Chụp cắt lớp vi tính và cộng hưởng từ tuy có độ nhậy và
2
3
1.1.
[10], [11]:
1.1.1.1. M vùng
* Đoạn cuối động mạch chủ bụng:
Động mạch chủ bụng chạy phía trái cột sống, tới ngang đốt sống thắt
lưng 4-5 thì chia thành hai ĐM chậu gốc, góc chia từ 60 độ đến 80 độ. Đối
chiếu lên thành bụng, chỗ chia ngang mức rốn. ĐM chủ bụng có đường kính
từ 2-2,5cm [10], [11].
* Động mạch chậu gốc:
Chiều dài khoảng 5-6cm thì chia thành ĐM chậu ngoài và ĐM chậu trong,
không cho nhánh bên nào. ĐM chậu gốc chạy sát với mặt trước xương cùng.
Động mạch chậu gốc phải bắt chéo phía trước TM chậu gốc trái phía
trước ụ nhô. ĐM chậu gốc trái đi phía ngoài TM chậu gốc trái. Đường kính
trung bình ĐM chậu gốc là 0.83cm (bên trái) và 0.89cm (bên phải) [11], [28].
* Động mạch chậu trong:
Động mạch chậu trong chia ra các nhánh cấp máu cho các tạng ở tiểu
khung và góp phần tạo nên tuần hoàn bàng hệ trong trường hợp bệnh lý [11].
ĐM chậu trong có bốn nhánh lớn cấp máu cho vùng mông và đùi là: ĐM
mông trên, ĐM mông dưới, ĐM thẹn trong, ĐM bịt.
4
* Động mạch chậu ngoài:
Tiếp theo ĐM đùi chung ở dưới dây chằng bẹn khoảng 4cm, chạy tiếp
theo trục của ĐM đùi chung xuống tới lỗ gân cơ khép thì đổi tên thành ĐM
khoeo. Đường định hướng từ điểm giữa dây chằng bẹn đến bờ sau lồi cầu
trong xương đùi.
ĐM này nằm ở khá nông, trừ đoạn 1/3 giữa nó chạy sâu hơn và bắt
chéo cơ may, vì vậy mà có thể sờ và nghe khá dễ dàng ĐM này. Đường kính
của ĐM đùi nông đoạn gần là 0,60cm, đoạn xa là 0,54cm [11], [13]. 6
Hình 1.2:
(Giải phẫu người, NXB Y học 2006) [12]
7
(Giải phẫu người, NXB Y học 2006) [12]
8
* Động mạch khoeo:
Tiếp theo ĐM đùi nông, bắt đầu từ lỗ gân cơ khép đến bờ dưới cơ
khoeo thì chia thành 2 nhánh tận là: ĐM chày trước và thân chày mác. ĐM
khoeo nằm trong trám khoeo sau khớp gối, giới hạn bởi 2 thành và 4 cạnh.
- Thành trước là mặt sau khớp gối do các đầu xương đùi, xương chày và
các dây chằng sau khớp gối tạo nên.
- Thành sau mỏng gồm: da, tổ chức dưới da, cân nông và sâu.
- ĐM quặt ngược chầy sau
- ĐM quặt ngược chầy trước
- ĐM mắt cá trước ngoài
- ĐM mắt cá trước trong
- Các nhánh nuôi cơ khu cẳng chân trước và cẳng chân ngoài
* Động mạch chày sau:
Là nhánh tận lớn nhất tách ra từ thân chày mác, và là nhánh tận chính
của ĐM khoeo, tiếp tục đi xuống giữa cơ gan chân và các cơ gấp theo đường
thẳng từ giữa nếp khoeo tới giữa hai mắt cá, đến 1/3 dưới cẳng chân thì hơi
chếch vào trong để vào rãnh cơ gấp dài ngón cái ở mặt trong xương gót (phía
sau mắt cá trong), chia làm hai nhánh tận là ĐM gan chân trong và ĐM gan
chân ngoài để tạo nên cung gan chân sâu.
ĐM nằm giữa hai lớp cơ khu cẳng chân sau, dưới mạc sâu cẳng chân.
Cùng đi có hai TM chày sau. Thần kinh chày nằm ngoài động mạch.
ĐM chày sau cho các nhánh nuôi cơ khu cẳng chân sau, và cho nhánh
mũ mác nối với nhánh gối dưới ngoài của ĐM khoeo, góp phần vào mạng
mạch khớp gối [11]. (Hình 1.3).
10
* Động mạch mác:
Tách từ thân chày mác khoảng 2-3cm dưới cơ khoeo. ĐM này chạy song
song với ĐM chày sau. Lúc đầu ĐM này nằm giữa cơ chày sau và cơ gấp dài
ngón cái, rồi đi sâu vào giữa cơ gấp dài ngón cái và xương mác, tới cổ chân
ĐM này nằm sau khớp chày mác và tận hết cho các nhánh tới cổ chân và gót.
Ở cổ chân nó nối với mạng mắt cá và mạng gót.
ĐM cho các nhánh nuôi cơ khu cẳng chân ngoài và xương mác, nhánh
xiên chọc qua vách gian cốt ra trước nối với Đm chày sau. Ngoài ra nó còn
cho các nhánh nối với ĐM chày trước ở mắt cá [11]. (Hình số3)
1.1.2. và
Thành động mạch gồm 3 lớp áo [5], [8]:
+ Khả năng tăng sinh và di trú về phía nội mô cùng việc tạo ra phức
hợp khoảng gian bào là hai nhân tố sửa chữa thành mạch, sẩy ra như một
phản ứng đáp ứng với các tác nhân tấn công động mạch [5], [8].
+ Tổn thương các cơ ở lớp áo giữa là nguyên nhân chủ yếu gây ra phình
động mạch.
1.1.3. S (hình 1.4)
Đi kèm hệ thống động mạch là hệ thống TM sâu chi dưới, nên trong
chấn thương mạch thường hay có tổn thương tĩnh mạch kèm theo.
Khẩu kính của TM thường lớn hơn ĐM tương ứng và thường tăng dần
từ ngoại vi đến trung tâm, [11].
12
- Ở bàn chân: Tĩnh mạch gan chân tạo thành một mạng, nhận từ các tĩnh
mạch gian ngón chân, TM gian đốt bàn chân rồi nối với tĩnh mạch mu chân.
- Ở đoạn cẳng chân và đùi, tĩnh mạch gồm 2 hệ nông và sâu.
* Hệ tĩnh mạch sâu gồm:
- Tĩnh mạch chày sau: Chạy song song với động mạch, nó ở khá nông
vùng sau mắt cá trong, sau đó sâu hơn trong một đoạn dài của mặt sau xương
chày [11].
- Tĩnh mạch mác: Chạy ở sau và trong xương mác, nằm trước cơ gấp
ngón cái dài và dưới màng gian cốt. Nó hợp với TM chày sau để hình thành
nên thân TM chày mác [11].
- Tĩnh mạch chày trước: Nằm ở 1/3 dưới vùng cẳng chân trước. TM nằm
trên xương chày và khớp cổ chân, sau đó chạy ra sau ở bờ dưới cơ khoeo.
- Tĩnh mạch khoeo: Được tạo thành từ 3 tĩnh mạch trên, ở sau gối, tĩnh
mạch nằm nông hơn động mạch. Khoảng 25% tĩnh mạch khoeo sinh đôi.
- Tĩnh mạch đùi nông: Tiếp với TM khoeo khi đi qua cơ khép, nó hợp với
tĩnh mạch đùi sâu ở đoạn trên cung đùi 3-4cm, hình thành TM đùi chung [11].
- Tĩnh mạch đùi chung: Chạy phía trong động mạch khi qua dây chằng
bẹn trở thành TM chậu ngoài. Tĩnh mạch đùi chung, TM đùi nông, TM đùi
II và III có tác dụng tạo huyết khối khi nội mô bị tổn thương. Đặc điểm này
có lợi trong cầm máu nhưng nguy hiểm trong các trường hợp khác.
Khi nội mô bị tổn thương do chấn thương hay phẫu thuật nơi đó bị thấm
ướt và phân tán điện tích bề mặt, tiểu cầu dính vào giải phóng chất tạo huyết
khối gây tắc, hẹp lòng mạch [1], [5], [8]. 14
Hình 1.4: [13]
TM
TM
ch
ch
ủ
ủ
dư
dư
ớ
ớ
i
i
TM
TM
ch
ch
ậ
ậ
u trong
u trong
TM
đ
ù
ù
i chung
i chung
TM
TM
đ
đ
ù
ù
i
i
(
(
nông
nông
)
)
TM
TM
khoeo
khoeo
TM
TM
ch
ch
à
à
y trư
15
- Năm 1975 Nguyễn Khánh Dư và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu 62
bệnh nhân bị các di chứng của vết thương mạch máu, tất cả đều được chẩn
đoán trước mổ bằng chụp mạch để phân loại tổn thương.
- Năm 1995 Nguyễn Đình Tuấn và Dư Đức Thiện đã có nghiên cứu:
“Đóng góp của chụp mạch và chẩn đoán cấp cứu mạch (ngoài sọ)” ở bệnh
viện Việt Đức [16].
- Năm 1999 Nguyễn Đình Tuấn với nghiên cứu “Đóng góp của chụp
mạch để chẩn đoán tổn thương mạch máu do chấn thương” tại bệnh viện Việt
Đức [15].
- Năm 1999 Nguyễn Sinh Hiền trong đề tài nghiên cứu chẩn đoán và
điều trị tổn thương mạch máu ngoại vi do gãy xương tác giả đề cập và nhấn
mạnh vai trò chụp mạch trong chẩn đoán chấn thương mạch chi dưới. Chụp
mạch cho biết rõ hơn về vị trí, tính chất tổn thương, tuần hoàn bàng hệ và sự
thông suốt của tuần hoàn ngoại vi, qua đó giúp đưa ra chiến lược sử lý đúng:
Chọn đường vào, vật liệu ghép….trong phẫu thuật [3].
- Năm 2002 Sin Sokomoth nghiên cứu các yếu tố tiên lượng trong tổn
thương động mạch khoeo do chấn thương. Đặc biệt với những bệnh nhân có
tổn thương trật khớp gối, gãy đầu dưới xương đùi, và đầu trên xương chày
thường hay có thương tổn động mạch khoeo [12]. Tác giả cho thấy nguyên
nhân chủ yếu là tai nạn giao thông (chiếm 65,96%), tai nạn sinh hoạt (23,4%),
tai nạn lao động (10,64)
- Năm 2003 Đoàn Quốc Hưng, Nguyễn Minh Hải, Lê Văn Nam,
Đặng Hanh Đệ nghiên cứu về chẩn đoán và điều trị phẫu thuật bệnh lý
động mạch chi dưới ở người trẻ. Trong số 43 bệnh nhân có 13 bệnh nhân
do chấn thương mạch [6].
Như vậy chụp mạch vẫn được coi là tiêu chuẩn vàng để khẳng định
chẩn đoán tổn thương mạch máu.
thương chi dưới. Các tác giả đã nghiên cứu 53 bệnh nhân, trong đó có 31
bệnh nhân chiếm 58% có biểu hiện lâm sàng như : Mạch ngoại vi mất hoặc
khó bắt, rối loạn cảm giác, mất phần mềm, chảy máu, giảm tưới máu mao
mạch chỉ có 12 bệnh nhân có tổn thương động mạch. Trong 22 bệnh nhân
(42%) có trật khớp gối hoặc gãy phức tạp các xương dài được chụp mạch phát
hiện 3 bệnh nhân có tổn thương động mạch đi kèm. Qua nghiên cứu này các tác
giả đưa ra kết luận: Không nên chụp mạch một cách hệ thống, nên chụp mạch
có chọn lọc qua thăm khám lâm sàng và siêu âm Doppler định hướng [19].
- Hafez HM và cộng sự (2001) tiến hành nghiên cứu tổn thương động
mạch chi dưới do chấn thương và các yếu tố nguy cơ cắt cụt chi ở 550 bệnh
nhân với 641 tổn thương ĐM . Qua thống kê tổn thương các tác giả cho thấy:
tỷ lệ tổn thương ĐM đùi nông là 37,2%, đùi chung là 8,7%, đùi sâu 5,3%,
ĐM khoeo 30,7%, trật khớp gối 3,4%, gãy xương phối hợp là 35,1% [26].
- Hartem Abou- Sayed và cộng sự (2002). Nghiên cứu chấn thương chi
dưới và tổn thương động mạch khoeo, các tác giả đã tiến hành nghiên cứu 53
bệnh nhân có tổn thương phối hợp như: trật khớp gối, gãy đầu dưới xương
đùi, gãy đầu trên xương chày, trong đó 35 bệnh nhân có mạch bình thường,
mất mạch ngoại vi là 16. Có 27 bệnh nhân (gồm 28 chi) được tiến hành chụp
mạch, có 13 bệnh nhân có hình ảnh tổn thương trên chụp mạch. Qua nghiên
cứu các tác giả đi đến kết luận chụp mạch nên áp dụng có chọn lọc, không
nên áp dụng cho bệnh nhân có kết quả thăm khám lâm sàng thần kinh mạch
máu bình thường [27].
18
1. .
1.3.1. Nguyên nhân [2], [3], [4], [9], [17]:
Gồm tai nạn giao thông, tai nạn sinh hoạt, tai nạn lao động, trong đó tai
nạn giao thông hiện nay là nguyên nhân chính luôn luôn chiếm tỷ lệ cao nhất,
ngày càng gia tăng, nhất là trong giai đoạn hiện tại, các phương tiện giao
thông tăng nhanh tốc độ cao, lượng người tham gia giao thông đông, các tai
Tổn thương lớp áo trong và áo giữa ĐM: thành mạch vùng đó trở nên
yếu, mất khả năng co giãn, gây giãn và tạo túi phồng.
Một yếu tố quan trọng khác có ảnh hưởng tới sự hình thành giả phồng
ĐM là phần mềm và tổ chức xung quanh. Khi tổn thương ĐM ở những vùng
tổ chức xung quanh lỏng lẻo, cân yếu (như vùng bẹn) thì quá trình hình thành
túi giả phồng nhanh hơn.
Nếu có nhiễm khuẩn phối hợp sẽ gây nhiễm trùng tại chỗ tổn thương gây
hoại tử thành mạch.
- Về mặt cấu trúc: Thương tổn là một giả phồng động mạch, cấu trúc
thành túi phồng không có cấu trúc ba lớp như thành động mạch. Thành túi
phồng gồm tổ chức xơ, máu cục và có thể có tổ chức hoại tử.
- Về mặt hình thái có hai loại giả phồng:
Giả phồng hình túi: Khi thành mạch mất tổ chức một phần cả 3 lớp.
Giả phồng hình thoi: Khi thành mạch mất tổ chức trên toàn bộ chu vi 2
lớp áo trong.
20
Hình 1.5:
(Bệnh nhân: Đoàn Văn H 46t số bệnh án 19457/I71) * Thông động tĩnh mạch:
Do tổn thương cả động mạch và tĩnh mạch, nên có sự nối tắt giữa động
mạch và tĩnh mạch, máu từ ĐM chảy trực tiếp vào TM. Do áp lực ở tĩnh mạch
thấp, thành mạch mỏng và yếu nên các TM thường giãn rất to, ngoằn ngoèo,
có khi dãn to gấp hai ba lần tĩnh mạch bình thường, có thể tạo nên túi phình
tĩnh mạch và tĩnh mạch cũng có thể bị động mạch hóa. 21
động. Mức độ đau tùy thuộc vào vị trí và nguyên nhân tổn thương.
- Cảm giác tê mỏi, đau nhức ở ngoại vi của chi, cảm giác này tăng lên
khi vận động và giảm đi khi nghỉ ngơi.
- Sưng nề toàn bộ phần cẳng chân, màu sắc da thay đổi có thể tím hay tái nhợt.
* Triệu chứng thực thể:
- Khối giả phồng động mạch:
+ Khối phồng nằm trên đường đi của động mạch.
+ Khối đập theo nhịp của tim. Có thể sờ thấy rung miu và giới hạn trên
và dưới của khối.
+ Khối giãn nở to lên và nhỏ đi trong thì tâm thu và tâm trương, nếu đè
vào phía trên khối phồng sẽ nhỏ đi.
+ Nghe có tiếng thổi tâm thu do dòng máu đi vào và đi ra khối phồng.
+ Chi lạnh hơn so với chi bên đối diện
+ Sưng nề căng phần chi phía dưới tổn thương.
+ Mạch ngoại vi có thể nhỏ khó bắt.
- Thông động tĩnh mạch: Biểu hiện bằng các triệu chứng
+ Sờ có rung miu.
24
+ Nghe có tiếng thổi liên tục, tăng lên ở thì tâm thu, chẹn động mạch
phía trên mất tiếng thổi.
+ Tĩnh mạch ngoại vi giãn to.
+ Chi phía ngoại vi có biểu hiện thiếu máu: mạch ngoại vi khó bắt, chi lạnh.
- Hẹp hoặc tắc mạch:
+ Mạch ngoại vi khó bắt
+ Chi phía dưới tổn thương thường lạnh hơn so với chi đối diện, thay đổi
màu sắc, tím hay tái nhợt.
+ Chi nhợt lạnh, rối loạn vận động cảm giác.
+ Có thể có dấu hiệu cứng khớp cổ chân
+ Trên chi bị tổn thương phía ngoại vi có thể có các nốt phổng nước.
+ Trật khớp gối.
+ Trật khớp cổ chân.
+ Đôi khi thấy hình túi phồng ở phần mềm biểu hiện bằng khối tăng
đậm độ ở vùng tổn thương.
* Siêu âm Doppler mạch chi dưới đánh giá vị trí, hình thái, kích thước
các thương tổn hệ thống mạch chi dưới:
- Khối máu tụ ở vị trí tổn thương.
- Túi giả phồng động mạch cho biết kích thước, hình dạng túi phồng và
huyết khối, tình trạng phần mềm quanh túi phồng
- Tình trạng hẹp, tắc lòng mạch.
- Dấu hiệu của thông động tĩnh mạch.
- Đánh giá tuần hoàn ngoại vi.
* Phim chụp mạch: Cho thấy toàn cảnh cây động mạch một cách chi tiết,
vị trí tổn thương, tình trạng mạch trên vị trí tổn thương, dưới tổn thương và
tuần hoàn bàng hệ.