mô tả đặc điểm hình ảnh và giá trị chẩn đoán của cắt lớp vi tính đối với u quái trung thất - Pdf 24

ĐẶT VẤN ĐỀ
Thuật ngữ u quái xuất phát từ tiếng Hy lạp (teratos) có nghĩa là kì quái.
Theo Willis, u quái là những khối u nằm lạc chỗ trong các cơ quan hoặc các
vị trí giải phẫu có chứa các tổ chức thuộc về ba lá thai (lá thai ngoài, lá thai
giữa và lá thai trong). Tiêu chí tổ chức của ba lá thai không phải là tiêu chí bắt
buộc bởi vì sự phân định tổ chức của các lá thai có thể nhầm lẫn [52].
U quái trung thất chiếm 1/3 trong tổng số u quái ở các vị trí trong cơ
thể, tỷ lệ chuyển từ lành tính sang ác tính từ 12-20% [61]. Là một trong
những khối u thường gặp ở trung thất trước [1],[2],[4],[5],[6], [9],[10],[11],
[12], [30].
Khối u lành tính thường không có triệu chứng lâm sàng. Khi khối u lớn
gây đè ép các cơ quan trong trung thất, khối u có thể vỡ đe dọa đến tính mạng
người bệnh, gây khó khăn trong chẩn đoán và điều trị [10], [16], [18], [22],
[25], [26], [52].
Chẩn đoán hình ảnh, đặc biệt là kỹ thuật chụp cắt lớp vi tính (CLVT)
ngực giữ vai trò chủ đạo trong việc định hướng chẩn đoán bản chất u, vị trí u,
mối liên quan của khối u với các cấu trúc quanh u, cũng như biến chứng vỡ
của u [15],[48].
Ở nước ta, hệ thống máy chụp CLVT đã có ở hầu hết các bệnh viện
tỉnh, thành phố. Đây là điều kiện thuận tiện giúp cho công tác chẩn đoán u
trung thất nói chung và u quái trung thất nói riêng. Một số tác giả như Phan
Kế Toại [12] năm 2003 nghiên cứu đặc điểm hình ảnh CLVT các khối u trung
thất thường gặp ở người lớn tại bệnh viện Việt Đức; Tạ Chi Phương năm
2007 [10] nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và kết quả sau mổ u
quái và u nang bì trung thất. Nghiên cứu riêng u quái trung thất về phương
1
diện chẩn đoán hình ảnh cho đến nay chưa có đề tài nào. Vì vậy chúng tôi tiến
hành đề tài: "Mô tả đặc điểm hình ảnh và giá trị chẩn đoán của cắt lớp vi
tính đối với U quái trung thất" với hai mục tiêu sau:
1. Mô tả đặc điểm hình ảnh cắt lớp vi tính của u quái trung thất
2. Đánh giá giá trị của cắt lớp vi tính trong chẩn đoán u quái trung thất

- Năm 1997 Kaoru Sasaka nghiên cứu về biến chứng vỡ tự phát của u
quái lành tính trung thất. Tỷ lệ vỡ của u là 36 %, khối u thường vỡ vào phổi,
khí phế quản, màng phổi, màng tim và các mạch máu lớn. Cá biệt khối u có
thể vỡ vào tĩnh mạch chủ trên, động mạch chủ ngực. Những trường hợp này
cần can thiệp phẫu thuật cấp cứu [33].
- Năm 1998, tác giả Soo-Jung choi đã nghiên cứu và đưa ra những dấu
hiệu hình ảnh trên CLVT của khối u khi vỡ [55].
1.1.2. Tại Việt Nam:
Các nghiên cứu về u trung thất chủ yếu về phương diện phẫu thuật.
Nghiên cứu chẩn đoán hình ảnh u trung thất còn rất khiêm tốn.
Các công trình nghiên cứu trong nước đã chứng tỏ ba loại u trung thất
hay gặp nhất là u quái, u thần kinh và u tuyến ức [2],[4],[5],[9],[10]. Trong đó
u tuyến ức có tỷ lệ ác tính cao hơn các loại u khác [4],[11]. Tĩnh mạch chủ
trên bị xâm lấn là dấu hiệu hay gặp trong các khối u ác tính của trung thất [4],
[8]. Theo Tạ Chi Phương [10] khối u quái trung thất thường có hình tròn
(92,3%), vôi hóa trong u gặp với tỷ lệ 7,6% .
1.2. Giải phẫu bệnh u quái trung thất.
U tế bào mầm là một nhóm u trong đó có u quái. Các khối u tế bào
mầm ác tính thường xuất phát từ tinh hoàn. Những khối u tế bào mầm ngoài
tuyến sinh dục hay phát triển dọc theo đường giữa từ não cho đến vùng trước
xương cùng cụt (tuyến tùng, trung thất, sau phúc mạc, vùng trước xương cùng
cụt và một số vị trí khác). Đường giữa này tương ứng với rãnh niệu dục trong
thời kì bào thai [32].
4
1.2.1 Phân loại u tế bào mầm:
Phân loại tổ chức học u tế bào mầm của tổ chức y tế thế giới [52] :
- U tinh (seminomas) chia thành 3 loại: điển hình; không biệt hóa; xuất
phát từ các tế bào tinh (Spermatocytic)
- U không tinh (nonseminous) gồm 5 loại: u quái (teratoma); ung thư
biểu mô tế bào phôi (embryonal carcinoma); ung thư rau (choriocarcinoma); u

không biệt hóa có xu hướng xâm lấn ác tính hóa.
1.3. Giải phẫu định khu hình ảnh trung thất :
Trung thất là một khoang của lồng ngực, nằm giữa hai phổi. Giới hạn
trên là nền cổ, phía dưới là cơ hoành, hai bên là màng phổi trung thất, phía
trước là mặt sau xương ức, phía sau là cột sống ngực.
Trung thất chứa đựng các thành phần cơ bản như: tim; khí phế quản
gốc; thực quản; động mạch chủ và các mạch máu lớn xuất phát từ động mạch
chủ; động mạch tĩnh mạch phổi; tĩnh mạch chủ và hệ thống tĩnh mạch
Azygos; thần kinh X và các nhánh của thần kinh X; thần kinh hoành; tổ chức
trung mô (mỡ, màng tim )
1.3.1. Hình ảnh trung thất trên phim chụp ngực thẳng [3] :
Trên phim chụp ngực tư thế thẳng, bờ trung thất không bằng phẳng mà uốn
lượn. Bờ trung thất được hình thành do hai loại cấu trúc có đậm độ khác nhau tiếp
xúc với nhau. Đậm độ khí (nhu mô phổi) và đậm độ dịch (các mạch máu và tim).
- Bờ phải trung thất từ trên xuống dưới gồm các cấu trúc sau: thân tĩnh
mạch tay đầu; tĩnh mạch chủ trên; nhĩ phải; tĩnh mạch chủ dưới
- Bờ trái trung thất từ trên xuống dưới bao gồm: động mạch dưới đòn trái;
quai động mạch chủ; thân động mạch phổi; tâm thất trái.
6
Hình 1.1. Trung thất trên phim chụp ngực
1 Thân tĩnh Mạch Tay đầu; 2 Tĩnh mạch chủ trên; 3 Nhĩ phải; 4 Tĩnh mạch chủ dưới; 5 Rốn phổi; 6 Tổ chức
mỡ. Bờ trái trung thất: 7 Động mạch dưới đòn trái; 8 Quai động mạch chủ; 9 thân động mạch phổi; 10 Tâm
thất trái; 11 Rốn phổi trái; 12 Tổ chức mỡ
1.3.2. Phân chia các khoang trung thất:
Phân loại của Felson[3],[42]:
- Trung thất trước giới hạn phía trước là mặt sau xương ức, phía sau bởi
mặt trước của khí quản và bờ sau của tim.
- Trung thất giữa nằm ngay sau trung thất trước cho tới một mặt phẳng
lùi vào quá mặt trước cột sống lưng 1 cm.
- Trung thất sau liên tiếp sau trung thất giữa cho đến rãnh cạnh cột sống

trên xuống dưới [23],[47].
1.3.3.1. Khu vực trung thất nằm phía trên quai động mạch chủ (hình 1.5):
Vùng này trung thất hẹp theo chiều trước sau. Khí quản nằm ở trung
tâm, ngay sát phía sau là thực quản. Tuỳ theo lớp cắt, thực quản có thể hơi
lệch sang phải hoặc sang trái.Thực quản thường xẹp, có tỷ trọng tổ chức trong
lòng có ít dịch hoặc khí (hình 1.5 A).
Trên mức quai động mạch chủ gồm các động mạch lớn xuất phát từ
động mạch chủ (động mạch vô danh, động mạch cảnh chung trái, động mạch
dưới đòn trái) và tĩnh mạch tay đầu. Tại nền cổ tĩnh mạch tay đầu nằm ngay
sau đầu trong xương đòn, chếch trước ngoài so với các động mạch. Các động
mạch nằm sau tĩnh mạch sát phía trước bên khí quản, kích thước động mạch
bao giờ cũng nhỏ hơn so với tĩnh mạch (hình 1.5 B và C).
Trên các lớp cắt liên tiếp từ trên xuống tĩnh mạch tay đầu trái chạy
ngang qua trung thất từ trái sang phải, trước các động mạch (hình 1.5 D và E).
Do hướng đi của các tĩnh mạch tay đầu phải và trái khác nhau so với mặt cắt
nên hình dạng các tĩnh mạch này khác nhau trên ảnh CLVT. Hình ảnh tĩnh
mạch tay đầu trái vắt ngang trung thất là một mốc giải phẫu quan trọng. Phía
trước tĩnh mạch này là khoang trước các mạch máu (prevascular space) thuộc
trung thất trước, sau tĩnh mạch này là trung thất giữa. Khi có khối ở vùng này
nên tiêm thuốc cản quang tay trái để xác định tĩnh mạch tay đầu trái.
Động mạch vô danh nằm sát phía trước khí quản gần đường giữa hoặc
hơi lệch sang phải (hình 1.5 C và E).
Động mạch cảnh chung trái nằm bên trái, phía sau ngoài động mạch vô danh,
kích thước động mạch này nhỏ nhất so với ba nhánh động mạch tại khu vực này.
Động mạch dưới đòn trái là nhánh cuối cùng phía sau bên khí quản.
Đôi khi thuỳ phải hoặc trái của tuyến giáp có thể lấn xuống vùng này nằm sát
hai phía của khí quản, nếu thấy hình ảnh này không được chẩn đoán tuyến giáp to.
9
Hình 1.5. Trung thất trên quai động mạch chủ
Ảnh A&B Lát cắt đỉnh phổi: 1 động mạch dưới đòn trái; 2 động mạch cảnh chung trái; 3 tĩnh mạch tay đầu

trước các động mạch xuất phát từ động mạch chủ và tĩnh mạch tay đầu trái
(Hình 1.6 A, B, C, D).
Ở những người trẻ có thể thấy tuyến ức ở khoang trước các mạch máu,
tuyến ức có hai thuỳ phải và trái, thuỳ trái to hơn. Khi tuổi tăng lên tuyến ức
sẽ được thay thế dần bởi tổ chức mỡ (thường trên 30 tuổi).
Các lớp cắt dưới quai động mạch chủ sẽ thấy động mạch chủ ngực phần lên
có kích thước to hơn so với động mạch chủ ngực phần xuống (hình 1.6 C, D).
Khí quản phân chia thành phế quản gốc phải và phế quản gốc trái.
Vùng chạc ba khí phế quản thường thấy được trên các lớp cắt ngang ngay
dưới quai động mạch chủ (hình 1.6 B, C, D).
11
Bên phải quai tĩnh mạch azygos chạy từ sau ra trước tiếp nối với thành
sau tĩnh mạch chủ trên sau khi vượt qua phế quản gốc phải. Quai tĩnh mạch
này thường thấy trên một hoặc hai lớp cắt liên tiếp, nó tham gia tạo thành bờ
phải của khoang trước khí quản.
Bên trái phần cuối của quai động mạch chủ và phần đầu thân chung
động mạch phổi tạo thành cửa sổ chủ - phổi (hình 1.6 B). Cửa sổ chủ-phổi
được giới hạn phía trong bởi khí quản, phía ngoài là màng phổi trung thất,
phía trên là phần thấp của quai động mạch chủ, phía dưới là thân chung động
mạch phổi hoặc động mạch phổi trái Khu vực này chứa mỡ, hạch, nhánh thần
kinh quặt ngược trái và dây chằng động mạch (di tích ống động mạch). Một
số bệnh nhân không quan sát thấy cửa sổ chủ - phổi do thân chung động mạch
phổi nằm sát dưới quai động mạch chủ, khi đó nhận định hạch khu vực cửa sổ
chủ - phổi đòi hỏi các lát cắt mỏng. Hạch tại khu vực này kết nối với hạch
phía trước khí quản. Phân biệt hạch ở trong hay ở ngoài dây chằng động mạch
đôi khi rất khó.
Ngay sát dưới vùng cửa sổ chủ phổi phía sau động mạch chủ ngực phần
lên là ngách màng tim trên (superior pericardial recess), ngách này thường
chứa ít dịch rất dễ nhầm với hạch.
Hình 1.6. Trung thất vùng quai, dưới quai động mạch chủ và cửa sổ chủ - phổi:

mạch phổi, sau đó chạy ngang qua trung thất từ trái sang phải phía trước chạc
ba hoặc phế quản gốc trái.
Tĩnh mạch azygos ở bên phải trung thất chạy song song với thực quản,
phía ngoài tĩnh mạch này tiếp giáp với màng phổi. Tĩnh mạch hemiazygos ở
bên trái chạy song song và ở phía sau động mạch chủ ngực phần xuống (hình
1.7 C, D).
1.3.3.4. Trung thất cạnh tim :
Khu vực trung thất này chứa đựng tim, màng tim, động mạch chủ ngực
phần xuống, thực quản, hệ thống tĩnh mạch azygos, ống ngực, thần kinh X,
thần kinh hoành, hạch, dây chằng dưới phổi, vùng cạnh cột sống và một phần
cơ hoành (hình 1.7).
Động mạch chủ ngực phần xuống và thực quản không thay đổi so với
các lát cắt phía trên.
Hệ thống tĩnh mạch azygos thường quan sát thấy ở vùng này. Tĩnh
mạch azygos có kích thước lớn, dễ quan sát hơn tĩnh mạch hemiazygos.
Ống ngực đi qua cơ hoành cùng với động mạch chủ chạy dọc phía
trước phải cột sống nó vượt sang trái ở ngang mức đốt sống ngực 6 và đốt
sống ngực 7, sau đó nằm dọc theo thành ngoài phía trái của thực quản và tận
hết ở vùng gần chỗ nối tĩnh mạch cảnh trong trái và tĩnh mạch dưới đòn. Kích
thước ống ngực chỉ vài mm nên khó quan sát thấy trên chụp cắt lớp vi tính.
Khi ống ngực dãn nó có tỷ trọng thấp. Màng tim thường quan sát thấy phía
trước bên trái của tim, độ dày dưới 3mm. Trung thất cạnh tim có hai khoang
quan trọng là góc tâm hoành và khoang cạnh cột sống
14
Góc tâm hoành là một vùng trung thất giới hạn phía sau trong là tim và
màng tim, phía ngoài là màng phổi trung thất, phía trước là thành ngực
Trung thất cạnh cột sống giới hạn phía trong là thân đốt sống, phía
trước ngoài có màng phổi trung thất, phía sau gồm một phần cung sau
thân đốt sống và xương sườn.
Hình 1.7. Trung thất cạnh tim

- Nang màng tim màng phổi
- Các khối u tuyến ức
- U tế bào mầm
- Thoát vị (Morgagni hernia)
Các khối ở khoang trước khí quản:
- Hạch di căn, hạch trong bệnh sarcoidosis, lymphoma, hạch nhiễm khuẩn.
- Nang khí quản, thực quản
16
- U khí quản; u trung mô
- Các khối tuyến giáp
- Bất thường mạch máu;
- U nang bạch huyết
Khu vực cửa sổ chủ- phổi:
- Các khối hạch: hạch ung thư phổi, hạch di căn, hạch trong bệnh
sarcoidosis, hạch nhiễm khuẩn, lymphoma
- U trung mô
- Bất thường mạch máu
- Nang nguồn gốc phế quản
Khu vực dưới chạc ba khí-phế quản và ngách thực quản-azygos:
- Các khối hạch trong ung thư phổi, hạch sarcoidosis, hạch lymphoma,
hạch di căn, hạch nhiễm khuẩn
- Nang nguồn gốc phế quản
- Dãn tĩnh mạch azygos
- Các khối u thực quản
- Khối thoát vị
Khu vực cạnh cột sống:
- Các khối u thần kinh
- Nang phế quản, thực quản
- Thoát vị màng nội tủy
- Tổ chức tạo máu ngoài tủy

18
trên [40],[41]. Khi khối u vỡ vào màng phổi gây hội chứng tràn dịch màng
phổi [16],[30]; Nếu vỡ vào màng tim gây tràn dịch màng tim và nặng hơn nữa
là hội chứng ép tim cấp [39],[40]; có thể gặp hội chứng vú to ở nam giới [22],
[25]; ngón tay dùi trống. Khi bội nhiễm bệnh nhân có sốt kèm theo hội chứng
nhiễm trùng.
Ở trẻ nhỏ theo báo cáo của Billmire and Grosfeld [18] triệu chứng
thường thấy: khò khè thở rít, hội chứng tĩnh mạch chủ trên, suy hô hấp cấp
trên trẻ sơ sinh[45]. Khối u đè ép tim, phổi gây ra tình trạng giảm sản hoặc
phát triển bất thường của các cơ quan này.
1.5.2. Xét nghiệm:
Các chất chỉ điểm u là những xét nghiệm cần thiết, cần làm có hệ thống
trên những bệnh nhân có u trung thất trước.
Alpha fetoprotein (AFP) và B-human chorionic gonadotrophin (Beta-
HCG), lactatedehydrogenase (LDH) là những chất chỉ điểm u được khuyến
cáo làm cho tất cả bệnh nhân có u trung thất trước [52].
Xét nghiệm này không chỉ có giá trị chẩn đoán khả năng ác tính của u
tế bào mầm mà còn có giá trị theo dõi tái phát sau điều trị.
Nghiên cứu của Matsubara và cộng sự (2001) chỉ ra rằng hàm lượng
CA-199 và CA-125 tăng cao khi u quái vỡ và nồng độ hai chất chỉ điểm u này
trở lại bình thường sau phẫu thuật [41].
Một số chất chỉ điểm u khác như: Catecholamines, adrenocorticotropic
hormone, 5-hydroxyindoleacetic acid, thyroxine…các chất này tăng cao khi
có hội chứng cận u, không có khả năng định hướng chẩn đoán ác tính, vì vậy
không cần thiết phải làm hàng loạt trên bệnh nhân u trung thất [ 32],[52].
19
1.5.3. Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh:
1.5.3.1. X quang ngực:
Hầu hết các khối u lành tính của trung thất trước đều không có dấu hiệu lâm
sàng, người bệnh chụp Xquang ngực vì các lí do khác không có liên quan đến u.

nghiên cứu: các tổn thương nhỏ; tổn thương không nằm vuông góc với mặt
phẳng cắt; tổn thương khu vực cửa sổ chủ phổi; đánh giá rốn phổi; trung thất ít
mỡ, phải giảm độ dày lát cắt. Độ dày lát cắt và tốc độ dịch chuyển của bàn thay
đổi tùy theo khả năng nhịn thở của bệnh nhân, vị trí, kích thước tổn thương.
Thuốc cản quang tiêm tĩnh mạch loại không ion hóa áp lực thẩm thấu thấp,
hàm lượng iode 350 – 370mg/ml. Liều dung 1ml – 1,5ml / kg cân nặng. Tốc độ
tiêm 2ml/giây. Chụp sau 20 giây kể từ khi bắt đầu tiêm cản quang.
Trường thăm khám thay đổi theo độ lớn của cơ thể và kích thước khu
vực cần đánh giá.
Thay đổi độ rộng của cửa sổ để có thể quan sát được phổi, mô mềm,
xương, mỡ.
Hình ảnh u quái trung thất trên CLVT
U quái thường thấy ở khu vực trước các mạch máu thuộc trung thất
trước, khoảng 20% khối u có thấy bất kỳ vị trí nào trong trung thất [28],[47].
Hình ảnh điển hình u quái của trung thất là hình ảnh khối không đồng
nhất, hỗn hợp nhiều tỷ trọng, mỡ, dịch, tổ chức và vôi [28],[33],[47],[61].
Hình ảnh này cho phép phân biệt với thymoma và lymphoma. Vôi hóa trong
u gặp từ 20% đến 80%. Mỡ trong u quan sát được trên 50%, đặc biệt mức
dịch - mỡ có độ đặc hiệu cao trong chẩn đoán u quái [28],[61].
21
U quái trưởng thành hay gặp dưới dạng một nang lớn do nhiều nang
nhỏ hợp lại (u nang bì), mặc dù có nhiều loại tỷ trọng trong nang nhưng thành
phần nang dịch là chủ yếu. Các vách, vỏ của nang ngấm thuốc cản quang sau
tiêm [15],[33],[44],[55].
Khối u ác tính thường là khối đặc, có bờ không đều, ranh giới không rõ,
xâm lấn đè ép các cấu trúc lân cận, tỷ trọng mỡ trong u ít gặp [14],[48].
Khi u quái vỡ có thể thấy nhu mô phổi liền kề xẹp, đông đặc. Màng
phổi màng tim có thể có dịch và xuất hiện tỷ trọng mỡ tại các khu vực này
[33],[44],[55].
Chẩn đoán u quái khi thấy khối đa tỷ trọng ở khoang trước các mạch

thương của phổi nằm sát trung thất, đánh giá sự liên quan, xâm lấn của khối u
với các cấu trúc liền kề, cũng như di căn của u trong lồng ngực [17], [43],
[54], [58]. Mặt khác CLVT giúp cho việc phân định chính xác các loại tỷ
trọng khác nhau bên trong khối u [14],[21],[48].
Độ nhậy của CLVT đối với chẩn đoán khối u trung thất trước tuy cao
nhưng độ đặc hiệu trong chẩn đoán phân biệt giữa u lành tính và ác tính là
thấp [14],[21],[56].
1.5.3.3. Cộng hưởng từ (CHT):
Cộng hưởng từ áp dụng trong thăm khám trung thất khi bất thường
trung thất nghĩ nhiều đến bất thường mạch máu; thăm khám các khối u trung
thất sau hoặc khối u thần kinh; phân biệt tổ chức xơ hay khối u tái phát sau
điều trị; người bệnh dị ứng thuốc cản quang không chụp được CLVT. Sau
cùng thăm khám CHT được sử dụng khi cần các thông tin hình ảnh mà CLVT
hạn chế [29],[36]’[59],[60].
23
Trong u tế bào mầm trung thất, CHT cung cấp các thông tin về vị trí,
bản chất và mức độ xâm lấn của khối u.
Tín hiệu của khối u quái thường không đồng nhất, phụ thuộc vào cấu
trúc u. Khối u có mỡ sẽ gây tăng tín hiệu trên T1, nếu khối u dạng kén sẽ có
tín hiệu thấp trên T1 và tăng tín hiệu trên T2. Các khối u ác tính thường là u
đặc, giới hạn không rõ, đè ép xâm lấn các cấu trúc xung quanh, ít thấy tín hiệu
mỡ trong u, khối u có vỏ dày ngấm thuốc đối quang mạnh [21],[44],[46],[47].
Những thông tin về hình ảnh phản ánh quá trình phát triển của tổ chức
u xuyên qua lớp vỏ u, thâm nhiễm tổ chức mỡ quanh u, cũng như các cấu trúc
liền kề u. Đây là những ưu điểm hình ảnh CHT hơn hẳn so với cắt lớp vi tính.
Với nhiều hướng cắt, người bệnh không phải chịu nhiễm xạ nên cộng hưởng
từ còn được sử dụng để theo dõi u sau điều trị [14],[46].
1.5.3.4. Siêu âm:
Các kỹ thuật siêu âm để đánh giá u trung thất bao gồm: siêu âm qua
thành ngực; siêu âm thực quản; siêu âm qua nội soi đường dẫn khí.

Về cơ bản kỹ thuật này chưa được sử dụng rộng rãi trong chẩn đoán u
quái trung thất[19],[20].
Gần đây kỹ thuật chụp cắt lớp bằng bức xạ positron (Positron Emission
Tomography – PET) kết hợp với chụp cắt lớp vi tính (PET/CT) với dược chất
phóng xạ FDG (18F-DeoxyGlucose) bắt đầu sử dụng để đánh giá giai đoạn
của u tế bào mầm trung thất[35],[46],[49], [51].
1.5.4. Các phương pháp khác:
1.5.4.1. Sinh thiết:
Sinh thiết các khối u của trung thất trước được thực hiện dưới hướng
dẫn của CLVT hoặc siêu âm. Đối với khối trung thất trước thì đường tiếp cận
khối u là các đường sát xương ức, cạnh xương ức hoặc chọc qua xương ức.
Cá biệt có thể chọc qua phổi và màng phổi để vào khối u. Hai biến chứng hay
gặp là chảy máu do tổn thương bó mạch vú trong và tràn khí màng phổi [32],
[48],[52].
25

Trích đoạn Xử lý số liệu:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status